TÀI CHÍNH DIỄN ĐÀN KINH DOANH ĐÔ THỊ CÔNG NGHỆ XÃ HỘI NÔNG NGHIỆP VĂN HÓA GIẢI TRÍ
Thứ Năm,  23/10/2014, 05:23 (GMT+7)
Đặt báo in

 Sử dụng 3G như thế nào?

Thứ Ba,  20/10/2009, 11:00 (GMT+7)
Phóng to

Thu nhỏ

Add to Favorites

In bài

Gửi cho bạn bè

Sử dụng 3G như thế nào?

Ông Hoàng Ngọc Diệp đang trả lời bạn đọc trong một lần giao lưu trực tuyến về 3G do TBKTSG Online tổ chức hồi tháng 4-2009.

(TBKTSG Online) - Giữa tháng 10 vừa qua, VinaPhone đã chính thức cung cấp ra thị trường những gói dịch vụ 3G đầu tiên. Đồng thời, Viettel cũng đã trình diễn về 3G cho khách hàng của mình bước đầu làm quen với công nghệ thế hệ thứ 3 này.

Các nhà mạng được cấp phép 3G còn lại cũng đã có những động thái tích cực để chuẩn bị tung sản phẩm ra thị trường trong thời gian tới. Thị trường dịch vụ viễn thông Việt Nam hứa hẹn sẽ có nhiều sôi động khi công nghệ 3G được ứng dụng rộng rãi.

Chuyên mục Hỏi & Đáp, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đã mời ông Hoàng Ngọc Diệp, chuyên gia về quản trị viễn thông và công nghệ thông tin, giải đáp những thắc mắc của bạn đọc về vấn đề kỹ thuật cũng như việc sử dụng dịch vụ mới này.

Ngay từ bây giờ, bạn đọc có thể đặt câu hỏi xung quanh vấn đề nói trên ở hộp bên dưới. Câu hỏi của bạn đọc sẽ được khách mời trả lời hàng ngày.

Thời gian hỏi đáp cho vấn đề này sẽ được kéo dài từ ngày 20-10-2009 đến 31-10-2009.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online

Nguyễn Quan Thái : Ông có nhận định như thế nào khi các công ty TMĐT lớn như Ebay, Alibaba... đã vào thị trường Việt Nam? Cơ hội nào cho những giải pháp TMĐT mang thương hiệu Việt? 3G có lợi gì cho hạ tầng và giải pháp TMĐT? - 31/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Sự hợp tác của các tổ chức TMĐT dẫn đầu thế giới tại Việt Nam trong vòng mười mấy tháng qua là dấu hiệu rất tốt cho sự phát triển về lĩnh vực này. Tuy nhiên họ vẫn chỉ hoạt động trong một giới hạn nhỏ là thị trường trong nước mua hàng với nước ngoài, bên cạnh, họ còn phải hỗ trợ trong các hoạt động thanh toán giữa người mua trong nước với nhà cung cấp ở nước ngoài.

TMĐT trong nước vẫn chưa có thể hoạt động được, ngoại trừ một số hoạt động cầm chừng B2B (doanh nghiệp đến doanh nghiệp) nhưng phải “lách” vì môi trường hoạt động TMĐT vẫn còn đang phải kiện toàn ở nhiều mặt khác nhau.

Với sự hợp tác của các tổ chức này, Việt Nam sẽ trực tiếp học được những cách tiếp cận, quản lý và vận hành TMĐT một cách hiệu quả và thành công mà họ đã thực hiện được ở các nước đi trước chúng ta.

Vì nhu cầu xác định có tính pháp lý giữa người bán và người mua, khả năng thanh toán, bảo đảm an toàn và bảo mật, kết nối giao dịch giữa các ngân hàng, giao nhận hàng hóa và bảo đảm chất lượng sản phẩm, v.v… sẽ đòi hỏi sự kết hợp của nhiều lĩnh vực khác nhau có phối hợp một cách nhịp nhàng dưới sự điều phối bởi một[nhóm] “nhạc trưởng”.

Bên cạnh, sự phát triển của TMĐT chỉ có thể bắt đầu từ một phần hạ tầng cơ sở và hoạt động của CPĐT, cho nên TMĐT trong nước chưa thể đi trước CPĐT được. Để xây dựng sớm và hiệu quả nền CPĐT và TMĐT trong nước, có lẽ Chính phủ cần phải thay đổi cơ cấu ban quản lý, cách tiếp cận và các phương pháp triển khai, chứ không thể để tiếp tục như thời gian qua.

Mặt khác, vì các hoạt động chính TMĐT của một nước phần lớn là từ B2C (doanh nghiệp đến người tiêu dùng) trong nước, và vì vậy đây là cơ hội lớn cho các nhóm TMĐT trong tương lai. 3G là một trong những giải pháp kết nối phục vụ CPĐT và TMĐT rất hữu hiệu vì khả năng kết nối băng thông rộng, tính an toàn bảo mật cao, tính tiện lợi cho người sử dụng cao.

 
Nguyễn Long, TPHCM : Thưa ông nếu tôi định thiết kế các dịch vụ nội dung trên di động, vậy thời điểm hiện nay nên phát triển sản phẩm như thế nào, vì thực tế hiện nay người dùng mạng 2G vẫn là chính, ông có thể cho vài lời khuyên? - 31/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Tùy theo kế hoạch kinh doanh của bạn ngắn, trung hay dài hạn, và nguồn lực của bạn “dồi dào” tới mức nào mà hình thành các kế hoạch cho phù hợp.

Tuy nhiên, tôi tạm đề nghị như thế này: Với môi trường hiện nay chưa thật sự áp dụng được các nền CPĐT & TMĐT được thì với kế hoạch ngắn hạn bạn có thể tập trung vào các mảng như:

- Nội dung giải trí (game, phim vui, hình vui, câu đố, v.v…)

- Nội dung kinh doanh (thị trường chứng khoán, ngoại tệ, vàng, v.v…)

- Nội dung hỗ trợ hoạt động cá nhân (thời khóa biểu, kế hoạch trong ngày, nhắc hẹn, v.v…)

- Nội dung chuyên biệt (nấu ăn, bệnh trẻ em, v.v…)

- Nội dung dịch vụ (nhà hàng, khách sạn, lịch chiếu phim, v.v…)

Bạn cũng có thể tính tới các nội dung nâng cao hơn như:

- Lập các giải pháp cho đào tạo từ xa (ngoại ngữ, toán, v.v…)

- Lập các giải pháp theo dõi giao thông đô thị (chỉ đường, cập nhật lưu lượng giao thông) qua hình ảnh trực tuyến và thuyết minh.

Cho tới khi nào các mạng 3G ổn định và tùy theo những mạng nào có các tiêu chuẩn về cấp độ gói data theo các cấp QoS, bạn có thể phát triển các nội dung cao hơn như: theo dõi bảo vệ an ninh cho nhà dân, công sở; eWallet, v.v…

Chúc bạn sớm thành công.

 
Nguyễn Thanh Bá, TPHCM : Thưa chú, cháu rất thích cách chú trả lời về những vấn đề liên quan đến quản lý viễn thông. Cháu hiện đang theo học tại Học viện BCVT, chú có thể cho cháu lời khuyên nên theo chuyên ngành nào phù hợp với ngành viễn thông Việt Nam trong những năm tới không? Nếu cháu có điều kiện đi du học ở Úc thì học ngành này có phù hợp không? - 31/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Ngành Viễn thông thì rất lớn, ngành CNTT cũng rất lớn, và với sự hội tụ giữa hai ngành này (bây giờ gọi là ICT) thì rất lớn. Tùy theo cháu muốn chuyên sâu về lĩnh vực nào thì cháu tìm hiểu sâu về ngành đó trước.

