Thứ Năm,  18/1/2018, 12:40 
Đặt báo in

Đóng cửa rừng - ngổn ngang suy ngẫm

Trần Mạnh Đương (*)
Chủ Nhật,  17/12/2017, 11:31 

Đóng cửa rừng - ngổn ngang suy ngẫm

Trần Mạnh Đương (*)

Việc chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cây công nghiệp liên doanh, liên kết, cho thuê đất, thuê rừng... có nhiều lỗ hổng, bất cập, kém hiệu quả và bị lạm dụng, thực hiện một cách méo mó. Ảnh: MAI LƯƠNG

(TBKTSG) - Tại hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó biến đổi khí hậu ngày 20-6-2016, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo kiên quyết thực hiện việc đóng cửa rừng tự nhiên, nghiêm cấm việc phá rừng lấy đất, chuyển rừng nghèo sang sản xuất cây công nghiệp. Đó là thông điệp cứng rắn, đầy quyết đoán nhưng sau đó, còn nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp.

Đóng cửa rừng, suy cho cùng bắt nguồn từ những hệ lụy của tình trạng rừng bị suy giảm nghiêm trọng, như không đảm bảo độ che phủ cho môi trường Tây Nguyên, rừng không còn gỗ hoặc không đáp ứng điều kiện khai thác theo chuẩn mực thương mại quốc tế... nhưng cũng do không quản lý, bảo vệ được rừng. Dù thế nào đi nữa, điều đó cho thấy sự thất bại trong chính sách, cơ chế quản lý, bảo vệ, phát triển rừng của Nhà nước kéo dài trong suốt nhiều thập kỷ qua.

Bài học thất bại từ quá khứ

Việc chuyển các lâm trường sang công ty lâm nghiệp được thực hiện theo Nghị định 200/2004/NĐ-CP từ năm 2004. Mười năm sau, Nghị định 118/2014/NĐ-CP về sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hoạt động của các công ty lâm nghiệp ra đời, thực chất chỉ là “bình mới, rượu cũ” mà chưa có sự thay đổi căn cơ về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp; về quyền và nghĩa vụ của một số chủ thể quản lý rừng (doanh nghiệp đại diện sở hữu chủ nhà nước; tổ chức, cá nhân khi được Nhà nước giao, cho thuê rừng tự nhiên...). Nhiều chính sách như khoán theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP; giao đất, giao rừng; chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cây công nghiệp; liên doanh, liên kết, cho thuê đất, thuê rừng... có nhiều lỗ hổng, bất cập, kém hiệu quả và bị lạm dụng, thực hiện một cách méo mó.

Ở góc độ mặt trái, có thể mô tả bức tranh hậu hai nghị định này như sau:

Một là, Nghị định 118 tạo nên làn sóng thứ hai chuyển giao diện tích rừng và đất rừng về địa phương quản lý với cường độ sóng cao hơn nhiều làn sóng thứ nhất theo Nghị định 200. Hệ quả tất yếu là diện tích rừng và đất rừng sụt giảm rất lớn, khả năng có thể giảm đến một phần ba tổng diện tích qua mỗi lần cải cách như ở Dăk Nông.

Tiến hành cuộc cách mạng về tư duy kinh tế rừng; tập trung nghiên cứu đổi mới có tính sáng tạo thể chế quản lý rừng là nhiệm vụ vô cùng bức thiết, có ý nghĩa thay đổi toàn diện bức tranh rừng đầy hiểm họa hiện nay.

Hai là, bài học đắt giá về quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp chuyển giao về địa phương vẫn chưa có giải pháp khắc phục; chưa có sự thay đổi khác biệt về chất trong các giải pháp, cơ chế để đảm bảo quản lý, bảo vệ được rừng khi tiếp tục giao cho các công ty lâm nghiệp giữ rừng theo nhiệm vụ công ích.

Ba là, tạo ra xu thế ưa làm nhiệm vụ công ích giữ rừng theo đơn đặt hàng nhà nước, không muốn giữ lại đất lâm nghiệp để trồng rừng khiến cho mục tiêu tăng độ che phủ trở nên khó hơn; đồng thời, cũng sẽ là lực cản, sức ì trong việc phát triển rừng bền vững, nâng cao hiệu quả khai thác rừng sản xuất trong điều kiện xuất khẩu gỗ phải có chứng chỉ FSC (Forest Stewardship Council).

