SỰ KIỆN & VẤN ĐỀ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG DIỄN ĐÀN KINH DOANH VĂN HÓA XÃ HỘI THỊ TRƯỜNG ĐỊA ỐC THẾ GIỚI
Thứ Ba,  24/10/2017, 03:58 (GMT+7)
Đặt báo in

Nợ, trả nợ và khủng hoảng

TS. Vũ Quang Việt
Thứ Năm,  9/2/2017, 11:14 (GMT+7)
Chia sẻ:




Nợ, trả nợ và khủng hoảng

TS. Vũ Quang Việt

Nhà máy xơ sợi Đình Vũ đã ngừng hoạt động từ giữa năm 2015, bị âm vốn chủ sở hữu 528 tỉ đồng (tại thời điểm cuối năm 2015), chưa kể nợ phải trả gần 7.000 tỉ đồng.

(TBKTSG) - LTS: Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Luật Quản lý nợ công. Trên cơ sở đó, TBKTSG xin giới thiệu bài viết của TS. Vũ Quang Việt như một góp ý cho dự thảo này.

Nợ công của Việt Nam là vấn đề tranh cãi từ lâu. Nợ của Chính phủ và của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng và phát hành trái phiếu. Cả hai loại nợ này có lẽ cho đến nay ít dựa vào đánh giá khả năng trả nợ mà dựa vào kế hoạch chỉ tiêu (hay lệnh) của cơ quan chủ quản. Nợ chính phủ đòi hỏi tăng thuế để trả nợ. Nợ doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải giảm đầu tư vì áp lực trả nợ. Cả hai đều kìm hãm tăng trưởng trong nền kinh tế.

Một minh chứng điển hình là vấn đề nợ của Nhật Bản trong vài chục năm qua đã làm kinh tế Nhật tiếp tục trì trệ. Nếu không thế, phát hành tiền và tăng tín dụng để tài trợ sẽ gây lạm phát.

Sau một thời gian kìm hãm, nợ công ở Việt Nam có vẻ tăng mạnh, nhất là trong năm 2015 (xem bảng 3, dựa vào số liệu chính thức).

Thông tin trình bày ở dưới bao gồm nợ của Chính phủ (bao gồm cả nợ doanh nghiệp do Chính phủ bảo lãnh) - mà Bộ Tài chính gọi là nợ công và nợ của DNNN. Số liệu tới năm 2015 dựa vào các nguồn chính thức. Số liệu năm 2016 chủ yếu dựa vào ước tính của tác giả.

Khu vực công (public sector) theo định nghĩa của Hệ thống Tài khoản quốc gia của Liên hiệp quốc 2008 bao gồm cả Chính phủ và DNNN nên có thể coi nợ công là tổng của nợ chính phủ và nợ của DNNN. Thông tin này là cần thiết, dù Việt Nam vẫn chỉ chú ý đến nợ chính phủ (được gọi là nợ công), nhưng nếu DNNN nào phá sản thì việc trả nợ là do Chính phủ chịu trách nhiệm, dù Chính phủ tuyên bố không có trách nhiệm và nếu giả thiết cho phá sản, đất và tài sản công sẽ bị tịch biên và thuộc về chủ nợ. Vì thế khi phân tích về nợ công, không thể bỏ qua nợ của DNNN. Dù không đồng ý về định nghĩa, cách tốt nhất là Bộ Tài chính nên công bố cả nợ của DNNN vào Bản tin nợ công để các nhà phân tích tùy nghi sử dụng.

Số liệu tin cậy được cho thấy nợ chính phủ năm 2015 là 115 tỉ đô la Mỹ, bằng 59,5% GDP và ước tính nợ chính phủ năm 2016 lên tới ít nhất 131 tỉ đô la Mỹ, bằng 63,9% GDP. Nợ chính phủ tăng quá nhanh, ở mức gần 35% năm 2015.