Theo chú, hiện nay ngành ICT ở Việt Nam mình đang thiếu trầm trọng về Quản trị cho Viễn thông hoặc CNTTchưa nói tới ICT. Vì vậy, nếu cháu thích cháu có thể bắt đầu tiếp cận với Viễn thông bằng cách chịu khó thông qua từ khóa “telecommunication management” hay “telecommanagement”, hoặc với ngành CNTT thì từ khoá “IT management”, hoặc với ngành mới ICT thì dùng từ khóa “ICT management” để bắt đầu thu thập thông tin, đặc biệt là các “white paper” và tìm hiểu từ bây giờ. Cháu có thể hỏi các chuyên gia, kể cả chú, để được hướng dẫn thêm. Khi cháu biết tạm đủ để thật sự thích nó hay không và tới mức nào thì cháu mới quyết định nhé.

Ở Úc, hầu hết các trường đại học lớn đều có các ban chuyên về những lĩnh vực này, theo chú thì các trường như UNSW, Victoria Uni, Melbourne Uni, Queensland Uni,National Uni, Sydney Uni of Technology, v.v… đều rất tốt.

Chúc cháu sớm trở thành nhà quản lý thành công của ngành tại Việt Nam.

 
Lê Xuân Thủy : Thắc mắc của tôi là: các máy WCDMA do thừa hưởng tính năng từ GSM nên thường có SIM, các thông số vận hành của mạng sẽ được chứa trong SIM .Các máy điện thoại CDMA 3G không dùng RUIM (SIM), thông số của mạng để máy vận hành đã được cài đặt vào trong máy. Do cách làm này các mạng CDMA sẽ kiểm soát các máy 3G hoạt động trong mạng của mình và không thể có 2 máy có cùng 1 số điện thoại. Ngược lại WCDMA do dùng SIM nên khả năng bị hack SIM hoặc copy SIM là rất lớn. Nếu SIM trên máy WCDMA bị copy thì sẽ xảy ra nhiều rắc rối trong việc bảo mật và khả năng người dùng dịch vụ 3G bị "trộm cắp" là rất lớn. Vậy các mạng 3G WCDMA thường giải quyết vấn đề bảo mật này như thế nào? - 31/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Tương tự với các kết nối băng thông rộng IP khác, bên cạnh việc 3G có những bước xác định chủ thuê bao nằm ngoài chiếc SIM trước khi thực hiện một hoạt động đòi hỏi tính bảo mật cao, kể cả hoạt động tài chính của một thuê bao, các khả năng như Wireless VPN, Encryption, v.v... đều sẵn sàng để các mạng 3G đưa vào mạng để nâng cao tính bảo mật cho khách hàng của họ.

Việc “hack” vào một kết nối IP qua 3G sẽ khó hơn rất nhiều so với mạng truyền dữ liệu truyền thống vì các kết nối này còn dựa trên các tiêu chí di động khác. Lẽ tất yếu là mọi mạng kết nối đều có thể bị “hack” nhưng dễ hay khó mà thôi. Mặt khác, các giải pháp SIM cho 3G có hỗ trợ những khả năng dấu hoặc khóa thông số SIM. Khi thuê bao 3G bắt đầu sử dụng các dịch vụ cao cấp thì bên cạnh việc kết nối thoại/sms và internet đơn giải, thuê bao sẽ phải khai bao những password khác nằm ngoài máy trước khi được phục vụ.

Ở góc độ khác, vì lý do: (a) tạo tính bảo đảm an toàn cao nhất cho các kết nối dữ liệu 3G cho các máy đặc chủng; (b) Hỗ trợ cho các mạng 3G trong việc trợ giá đầu cuối mà không phải lo bị “bẻ khóa” máy, một số nhà sản xuất máy đầu cuối đã bắt đầu áp dụng “build-in SIM” cho các sản phẩm đầu cuối của họ. Đặc biệt là các thiết bị chuyên dụng như POS, secured GPS & monitors, v.v… họ đều đã áp dụng giải pháp này.

Bạn có thể vào www.sierrawireless.com tham khảo thêm về kết nối IP di động và “build-in SIM” nhé.
 
Lê Xuân Thủy : Bản chất của 3G như ông nói là: "đường truyền dữ liệu của 3G lớn gấp nhiều lần 2G/2.5G và luôn luôn kết nối băng thông rộng” đó sẽ là môi trường tốt cho các ứng dụng eBanking, eCommerce. Theo ông khi sử dụng các ứng dụng loại loại này trong môi trường 3G cần lưu ý như thế nào về vấn đề bảo mật, bởi các ứng dụng có liên quan đến vấn đề tài chính? - 31/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Theo kinh nghiệm từ các thị trường 3G đã phát triển, các thuê bao 3G này không nên lưu trên máy những thông tin quan trọng như password, số tài khoản ngân hàng, v.v… cho dù lưu qua "cookies" hay riêng biệt để bảo đảm không bị "hackers" lấy thông tin. Tương tự như các mạng máy tính hiện nay! Bên cạnh, các tổ chức nên (và cần thiết) áp dụng Wireless VPN cho các kết nối của mình để giảm thiểu rò rỉ thông tin mật.

Đây cũng là một góc độ rất quan trọng mà ngành VT-CNTT và 3G cần phải nghiên cứu và giáo dục cộng đồng nhiều hơn nữa để chuẩn bị cho CPĐT và TMĐT tại Việt Nam.

 
Duong Pham Tuan : Em cùng gia đình thắc mắc khi gửi tin nhăn để đăng ký sử dụng dịch vụ 3G của Vinaphone thì mình có phải tốn tiền cho tin nhắn đó và các phí để trả cho Vinaphone khi sau này sử dụng dịch vụ 3G thành công? - 30/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp: Bạn nên hỏi tổng đài phục vụ khách hàng của VinaPhone nhé. Đường dây nóng của họ tại 3 vùng là: 0912481111 (HàNội), 0918681111 (TP HCM), và 0914181111 (Đà Nẵng).
 
HUỲNH PHI LONG : Em đang làm để tài về 3G, xin cho biết tài liệu (địa chỉ trang web) nào nói về 3G (W-CDMA), chứ trên mạng em thấy tràn lan và nhiều thông tin khác nhau quá? - 30/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Đúng là trên mạng có rất nhiều thông tin về WCDMA. Tùy theo bạn muốn làm đề tài 3G ở (các) góc độ nào (hạ tầng mạng, tần số, thuật toán, dịch vụ, máy đầu cuối, v.v…) mà bạn thu hẹp nội dung bạn tìm. Trong các website liên quan đến đề tài này thì có lẽ bạn nên tham khảo tại các trang chính:www.itu.int, www.3gpp.org, www.umts-forum.org.

Nếu được bạn nên tìm hiểu thêm về CDMA 2000 nữa vì như vậy bạn có thể thấy rõ hơn 3G là gì tại www.3gpp2.org, www.cdg.org. Chúc bạn hoàn thành đề tài thành công.