Dấu ấn sâu sắc nhất đọng lại qua việc thực hiện hai nghị định nói trên là người vỗ tay, kẻ thở phào nhẹ nhõm khi thực hiện cơ chế chuyển giao theo sổ sách “đất rừng không quản lý được” từ các lâm trường, công ty lâm nghiệp về địa phương. Thực chất đó là những miếng xương xẩu do những khiếm khuyết trong công tác quản lý, bảo vệ của các chủ rừng nhà nước, đã bị người dân phá rừng lấn chiếm.

Đôi điều suy ngẫm

Rừng phải có chủ

Không một tổ chức, lực lượng nào có thể quản lý, bảo vệ được rừng nếu rừng không có chủ. Việc xây lô cốt bao quanh gốc để bảo vệ cây sưa giữa lòng thủ đô Hà Nội là bài học đầy thấm thía, dở khóc, dở cười. Rừng chỉ có chủ và trở thành tài sản gìn giữ khi và chỉ khi rừng là nguồn sinh kế hàng ngày và là cơ hội mang lại khá giả, thịnh vượng tương lai cho người quản lý, bảo vệ rừng. Thế nhưng, cơ chế, chính sách hiện nay không xác định được chủ rừng đích thực nên không kiến tạo được môi trường cho sự hình thành cũng như dưỡng chất cho sự sinh tồn, phát triển của chủ rừng - có nghĩa, không thể có nhiều chủ rừng đích thực mà chỉ là những “Ninja rừng” theo hàm ý trong truyền thuyết lịch sử Nhật Bản.

Đừng quên thảm họa từ nạn phá rừng

Không chỉ nhà lâm học, sinh thái - môi trường mà ngay cả nhà quản lý, nhà kinh tế cũng đều nhận thức được giá trị to lớn, đa dạng của rừng cũng như những thảm họa khốc liệt khôn lường của sự suy giảm tài nguyên rừng. Nhưng khi xây dựng chính sách, tính toán chi phí để quản lý, bảo vệ, ngăn chặn sự suy giảm tài nguyên rừng thì người ta lại quên đi những giá trị và hiểm họa ấy; đơn giản chỉ là phép trừ sơ cấp đến lạnh lùng, vô cảm, khi mới hôm qua đây, lũ lụt kinh hoàng đã mang đi hàng trăm mạng người và hàng vạn hộ dân trong cảnh màn trời chiếu nước. Tư duy kinh tế chỉ dừng ở phép tính trừ mà không hề biết đến bài tính cộng thêm những giá trị xã hội - sinh thái - môi trường, nhất là những tổn thất sẽ không xảy ra cũng như những khoản kinh phí khổng lồ không phải chi ra để khắc phục hậu quả, thiệt hại không gì bù đắp được về tính mạng con người và nguồn sinh kế của đại đa số dân nghèo vùng lũ lụt sau khi cái gọi là “thiên tai” đi qua.

Không thể có tư duy phó mặc

Còn nhớ vào thời điểm thực hiện Nghị định 200/2004/NĐ-CP, người ta đưa ra mức khoán bảo vệ rừng là 50.000 đồng/héc ta/năm. Để duy trì mức sống tối thiểu, một hộ gia đình phải nhận quản lý, bảo vệ đến cả 1.000 héc ta rừng! Nhưng không phải công ty lâm nghiệp nào cũng có đủ tiền để giao khoán bảo vệ toàn bộ diện tích rừng, vì còn phụ thuộc vào trữ lượng khai thác theo phương án điều chế rừng và chỉ tiêu xin khai thác được phê duyệt. Có thể thấy ngay trong cơ chế này, người ta đã bỏ ra ngoài phạm vi quản lý hàng vạn, thậm chí hàng trăm ngàn héc ta rừng tự nhiên, phó mặc cho trời, đất và lâm tặc bảo vệ! Bởi, không phải công ty lâm nghiệp nào cũng có và xin được chỉ tiêu khai thác tương ứng với nguồn chi trả quản lý, bảo vệ rừng.

Đóng cửa rồi cũng phải mở!