Nợ của DNNN ở đây cho thấy toàn cảnh khoảng 3.200 doanh nghiệp với số nợ theo điều tra của TCTK năm 2014 là 4,9 triệu tỉ đồng (231 tỉ đô la Mỹ), gấp nhiều lần con số 1,5 triệu tỉ đồng mà Bộ Tài chính đưa ra chỉ cho một số tập đoàn và công ty lớn. Ước tính thêm cho thấy năm 2016, nợ của DNNN là 324 tỉ đô la Mỹ, bằng 158% GDP.

Như vậy, cộng cả nợ chính phủ và nợ DNNN sau khi trừ đi phần Chính phủ bảo lãnh trùng lặp, tổng số nợ năm 2016 là 431 tỉ đô la Mỹ, bằng 210% GDP.

Với tỷ lệ nợ lớn như trên, khó lòng nền kinh tế phát triển mạnh. Không những thế thời gian qua, do tăng tín dụng, tăng nợ, lạm phát cuối năm 2016 đã lên đến 4,7% và có khả năng tăng cao hơn trong năm 2017 (xem bảng 4). Điều dễ hiểu là tín dụng tăng mạnh. Lạm phát tăng như trên sẽ đẩy lãi suất lên, có thể tới ít nhất 8%/ năm vào năm 2017, trái ngược với tình hình lạm phát và lãi suất giảm cho đến cuối năm 2015 và những tháng đầu năm 2016. Nợ cao, lãi suất cao, khả năng trả nợ sẽ giảm. Kinh tế khó lòng mà phát triển mạnh, nếu không nói là có thể bị rơi vào khủng hoảng.

Vấn đề nợ, đặc biệt là nợ chính phủ ngày càng tăng là do chi ngân sách ngày càng tăng, đưa đến thiếu hụt ngân sách lớn, khoảng 5-6% GDP một năm. Thông tin trong quá khứ cho thấy thường tỷ lệ chi ngân sách vượt nghị quyết của Quốc hội 30-40% (xem bài trên TBKTSG số ra ngày 29-10-2015), mà tới hai năm sau mới biết. Như thế, khả năng kiểm soát chi gần như không có. Cách tốt nhất để kiềm chế trong một vài năm tới là đóng băng chi, và đóng băng tăng biên chế (dài lâu hay tạm thời), chỉ cho phép thay thế người về hưu ở vị trí cần thiết. Nếu làm được thế, thu ngân sách tăng, ít nhất theo tốc độ tăng trưởng kinh tế (6%), thiếu hụt ngân sách sẽ bị xóa bỏ nhanh chóng. Chỉ có thể kiểm soát chi tiêu nếu thống kê ngân sách cụ thể, cập nhật và theo đúng chuẩn quốc tế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

In bài viết In bài Gởi bài cho bạn bè Gửi bài cho bạn bè

Về bài viết Nợ, trả nợ và khủng hoảng của tác giả Vũ Quang Việt trên TBKTSG số 6-2017 ra ngày 9-2 vừa qua, tôi nghĩ số liệu mà tác giả trích dẫn của Tổng cục Thống kê (TCTK) về nợ phải trả của doanh nghiệp nhà nước là số liệu cộng dồn nợ phải trả của các doanh nghiệp này chứ không phải là nợ ròng bởi vì trong nợ phải trả (liability) của các doanh nghiệp có phần các doanh nghiệp nợ lẫn nhau (mua hàng trả chậm, ứng trước vốn, thanh toán muộn...). Ví dụ doanh nghiệp A nợ doanh nghiệp B 100 tỉ đồng, B lại nợ C 110 tỉ và C nợ lại A 90 tỉ nếu cộng dồn theo TCTK thì số nợ phải trả của doanh nghiệp là 200 tỉ, tuy nhiên nếu tính cả ba doanh nghiệp trên là một khối thì thực tế nợ phải trả của ba doanh nghiệp này chỉ là 20 tỉ. Chính vì cách tính này mà số liệu nợ phải trả của DNNN theo TCTK mới cao vọt như vậy.