 
Hoàng Duy : Ông có thể cho biết sự khác nhau của 3G trên các băng tần ra sao? Tại sao Việt Nam chỉ có một băng tần 3G, bằng tần này có ưu việt gì? - 30/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Trong tiêu chuẩn 3G có nhiều giải pháp công nghệ khác nhau (như đã trình bày tại các câu trả lời khác), và có nhiều tần số có thể đưa vào để hoạt động. Tuy nhiên, vì để có sự kết nối thông suốt giữa các quốc gia, khu vực khác nhau, ITU và các nhóm phát triển 3G trên khắp thế giới đã nghiên cứu và cùng quyết định chọn một số băng tần mà hầu hết các nước đều chưa sử dụng để triển khai và băng tần 1.9GHz đến 2.1 GHz là tốt nhất cho WCDMA. Vì vậy, Việt Nam cũng như các nước khác đều chọn băng tần này cho WCDMA.

Bên cạnh việc kết nối thông suốt với các nước khác, các nhà khai thác hưởng được những quyền lợi cụ thể như giá thành mạng và các máy đầu cuối rẻ hơn vì số lượng xuất xưởng của các nhà cung cấp sản phẩm ở cùng băng tần này nhiều hơn, cũng như có nhiều máy đầu cuối để khách hàng lựa chọn hơn.

 
Nguyễn Hoàng My : Tôi không nghĩ là dịch vụ này có thể phổ biến được. Theo tôi thì các nhà cung cấp, và ngay cả các chuyên gia như ông đều khá lạc quan. Vì nói gì thì thu nhập của người dân Việt Nam vẫn còn khá thấp. Còn chỉ có lớp trẻ không thì làm sao thị trường đủ lớn cho chừng ấy nhà cung cấp 3G? - 29/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp: Thật ra các nhà khai thác, các chuyên gia và ngay cả các lãnh đạo ngành đều không “lạc quan” như bạn nghĩ đâu. Nếu chỉ tập trung vào khách hàng cá nhân như tất cả các mạng 2G hiện này thì đúng như bạn nhận định là sẽ rất ít người có thu nhập cao đủ để sử dụng các dịch vụ cao cấp. Tuy nhiên, nếu các nhà khai thác chịu khó phân khúc thị trường thành nhiều nhóm khác nhau và xây dựng những dịch vụ phù hợp với từng phân khúc các nhóm khách hàng như chính phủ, an ninh, kinh doanh, giao thông, v.v… thì có thể chính các mảng thị trường này là nguồn doanh thu lớn cho hoạt động 3G tại Việt Nam hiện nay.
 
Nguyễn Quan Thái : Qua những nội dung ông chia sẻ, tôi thấy có một vấn đề lớn liên quan đến hai chữ "quản lý". Ông có lời khuyên nào cho các bạn trẻ có ước mơ trở thành một "nhà quản lý", một "nhà chiến lược" đủ tầm trong mảng viễn thông nói chung, 3G nói riêng và mảng công nghệ thông tin. Các bạn trẻ phải cần phải trang bị những gì. Môi trường nào tốt để các bạn học tập cách quản lý chuyên nghiệp, hiệu quả? - 29/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Đây là một đề tài rất dài và nhiều góc độ, cấp độ cộng hưởng nhau mới có thể trả lời bạn cho thấu đáo. Tuy nhiên,tôi sẽ cố gắng tóm tắt một số ý chính như sau:

“Nhà chiến lược” cần phải hội đủ những hiểu biết, kinh nghiệm về các giải pháp, môi trường kinh doanh, thị trường, các phương pháp tiếp cận.v.v… và có khả năng đánh giá được các sức mạnh, tiềm năng, khó khăn, rủi ro, v.v… để hình thành định hướng và hoạch định các chiến lược cho phù hợp với thực tế trong mọi góc độ.

“Nhà quản lý” thì phải có đủ kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý để biến các chiến lược thành những kế hoạch và triển khai cụ thể những kế hoạch này.

Trong lĩnh vực viễn thông - công nghệ thông tin (VT-CNTT) nói chung, hay 3G nói riêng, vì nước mình đi sau các nước phát triển rất nhiều năm, và hầu hết mọi công nghệ, sản phẩm, hệ thống.v.v… mà chúng ta đang sử dụng đều đến từ nước ngoài, cho nên chúng ta không cần phải “sáng tạo” gì nhiều cả, những “nhà chiến lược” trong ngành này chỉ cần lấy những kinh nghiệm thành công của các tổchức đi trước và sửa đổi (hay “nội địa hóa”) để phù hợp với môi trường trong nước là hay lắm rồi. Điều đáng tiếc là chưa mấy ai làm “nhà chiến lược” trong nước và nếu có thì có nhiều hiện tượng là tự tưởng tượng, tự suy tính và tự “rút kinh nghiệm” từ những thất bại không đáng có.

Về mặt quản lý cũng vậy, ở các nơi như Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, v.v… họ mướn chuyên gia nước ngoài về quản lý và chịu trách nhiệm cho các hoạt động đầu tư lớn của họ trong các lĩnh vực áp dụng công nghệ cao, nhất là cho ngành VT-CNTT nhằm giảm thiểu tối đa những rủi ro cũng như để học hỏi kinh nghiệm thành công của những người đi trước. Trong khi đó, hầu hết các hoạt động quản lý VT-CNTT ở Việt Nam thì mình cứ tự quản lý rất thiếu bài bản và vì hầu hết các khoản đầu tư là từ ngân sách chứ không phải là tiền túi riêng cho nên khá “thoải mái” công nhận là thất bại và sẽ “rút kinh nghiệm” từ những thất bại này hoặc tệ hơn nữa là đổ trách nhiệm thất bại cho “công nghệ”! Mà công nghệ thì không bao giờ có tiếng nói để tự bào chữa cho mình!

Để trở thành các nhà chiến lược hay quản lý, các bạn cần có một quá trình học hỏi, trải nghiệm với mọi nỗ lực, đam mê cho ngành mà mình muốn theo đuổi. Trong lĩnh vực VT-CNTT hay hẹp hơn là 3G, thì các bạn có thể bắt đầu tiếp cận từ bất kỳ góc độ nào của ngành nhưng luôn tự nhắc nhở và tự đặt mình vào thế của một nhà quản lý hay nhà chiến lược, khi đó mình sẽ phải đối diện với những thách thức gì, phải giải quyết những khó khăn này như thế nào. Nên nhớ để 3G thành công thì công nghệ chỉ tác động chừng 1/3 của sự thành bại, còn lại là những phạm trù khác như nhân sự, tài chính, thị trường, dịch vụ, hoạt động kinh doanh.v.v…

 
Nguyễn Quan Thái : Theo ý nội dung câu trả lời của ông đến Nguyễn Hoàng Vỹ thì chính phủ điện tử (CPĐT) và thương mại điện tử là hai cơ sở công nghệ thông tin (CNTT) để 3G hoạt động hiệu quả. Trong khi đó, cả hai lĩnh vực này đang còn loay hoay tìm đường ra. Sự loay hoay này chứng tỏ là chúng ta cần vượt qua những khó khăn để ngành này vươn lên. Sẵn cơ hội này, xin ông cho biết mình đang đối đầu với những trở ngại gì? Cách giải quyết nào là tốt nhất? Cám ơn ông rất nhiều. - 28/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Để giải thích một cách tường tận thì dài dòng lắm và như vậy thì có thể ra ngoài chủ đề chính về 3G này, vì vậy tôi giải một cách tóm tắc nhé.

Ở góc độ các nhóm công việc, mình có thể chia ra thành 6 nhóm liệt kê theo từng bước triển khai: (1) CSDL; (2)các giải pháp quản lý chính (mid-engines); (3) Các phần mêm ứng dụng (front-endapplications); (4) hệ thống quản lý bảo mật, an ninh và hệ thống mạng diện rộng;(5) hệ thống phần cứng; (6) đào tạo người sử dụng.