Khai thác là một biện pháp lâm học nhằm tái sinh rừng. Do vậy, cần phải có tầm nhìn chiến lược xây dựng và phát triển rừng bền vững theo các tiêu chuẩn của FSC để cây rừng có thể tham gia vào thị trường gỗ thế giới và gia tăng giá trị sản xuất; tham gia thị trường hạn ngạch xuất khẩu chứng chỉ giảm phát thải - CERs (Certified Emission Reduction) cũng là cơ hội nguồn lợi để nâng cao chuỗi giá trị từ rừng.

Tuy nhiên, những vấn đề này rất mờ nhạt trong các phương án sắp xếp lại các công ty lâm nghiệp theo Nghị định 118. Vậy, ai sẽ thực hiện và thực hiện như thế nào để phát triển rừng bền vững và gia tăng chuỗi giá trị toàn cầu trong cơ chế chuyển các công ty lâm nghiệp sang mô hình công ích, hợp đồng quản lý rừng theo đơn đặt hàng của Nhà nước?

Cần phải có cuộc cách mạng thay đổi triệt để về tư duy kinh tế và xây dựng chính sách lâm nghiệp trong lĩnh vực rừng tự nhiên cũng như đối với rừng trồng để thúc đẩy phong trào khởi nghiệp toàn dân hướng về “rừng vàng” theo quan điểm bài toán cộng như đã trình bày. Đồng thời, cần sáng tạo, nghiên cứu, xây dựng những chuẩn mực về hạch toán nhằm không chỉ phản ánh chi phí, giá trị rừng mà còn là công cụ để quản trị và kiểm soát theo tư duy kinh tế mới. Xây dựng Dự án nghiên cứu kế toán rừng Việt Nam (Forest Accounting Việt Nam) là một gợi ý, tương tự như Dự án nghiên cứu kế toán nước do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tài trợ.

Dưới góc nhìn quan hệ sản xuất, cần thấy rằng quan hệ sở hữu nhà nước đối với rừng tự nhiên có đặc điểm rất khác biệt với các đối tượng sở hữu khác. Điều này thể hiện ở chỗ, Nhà nước không phải bỏ vốn đầu tư để hình thành tài sản sở hữu, mà “Trời cho”, có nghĩa là rừng cần phải được chia sẻ lợi ích và cộng đồng trách nhiệm, định giá trước khi giao cho doanh nghiệp. Do vậy, quan hệ tổ chức, quản lý và phân phối phải thích ứng với đặc trưng của quan hệ sở hữu đó, hoàn toàn khác biệt với cơ chế quản lý và chính sách pháp luật hiện nay khi giao cho các doanh nghiệp nhà nước vừa làm đại diện chủ sở hữu với giá trị “0 đồng” (chưa định giá rừng) hoặc rất thấp, vừa là chủ thể với tên gọi “chủ rừng”. Tất cả mớ rối bòng bong đó đều liên quan đến thể chế quản lý rừng.

Ngoài cơ chế, giải pháp tổ chức quản lý, trong thể chế rừng, chúng ta phải biết rõ ai, tổ chức nào là “người chơi chính” - đó là chủ rừng đích thực, từ đó mới có thể tạo ra chính sách tốt. Thể chế lạc hậu, không tương thích với bản chất, quy luật vận động của đối tượng quản lý là nguyên nhân bao trùm làm cho hiệu lực quản lý rừng kém. Sở hữu nhà nước - dân gian hay gọi ví von “cha chung không ai khóc” - luôn là thách thức trong nghiên cứu khoa học quản lý thì nay càng phức tạp hơn khi đó là “rừng vàng” - tức của Trời cho.

Trước thực trạng đó, tiến hành cuộc cách mạng về tư duy kinh tế rừng; tập trung nghiên cứu đổi mới có tính sáng tạo thể chế quản lý rừng là nhiệm vụ vô cùng bức thiết, có ý nghĩa thay đổi toàn diện bức tranh rừng đầy hiểm họa hiện nay.

(*) Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật tỉnh Dăk Nông

In bài Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI-DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
GIAO THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
CHUYỂN ĐỘNG KINH DOANH
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
HẠ TẦNG - ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
HẠ TẦNG
DỰ ÁN
CHUYỂN ĐỘNG DOANH NGHIỆP
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH-BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG-DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó thư ký tòa soạn: Hồng Văn, Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294.
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của website này. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế
Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.