Tác giả Vũ Quang Việt trả lời:

Trong thống kê, có sự liên hệ giữa hai cột như sau: Trong tích sản (asset) có thể có tiền mà doanh nghiệp cho vay, thí dụ như hàng bán trả chậm. Trong nợ phải trả (liability) chỉ có phần mà doanh nghiệp vay (có thể là vay ngân hàng, bán trái phiếu, tiền mua hàng trả chậm...). Nguyên tắc làm thống kê là ghi gộp (gross) chứ không ghi ròng hay thuần (net). Ròng hay thuần (netting) là cho tổng thể, thí dụ vốn tự có là tính thuần, lấy tổng tích sản (100) trừ đi phần nợ (80) và cơ bản có tính phân tích. Đây là nguyên tắc quốc tế, đã được ghi vào Hệ thống Tài khoản Quốc gia (System of National Accounts) (2008) (unstats.un.org/unsd/nationalaccount/docs/SNA2008.pdf ) Không ai lại lấy liability ở bên phải rồi trừ đi phần cho vay ở cột bên phải (thuộc tài sản tài chính). Chỉ có cách áp dụng chuẩn mực quốc tế mới có thể đem so sánh quốc tế về nợ (liability)/GDP. Bởi vì nợ thì phải trả nợ, và áp lực trả nợ là vấn đề chính cần phân tích. Giả dụ tôi nợ 100 đồng, trong khi người khác nợ tôi 90, thì tôi vẫn bị áp lực là trả nợ trên tiền nợ 100 đồng này. Tại sao lại ghi gộp mà không ghi ròng hay thuần? Như có thể thấy trong bảng thí dụ trên, nếu tích sản, như của ngân hàng chẳng hạn, là nợ cho vay, thì khi nợ xấu, mất khả năng thu lại được, giá trị của nó sẽ giảm. Thí dụ tài sản (nợ cho vay) mất một nửa giá trị, chỉ còn là 50, thì vốn tự có của ngân hàng (ý niệm ròng) trở thành âm, tức là -30. Đối với doanh nghiệp phi tài chính, giảm giá tài sản như địa ốc, cũng thường gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng tương tự. Ghi gộp cho phép ta có đầy đủ thông tin chi tiết để phân tích tình hình hiện tại và tương lai. Ghi thuần không cho ta biết đầy đủ thông tin.

 

 

Những bài báo của các chuyên gia "xịn" này mô tả đúng về thực trạng của kinh tế quốc gia. Cảm ơn TBKTSG đã đăng bài. Mong được đọc nhiều bài như vầy.

 
 

Dừng tuyển cán bộ nhà nước là việc làm cần thiết. Tuy nhiên, dừng toàn bộ cũng khó. Thứ nhất, vẫn có những phòng ban mới, những khu vực chuyên trách khát nhân lực. Muốn tăng chất lượng dịch vụ, muốn giảm thời gian thực hiện các dịch vụ công, thì phải tăng nhân lực. Thứ hai, hàng loạt trường đại học đặc thù chỉ phục vụ cho khối nhà nước, các trường đào tạo hàng chục nghìn sinh viên ra trường hàng năm, không tuyển mới, nguồn nhân lực này sẽ đi đâu?

Tôi nghĩ cần kết hợp sa thải nhân viên chất lượng yếu kém, khuyến khích về hưu sớm để tạo chỗ trống cho người mới và nâng cao năng lực. Đối với khu vực công, nếu thực sự giải quyết được vấn đề nhân sự thì sẽ giải quyết được nhiều vấn đề khác chứ không chỉ vấn đề thâm hụt ngân sách nhà nước.

Mời bạn đóng góp ý kiến
Tên(*)
Địa chỉ E-mail(*)
Nội dung(*)
Lưu ý : (*) là những thông tin bắt buộc.
* Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu.
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI-DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
GIAO THƯƠNG
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
BLOG
BẠN ĐỌC VIẾT
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
HẠ TẦNG - ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
HẠ TẦNG
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
GHI NHẬN
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng; Tổng thư ký tòa soạn: Nguyễn Vạn Phú.
Thư ký tòa soạn: Hoàng Lang, Thục Đoan.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Điện thoại: (84.8) 3829 5936; Fax: (84.8) 3829 4294.
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của website này. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế
Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.