Trong các nhóm này, có nhóm rất phức tạp, có nhóm dễ hơn. Hầu hết mọi dự án CNTT ở Việt Nam đều làm khác, thường thì họ thực hiện những việc họ hiểu biết trước và để lại các nhóm khó để làm sau, chẳng hạn như mua phần cứng và thành lập mạng lại đi làm trước, rồi lại mua hay phát triển các phần mềm ứng dụng, v.v…

Vì vậy, hầu hết các dự án đều kéo dài và phát sinh quá nhiều khó khăn, thiếu đồng bộ, hay ngay cả hoàn toàn thất bại. Nếu nhìn vào các bước triển khai tổng thể lớn hơn thì mình có thể chia thành nhiều bước khác nhau, tùy theo mức độ lớn hay phức tạp của 1 dự án CNTT, có thể chung chung chia thành 11 bước theo tuần tự như sau:

(1) Xác định nhu cầu quản lý và kinh doanh; (2) xác định cấu trúc hệ thống; (3) xác định các giả pháp và cấu hình cụ thể; (4) xác định các môi trường thay đổi quy trình quản lý và kinh doanh; (4) xây dựng các quy trình triển khai; (5) xây dựng các tiêu chuẩn và quy trình đo lường chất lượng; (6) lên kế hoạch triển khai cụ thể; (7) xây dựng các giải pháp phần mềm và cơ sở dữ liệu (CSDL); (8) thử nghiệm và điều chỉnh hệ thống trong diện hẹp và hình thành hồ sơ đào tạo sử dụng; (9) xây dựng hệ thống mạng diện rộng, phần cứng và đào tạo; (10) đưa hệ thống vào hoạt động trong diện rộng và thay đổi quy trình quản lý và kinh doanh; (11) đánh giá thực tế, nghiệm thu và lên kế hoạch nâng cấp.

Trong góc độ này, chúng ta có thể thấy được qua nhiều trở ngại để triển khai theo tuần tự, các trở ngại chính là: (a) các nhóm chịu trách nhiệm các dự án CNTT hiện nay chưa có đủ hiểu biết và kinh nghiệm về quản lý và kinh doanh của tổ chức để có thể thực hiện được các công đoạn đòi hỏi các khả năng ngoài CNTT, chẳng hạn như 1, 2, 4; (b) quy trình này không phù hợp với quy chế đấu thầu hiện nay và thường các công đoạn quan trọng lại bị cắt bỏ; (c) ít có nhóm quản lý hay tư vấn quản lý dự án CNTT nắm rõ những quy trình BMP (Business Process Management) và các tiêu chuẩn đo lường chất lượng để áp dụng trong quá trình triển khai dự án. Mặt khác, có lẽ trở ngại lớn hơn đó là hiểu biết về CNTT của các cấp lãnh đạo các tổ chức chưa đủ để có thể quản lý và hỗ trợ các dự án CNTT được triển khai và áp dụng thành công đúng mức.

Để một dự án CNTT lớn thành công, hơn 60% của các nỗ lực lại không nằm trong phạm vi công nghệ và kỹ thuật mà lại là quản lý điều hành, thay đổi quy trình quản lý và kinh doanh cũng như nhân sự sử dụng. Cuối cùng, một trong những mấu chốt quan trọng nhất làm chậm sự phát triển của CPĐT và TMĐT là thiếu tính pháp lý cho văn bản số và giải pháp xây dựng CSDL mà thông tin của CSDL phải bảo đảm tính chính xác và có tính pháp lý để thay thế văn bản giấy! Mặc dù mình đã bắt đầu có các giải pháp kỹ thuật để thỏa mãn yêu cầu này, nhưng các tiêu chuẩn chưa được xác lập làm nền tảng và quy định pháp lý vẫn chưa rõ thì mình vẫn chưa có thể có những hoạt động CNTT qua eGovernment hay eCommerce hiệu quả và rộng rãi. Hy vọng tóm tắt trên phần nào giải thích được cho bạn về những trở ngại mà ngành CNTT trong nước đang đối đầu.

 
Trong Quoc : Ông có nói đến giải pháp "Kho số quốc gia" của Việt Nam để loại bỏ tình trạng sim rác. Nếu giải pháp này được áp dụng, sẽ dẫn đến việc khách hàng của các mạng cũ như Vinaphone và Mobifone có thể dễ dàng chuyển sang Viettel hoặc S-fone để được sử dụng giá cước rẻ hơn. Như vậy liệu có xảy ra tình trạng khuyến mãi không lành mạnh hoặc các hãng viễn thông sẽ vận động hành lang để giải pháp này không được đưa vào thực tế? - 28/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp: Dựa theo kinh nghiệm của các nước đã phát triển MNP thì hầu hết đều có những phản ứng mạnh hay yếu để ngăn chận hoặc làm chậm lại việc áp dụng giải pháp này bởi các nhà khai thác lớn trong nước họ Tuy nhiên, đối với các nước Tây Âu và tiên tiến khác trên thế giới thì không nhà khai thác nào dám phản ứng một cách lộ diện vì họ biết là chính phủ, quốc hội và người dân của nước họ đều ý thức cao về giá trị tài nguyên quốc gia và giá trị của chất lượng dịch vụ. Ở các nước này các hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ, bảo vệ người tiêu dùng và chống cạnh tranh thiếu lành mạnh, chống phá giá đều rất tốt nên các hoạt động khuyến mãi cho dù có cũng không đi quá trớn và ngược lại họ thường chú tâm đến cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ và uy tín. Ở Việt Nam, tôi hy vọng là sẽ không có những phản ứng thiếu tích cực này khi ngành quyết định đưa MNP vào để quản lý một cách minh bạch, công khai.
 
Nhi Nguyen : Với tình trạng sim rác chiếm lĩnh phần lớn kho số của các mạng hiện nay, nếu thuê bao có nhu cầu đăng ký dịch vụ 3G với số thuê bao mới để sử dụng song song cả hai số cũa cho 2G và mới cho 3G trên cùng 1 máy hay là phải có 2 máy? Đối với tình trạng thả lỏng quản lý kho số hiện nay theo ông thì giải pháp nào là tốt nhất để quản lý? - 26/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Thuê bao 2G và 3G:Trên nguyên tắc các thuê bao có sẵn của 2G có thể sử dụng các dịch vụ 3G của cùng một mạng với cùng một máy 3G đầu cuối. Khi sử dụng các dịch vụ của 2G thuê bao chỉ trả chi phí theo giá cước 2G và chỉ trả cước phí 3G cho các dịch vụ 3G, và ngay cả các thuê bao mới 3G cũng sẽ được hưởng các quy định cước 2G và 3G này. Vì vậy việc cần phải có 2 số thuê bao khác nhau cho 2G và 3G là không còn cần thiết. Tuy nhiên, nếu bạn nhất định phải có hai số riêng biệt cho 2G và 3G thì có lẽ bạn sẽ phải có hai máy riêng biệt vì cho tới nay, theo tôi biết là chưa có máy 3G nào có hỗ trợ 2 sim hoạt động độc lập và song song cùng lúc.

Kho số quốc gia: Quản lý kho số đã là việc“nhức đầu” cho rất nhiều quốc gia trước đây, vì kho số vừa là tài nguyên quốc gia và vừa là một trong những môi trường để tạo ra cạnh tranh lành mạnh hay không lành mạnh. Nếu phương pháp quản lý không đúng cách thì tình trạng thu ngân sách từ việc sử dụng tài nguyên quốc gia này sẽ không hiệu quả cũng như các nhà khai thác thoải mái “xả rác” sim để kiếm thu nhập mà không cần quan tâm đến chất lượng dịch vụ cũng như tính an ninh trong hoạt động của di động – và đây là tình trạng hiện nay của Việt Nam.

Trong khi các ngành tại Việt Nam loay hoay tìm giải pháp thích hợp thì nhiều nước trên thế giới đã giải quyết thành công xong bằng giải pháp Mobile Number Portability (MNP)! Cá nhân tôi và nhiều chuyên gia khác đã đề nghị nghiên cứu và áp dụng giải pháp MNP này từ cách đây hơn 5 năm qua! Đây là giải pháp quản lý tập trung kho số quốc gia: không một nhà khai thác nào quản lý riêng nữa hết. Mỗi số thuê bao đều có thể sử dụng cho bất kỳ mạng di động nào trong nước. Chủ thuê bao được quyền chọn mạng theo ý mình mà không cần phải thay đổi số thuê bao. Nhà khai thác có bổn phận quản lý khi khách hàng đăng ký thuê bao và trả tiền cho kho số nhà nước theo tháng hay theo quý.

Với giải pháp MNP này thì sẽ hạn chế được tình trạng lãng phí kho số qua các hoạt động “sim rác”, thuê bao không bị trói bởi một nhà khai thác vì cần giữ số thuê bao, từ đó, các nhà khai thác phải chú tâm đến chất lượng dịch vụ và phục vụ khách hàng, bên cạnh những con số thống kê về sự phát triển của ngành sẽ đi sát với thực tế hơn!

Hy vọng là các nhà quản lý sớm nhận biết là mình đi sau các nước và nên tìm hiểu về những giải pháp thành công của các nước đi trước mình để áp dụng cho thành công, đặc biệt là chuẩn bị cho môi trường quản lý hoạt động của các dịch vụ 3G trong các năm sắp tới.

 
Nguyễn Quan Thái : Em là người không biết về kỹ thuật, là một khách hàng muỗn trải nghiệp các ứng dụng của 3G. Xin ông cho biết sự khác nhau cơ bản về các gói dịch vụ giữa WCDMA tần số 2.1GHz và CDMA EVDO 800MHz. Có phải hai công nghệ trên hướng tới hai nhóm khách hàng khác nhau không? Em đang bâng khuân, không biết chọn nhà cung cấp nào, khả năng mở rộng trong tương lai. VCDMA có những ưu điểm gì khách hàng cần chú ý và CDMA EVDO có những tiện ích gì có thể mang đến cho khách hàng? Chúc Ông sức khỏe, vui vẻ, chúc cuộc giao lưu thành công và có nhiều kiến thức hay. - 25/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp: Câu hỏi của bạn rất hay!

- Khả năng truyền dữ liệu: Trên nguyên tắc, WCDMA & EV-DO không khác biệt gì nhiều trong góc độ truyền dữ liệu băng rộng, nếu chỉ là WCDMA thì tốc độ khá thấp so với EV-DO Rev 0, nếu nâng cấp từ WCDMA lên HSDPA hoặc HSUPA thì tốc độ mới có thể so sánh với EV-DO Rev 0 hay Rev A.

- Khả năng hỗ trợ ứng dụng: Cả hai đều tương tự như nhau, bên CDMA EV-DO thì đi trước khoảng 4 năm cho nên có khá nhiều ứng dụng và dịch vụ trên thị trường, trong khi đó WCDMA vẫn còn mới nên số lượng ứng dụng và dịch vụ chưa nhiều bằng. Tuy nhiên, khi 3G tại Việt Nam chín muồi thì trên nguyên tắc các mạng 3G này có khả năng cung cấp dịch vụ như nhau.

- Các hệ điều hành và quản lý dịch vụ: Ở góc độ nền quản lý dịch vụ thì WCDMA có nhiều hệ điều hành hơn CDMA EV-DO – Android, Window Mobile, Symbian (chính là cho máy Nokia), Monet, Stand-alone Java, v.v… trong khi đó EV-DO có BREW, Wipi (chỉ ở Korea) và stand-a-lone Java, vì vậy, với ứng dụng và dịch vụ của WCDMA có phần bị phân tán hơn CDMA EV-DO, do đó thuê bao ủa WCDMA cần phải tìm hiểu rõ hơn là nhà khai thác nào có dịch vụ gì hoạt động trên nền nào mà mình thích và như vậy thì có thể rắc rối hơn cho khách hàng, ngoại trừ trong trường hợp nhà khai thác WCDMA có chiến lược và quy trình quản lý máy đầu cuối rất rõ ràng (như NTT Docomo, Verizon, AT&T, Sprint, VodaFone, v.v…) chứ không để mở trôi nổi như 2G tại Việt Nam trong thời gian qua.

Hiện nay ở Việt Nam thì các nhà khai thác 3G, WCDMA và CDMA EV-DO vẫn còn quá mới, hay chưa bắt đầu, hoặc trong trường hợp S-Fone thì thiếu vốn đầu tư cho mạng và chất lượng truyền dẫn, cho nên khó mà đoán trước được các mạng 3G trong nước sẽ phát triển và mở rộng như thế nào. Tuy nhiên, trong thời điểm này bạn có thể sử dụng thử một số dịch vụ 3G cơ bản của VinaPhone hoặc nếu bạn sống và sinh hoạt tại các thành phố lớn có phủ sóng EV-DO thì bạn có thể sử dụng một số dịch vụ 3G qua nền BREW của S-Fone.
 
Vũ Bình Ánh : Tôi thấy gần đây người ta đề cập nhiều đến công nghệ 4G, trong khi các công ty di động cũng khẳng định hướng công nghệ này. Gần đây S-Fone cũng cho biết chờ đợi để tiến lên công nghệ này. Thực tế của công nghệ này hiện ra sao. Vì sao các công ty đều hướng đến LTE? - 25/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Có một số tổ chức, công ty ở nước ngoài thoải mái sử dụng tên “4G” ngay cả “5G” để tạo sự khác biệt cho các giải pháp của họ là tiên tiến hơn 3G và đây chỉ là một kiểu “tiếp thị” thiếu cơ sở khoa học. Theo tôi biết thì cho tới nay định nghĩa 4G mà ITU là tổ chức thẩm quyền quốc tế đang vẫn còn trong giai đoạn hình thành thì không thể nào có chuyện giải pháp “4G” nào hết. Vì cho tới khi định nghĩa này chính thức thành hình thì các yêu cầu kỹ thuật và công nghệ mới có thể được đưa vào các khung định của thế hệ mới này.

LTE là một giải pháp tiếp theo của 3G dựa theo nền WCDMA và CDMA 2000, LTE sử dụng công nghệ OFDMA nhưng có khác với WiMAX tuy là WiMAX cũng sử dụng OFDM, giải pháp OFDMA của LTE được phát triển dựa theo môi trường di động từ đầu, trong khi đó WiMAX được phát triển theo cách nâng cấp từ vô tuyến cố định lên di động, vì vậy WiMAX đã và đang vẫn còn gặp phải trở ngại với môi trường di động. Hơn nữa, với định hướng kế thừa từ 3G, LTE hỗ trợ 3G hoạt động song song với công nghệ mới này. Đây là một trong những lý do then chốt để một công nghệ mới có thể thành công lớn. Nếu không mọi đầu tư từ trước lại phải bị hoàn toàn lãng phí.

 
Ý Như, TPHCM : Ông có thể giải thích rõ hơn về giá trị của mạng 3G đối với các dịch vụ thương mại điện tử di động hay chính phủ điện tử mà gần đây được đề cập nhiều, trong khi các nhà cung cấp không thấy đề cập đến các dịch vụ này, vậy chúng có liên quan với nhau ra sao? - 25/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Một trong những yếu tố quan trọng nhất cho 3G thành công, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam – một thị trường có rất ít các hệ thống cáp đồng/cáp quang để đáp ứng nhu cầu truyền dẫn chất lượng cao và bảo mật cao, đó là hỗ trợ kết nối cho những hoạt động của chính phủ điện tử(CPĐT) và thương mại điện tử (TMĐT). Cứ tưởng tượng mạng kết nối là mạch máu trong người thì các nội dung lại là máu, thế thì nếu các hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ cho hoạt động CPĐT và TMĐT được xây dựng thì với chừng 2 triệu đường truyền dữ liệu (mà chất lượng và bảo mật rất thấp) thì làm sao các mạng truyền dữ liệu này có thể hỗ trợ được?

Mặt khác, nếu 3G có thể hỗ trợ được những kết nối vô tuyến chất lượng và bảo mật cao (với các cấp độ QoS khác nhau) mà các nhu cầu hoạt động của CPĐT và TMĐT vẫn chưa có thì các nhà khai thác 3G chỉ có thể cung cấp kết nối internet và các dịch vụ cơ bản về kết nối băng thông rộng thì cũng là một lãng phí.

Vì vậy, chúng tôi luôn nhắc nhở Nhà nước và các Bộ, Ngành lãnh đạo liên quan nên tích cực đẩy mạnh xây dựng các lĩnh vực này và hợp tác nhịp nhàng với các nhà khai thác 3G. Có lẽ cũng còn phải mất nhiều thời gian nữa vì theo cá nhân tôi nhận xét thì cách tiếp cận và phương pháp quản lý phát triển CPĐT và TMĐT trong nước hiện nay quá rối rắm và thiếu khoa học.

 
Hoàng Định Bảo : Ngoài tính tiện lợi của mạng di động thì việc truy cập internet qua 3G có khác gì với ADSL về chất lượng hay mặt nào khác hay không, ông có thể cho biết rõ hơn? Xin cảm ơn ông. - 24/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Bên cạnh tính năng trải phổ (Spread-spectrum) của WCDMA và CDMA 2000 tạo thêm tính bảo mật cao, và bên cạnh tính di động như bạn đưa ra, là hai khác biệt rất quan trọng và dễ nhận ra, kết nối 3G có thể hỗ trợ rất nhiều loại hình máy đầu cuối khác nhau, từ máy tính (như ADSL hỗ trợ) cho tới các PDA, Smartphone, và ngay cả những dòng máy chuyên dùng cho các ngành an ninh, tài chính, giao thông, v.v…

Trong khi đó sự kết hợp giữa thoại, SMS truyền thống vẫn cứ được duy trì, hơn thế nữa, với xu hướng phát triển “all IP” (tất cả đề dựa trên IP) thì thêm cơ hội đưa VoIP di động trên nền truyền dữ liệu băng thông rộng di động.

 
Huỳnh Đức Hùng : Có phải trong đợt thi tuyển vừa qua, 4 đơn vị trúng tuyển đều lên 3G bằng công nghệ WCDMA tần số 2,1 GHz? Vậy thiết bị dùng cho 3G của 4 mạng này giống nhau và có thể sử dụng SIM của mạng nào cũng được? - 24/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Trên mặt nguyên tắc, đối với các dịch vụ cơ bản của 2G & 3G như thoại, SMS, kết nối internet, video conference, v.v… các máy đầu cuối 3G đều có thể hỗ trợ bất kỳ mạng 3G WCDMA trên cùng tần số 2.1GHz.

Tuy nhiên, khi áp dụng cho các loại dịch vụ ứng dụng hay nội dung riêng biệt của từng mạng 3G này thì còn tùy ở mỗi mạng, họ quyết định vận hành các ứng dụng này trên nền (hệ điều hành) nào, chẳng hạn như nếu họ quyết định đưa các dịch vụ trên nền Window Mobile thì các máy chỉ hỗ trợ Symbian sẽ không hoạt động được, hoặc ngược lại. Hiện nay có khá nhiều hệ điều hành khác nhau như Window Mobile, Droid, Symbian, Monet, v.v… cho 3G WCDMA.

 
Lê Thanh Nhật : Em không biết đăng ký dịch vụ 3G như thế nào, em đang sử dụng mạng Viettel? - 23/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp: Theo tôi biết thì Viettel vẫn chưa chính thức cung cấp các dịch vụ 3G. Bạn nên liên lạc với Viettel để biết khi nào họ cung cấp để đăng ký sử dụng nhé.
 
Phuong Nguyen : Chúng tôi có ý định tham gia cung cấp các dịch vụ, ứng dụng và nội dung trên 3G, theo ông thì chúng tôi nên tiếp cận như thế nào để các nhà khai thác 3G hợp tác? Thời gian qua một số công ty đã cố gắng sản xuất máy đầu cuối trong nước nhưng hầu như họ đều thất bại hay gặp quá nhiều trở ngại. Với 3G, liệu chúng tôi có thể tính tới chuyện này hay không? Cách làm như thế nào là tốt nhất? - 23/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp: Cả hai câu hỏi của các bạn đều rất hay!

1. Về hợp tác khai thác các ứng dụng hay nội dung trên 3G: Hầu hết các mạng 3G lớn trên thế giới như Verizon, Sprint, NTT Docomo, Softbank, KTF, v.v… đều áp dụng phương pháp hợp tác với các nhóm viết và cung cấp ứng dụng và nội dung từ cộng đồng CNTT trong nước và ngay cả một số ứng dụng từ nước ngoài. Họ  chia sẻ thu nhập cho từng ứng dụng hay nội dung dựa trên doanh thu của từng ứng dụng hay nội dung này. Nếu nhà khai thác 3G nào trong nước cũng áp dụng phương pháp này thì các bạn có cơ hội cao đấy. Còn nếu các nhà khai thác 3G nào tự phát triển ứng dụng thì bạn khó lòng mà có cơ hội hợp tác với họ. Nếu một nhà khai thác 3G hợp tác thì bên cạnh việc có sẵn một số ứng dụng hay nội dung để trình bày, các bạn phải chuẩn bị cho các câu hỏi chính sau đây:

- Các ứng dụng này vận hành trên nền (hệ điều hành) nào? Nếu có thể vận hành trên nhiều hệ điều hành khác nhau thì càng tốt.

- Ứng dụng hay nội dung này chỉ cho download một lần hay cần phải hoạt động online? Nên nhớ nếu hoạt động online thì doanh thu của ứng dụng mới có nhiều và đều đặng.

- Dung lượng trung bình cần thiết để kết nối hoạt động ứng dụng hay nội dung? Ứng dụng càng cần ít dung lượng tải càng tốt.

- Đã được sử dụng trên mạng nào (trong hay ngoài nước) hay chưa? Nếu có và còn đang hoạt động thì rất tốt vì điều này chứng tỏ ứng dụng an toàn cho hoạt động của mạng và có thị phần, còn nếu chưa thì nhà khai thác cùng các bạn phải có được kế hoạch thử nghiệm chất lượng trước khi đưa ra khai thác chính thức để bảo đảm không ảnh hưởng tới chất lượng chung của mạng.

- Các bạn muốn hợp tác như thế nào? Thường thì có 2 lựa chọn:

(a) Chia sẻ doanh thu, trong trường hợp này bạn phải chuẩn bị để có được % chia sẻ tốt để tiếp tục phát triển ứng dụng cũng như hỗ trợ nhà khai thác tiếp thị phát triển thị trường. Ở nước ngoài thường thì phía các bạn sẽ được hưởng từ 60% - 80% doanh thu từ ứng dụng của các bạn.

(b) Bán cho nhà khai thác với giá 1 lần, có một số trường hợp các bạn và/hoặc nhà khai thác muốn mua bán ứng dụng dứt điểm một lần, như vậy thì các bạn cũng cần phải chuẩn bị cho mình trước. Trong thời gian qua, hầu hết các mạng 2G có rất ít các quan hệ để đưa dịch vụ và ứng dụng từ bên ngoài và phần lớn là để một số nhóm hoạt động khá trôi nổi dẫn đến việc hoạt động dịch vụ khá thiếu lành mạnh. Đối với 3G, những yêu cầu cơ bản về quản lý và kỹ thuật của một nhà khai thác cần phải được xây dựng và áp dụng theo đúng các tiêu chuẩn chất lượng hơn. Chẳng hạn như các gói data phải được phân cấp theo QoS rõ để mỗi loại hình data có giá cước khác nhau tùy theo chất lượng yêu cầu, hệ thống quản lý khách hàng và tính cước (CCBS) phải hỗ trợ được nhiều dịch vụ, nhóm khách hàng khác nhau, phải có hệ thống test các ứng dụng và nội dung để bảo đảm chất lượng và an toàn cho mạng, v.v…

Tôi hy vọng các nhà khai thác 3G sẽ quan tâm và đầu tư đúng mức còn nếu cứ như thời gian qua thì cũng sẽ rất khó cho các bạn để có cơ hội hợp tác và cùng phát triển 3G và CNTT trong nước.

2. Về hướng sản xuất máy đầu cuối trong nước cho nhu cầu 3G: Một số trở ngại lớn nhất của các nhóm đã cố gắng phát triển sản xuất máy đầu cuối trong nước là:

- Giấy phép để sử dụng công nghệ và được cung cấp chipset. Đầu tư để mua giấy phép rất đắt tiền và rất nhiều rắc rối. Thường thì các nhà sản xuất nhỏ thì việc bỏ ra vài triệu, vài chục triệu hay vài trăm triệu USD để mua giấy phép là việc khó khăn trong góc độ cân đối đầu tư.

- Chuyên sâu về công nghệ. Đối với một nhà sản xuất thì quan trọng nhất là việc tích hợp giữa chipset chính với các bộ phận khác nhau để hoàn thành một náy đầu cuối. Lắp ráp chỉ là giai đoạn cuối. Các nhà sản xuất trong nước vẫn cho tới nay vẫn chưa biết rõ về các công đoạn, quy trình này để sản xuất thành công những sản phẩm có chất lượng cao theo yêu cầu của thị trường.

- Chính sách nhà nước và các nhà khai thác. Trong lĩnh vực này, các chính sách hỗ trợ của nhà nước còn rất yếu và không rõ ràng. Bên cạnh, các nhà khai thác chỉ cần biết giá rẻ và chất lượng cao thì họ mới chịu hỗ trợ mua sản phẩm, chưa cần phải nhìn vào các góc độ tiêu cực khác rất ảnh hưởng tới các nhà sản xuất trong nước. Như vậy, các nhà sản xuất trong nước khó lòng mà phát triển từ nhỏ tới lớn, từ số lượng thấp đến số lượng nhiều đủ để giảm giá thành và cạnh tranh. Vì vậy, việc các bạn muốn hình thành sản xuất máy đầu cuối trong nước sẽ rất khó khăn đó. Tuy nhiên, với 3G thì các bạn có thể tiến hành được các việc sau:

a. Hợp tác với một số nhà sản xuất nước ngoài để lắp ráp trong nước. Chỉ tới mức SKD/CKD và test chất lượng trước khi xuất xưởng. Với hướng này sản phẩm sẽ được giảm thuế và các bạn sẽ có cơ hội bắt đầu tham gia xây dựng công nghiệp sản xuất trong nước.

b. Thiết kế và sản xuất các máy đặc chủng, sử dụng những modules đã tích hợp mọi chipset kể cả RF, power control, v.v… từ các nhóm cung cấp modules 3G, chẳng hạn như Sierra Wireless (hay Wavecom). Như vậy các bạn sẽ không phải đối đầu với giấy phép công nghệ, khả năng tích hợp chuyên sâu và cạnh tranh giá cả với các nhãn hiệu lớn.

Chúc các bạn thành công nhé.
 
Nguyễn Ngọc Minh Đan : Xin ông cho biết những dịch vụ mới dựa trên công nghệ 3G? Nó vượt trội thế nào so với 2G và 2,5G? Các dịch vụ chưa có ở Việt Nam trong giai đoạn này? Báo chí có thông tin về việc sóng 3G "đá" sóng 2G. Về mặt công nghệ có thể có chuyện này không? Nếu có, thuê bao 2G làm sao để khắc phục? - 22/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Đường truyền dữ liệu của 3G lớn gấp nhiều lần 2G/2.5G và được phân định hoạt động liên tục từ một phần của hạ tầng mạng và tài nguyên tần số của mạng này, nên trên nguyên tắc dữ liệu của 3G là “luôn luôn kết nối băng thông rộng”, cùng với công nghệ như trải phổ và dữ liệu gói IP, cho nên 3G có thể hỗ trợ rất nhiều loại hình dịch vụ khác nhau.

Tại các nước như Nhật, Hàn Quốc và Mỹ thì mỗi nhà khai thác cung cấp từ vài trăm đến vài ngàn loại hình dịch vụ cùng lúc cho nhiều thể loại khách hàng. Từ các nhu cầu cơ yếu của ngành an ninh đến tài chính ngân hàng, từ các nhu cầu quản lý định vị của các đội xe chuyên nghiệp đến các tổ chức kinh doanh du lịch, từ nhu cầu hoạt động kinh doanh cho đến nhu cầu giải trí của mỗi thuê bao cá nhân, v.v...

Công nghệ 3G (và các nền công nghệ di động trong tương lai) đã thực sự hội tụ viễn thông và CNTT, từ đó, giới hạn của dịch vụ cho mọi phân khúc thị trường trong một xã hội gần như không còn nữa. Có lẽ giới hạn chỉ nằm ở khả năng của nhà khai thác hợp tác với cộng đồng phát triển ứng dụng và nội dung đưa các dịch vụ này đến thị trường và thiết bị đầu cuối có hỗ trợ các dịch vụ này hay không. Vậy thôi.

Việc đáng tiếc xảy ra với VinaPhone có thể vì một hay nhiều lý do khác nhau, nhưng nhất định với môi trường 3G (WCDMA) tại tần số 2.1GHz hiện nay ở Việt Nam, việc ‘sóng 3G “đá” sóng 2G’ là không thể có. Vì vậy, nhà mạng phải có bổn phận khắc phục cho các thuê bao 2G chứ các thuê bao không phải làm gì hết.

 
Nguyễn Hoàng Vỹ : Thưa ông, băng thông rộng di động trên nền 3G liệu có trở thành loại hình dịch vụ cạnh tranh mạnh mẽ với các dịch vụ băng thông cố định hay không? Giả thử, các dịch vụ công nghệ thông tin quan trọng như Chính phủ điện tử, Thương mại điện tử - những nền tảng giúp 3G phát huy thế mạnh - cứ phát triển quá chậm chạp như lâu nay, thì có các tác động gì lớn đến mạng 3G hay không? - 22/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Câu hỏi của bạn rất thú vị! Tôi sẽ đi “lạc” vào góc độ CNTT chút ít để trả lời rõ hơn, và CNTT cũng là một phần tất yếu để 3G thành công.

Ở các nước phát triển với số lượng cáp (cáp đồng & cáp quang) đã đạt trên 80% tổng số nhà dân, cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, thì 3G có phần nào cạnh tranh với băng thông rộng cố định nhưng rất ít, vì vậy các nhà khai thác 3G phải tập trung vào các dịch vụ truyền dẫn có yêu cầu di động cao để tạo doanh thu chính. Trong khi đó ở các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam, vì số lượng đường truyền cố định còn rất ít – chừng 6 triệu đường truyền – và chỉ có khoảng 50% trên tổng số đường truyền này không (hoặc chưa) thể hỗ trợ được băng thông rộng vì nhiều lý do khác nhau, vì vậy, nhu cầu kết nối băng thông rộng cơ bản và có chất lượng nâng cao đều rất lớn.

Hơn thế nữa, nếu so sánh giá đầu tư (ban đầu và lâu dài) giữa băng thông rộng vô tuyến với cố định thì rõ ràng là băng thông rộng vô tuyến rẻ, hiệu quả và chiếm ít thời gian triển khai hơn cố định rất nhiều. Cho nên các dịch vụ truyền dữ liệu băng thông rộng của vô tuyến (WCDMA, CDMA EV-DO, Wifi, WiMAX, v.v…) sẽ tích cực hỗ trợ phát triển lĩnh vực này rất hiệu quả chứ không cạnh tranh với cố định. Và đây cũng là một phân khúc thu nhập khá quan trọng cho các nhà khai thác 3G ở Việt Nam mà các nhà khai thác 3G tại các nước phát triển khó lòng có được.

Mặt khác, Chính phủ Điện tử, Thương mại Điện tử, hay nói chung là các hoạt động chính yếu của CNTT (kể cả eHealth, eLearning, eSecurity, v.v…) đều phải có sự phát triển đồng bộ và hợp lý. Trong vòng 10 năm qua, các lĩnh vực này ở Việt Nam cứ vẫn phải loay hoay tìm cách phát triển nhưng vẫn chưa tới đâu cả. Tôi và nhiều anh em chuyên gia khác đã liên tục cảnh báo cách tiếp cận, phương pháp quản lý triển khai, quy trình triển khai, v.v… đều thiếu bài bản và không hợp lý, nhưng có lẽ các tổ chức đầu ngành vẫn chưa thấy và vẫn cứ còn “rút kinh nghiệm… thất bại”! Vì vậy, cho dù như bạn đưa ra – các lĩnh vực này sẽ là nguồn doanh thu rất lớn cho các nhà khai thác 3G – nhưng chỉ khi nào các lĩnh vực này phát triển đúng mức thì nhu cầu mới có! Khi nào? Tôi chịu thua, không thể đoán trước được vì cho tới nay tôi biết được là ngành vẫn chưa có một quy hoạch tổng thể và chi tiết để dựa theo mà phát triển.

Khi có cơ hội phân tích sâu hơn về CNTT, cách tiếp cận, các quy trình và các phần tử “xúc tác” cơ yếu để hình thành ngành CNTT trong nước thì tôi sẽ sẵn sàng chia sẻ với bạn.

 
nguyen thi bich ngoc : Khi dùng 3G mình phải dùng sim khác với dịch vụ 2G phải không? - 22/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp: Tùy theo mỗi nhà khai thác, tuy nhiên thông thường thì các nhà khai thác 3G sẽ yêu cầu khách hàng đăng ký sử dụng các dịch vụ 3G sẽ phải đổi sim hay nâng cấp thông số của sim vì 3G cần có nhiều thông tin để quản lý hơn là 2G.
 
Đoàn Huỳnh Viết Trung : Đăng ký sử dụng dịch vụ 3G ở đâu, thủ tục như thế nào, cước phí bao nhiêu? - 21/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp: Hiện nay chỉ có VinaPhone (WCDMA ở tần số 2.1GHz) và S-Fone (CDMA EVDO ở tần số 800MHz) là hai mạng 3G duy nhất tại Việt Nam đang chính thức hoạt động cung cấp một số dịch vụ 3G. Nhưng cả hai mạng này đều chưa phủ sóng toàn quốc. Vì vậy, đề nghị bạn nên tìm hiểu trực tiếp từ hai nhà khai thác này để biết là nơi bạn sinh hoạt có phủ sóng 3G hay chưa, họ có những dịch vụ gì phù hợp với bạn, giá cước dịch vụ cho từng loại hình dịch vụ và cách thức đăng ký sử dụng các dịch vụ 3G của họ nhé.
 
dinh cong duc : Trên thị trường đã có điện thoại 3G chưa? Nếu có thì giá bao nhiêu và loại gì? - 21/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Trên thị trường  đã có một số máy di động 3G (WCDMA), tuy nhiên trước khi mua một chiếc, bạn nên tìm hiểu nó có khả năng hỗ trợ các dịch vụ 3G mà bạn cần hoặc thích từ một nhà khai thác hay không trực tiếp từ nhà khai thác này.

Hiện nay, chỉ có VinaPhone là nhà cung cấp một số dịch vụ 3G cơ bản tại các tỉnh/thành mà mạng này đang phủ sóng. Xem http://vinaphone.com.vn/news/newsDetail.do?newsId=16626.

Giá tiền thì tùy mỗi loại máy, từ giá thấp có hỗ trợ của nhà khai thác chừng 1,6 triệu đồng lên tới hơn 20 triệu đồng mỗi chiếc.

Còn nếu bạn muốn biết các dịch vụ 3G (CDMA EV-DO) cũng như các sản phẩm hiện có thì bạn có thể liên lạc với S-Fone. Xem http://www.sfone.com.vn/webportal/index.do.

 
Vân Anh : Xin ông cho biết 3G là gì? Dịch vụ 3G giống và khác như thế nào so với dịch vụ điện thoại di động đang sử dụng rộng rãi hiện nay? Giá cước sử dụng 3G có chênh lệch nhiều so với mạng di động thông thường hay không? Xin cảm ơn ông. - 21/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Như đã được giải thích trên nhiều diễn đàn và báo chí trước đây, 3G (third generation technology) là tiêu chuẩn truyền thông di động băng thông rộng thế hệ thứ 3 theo khung định IMT-2000 của ITU (Liên minh Viễn thông Thế giới). 3G gồm có 6 chuẩn về công nghệ: WCDMA (cũng được gọi là UMTS), CDMA 2000, TD-SCDMA, EDGE, FDMA/TDMA (hay DECT), IP-OFDMA TDD (hay WiMAX di động, chuẩn công nghệ WiMAX này được đưa vào khung định IMT-2000 vào cuối năm 2007).

Các công nghệ 3G đều hỗ trợ truyền dữ liện vô tuyến di động băng thông rộng, và đây là điều khác biệt chính giữa 3G và thế hệ trước 2G. Hiện nay chỉ có hai chuẩn công nghệ được ứng dụng kinh doanh rộng rãi là WCDMA và CDMA 2000 trên khắp thế giới.

Các dịch vụ hiện nay tại Việt Nam đều là thoại, tin nhắn ngắn (SMS) và một số dữ liệu băng thông hẹp của 2G (và 2.5G), trong khi đó các nhà khai thác 3G sẽ tận dụng được tính năng truyền dữ liện vô tuyến di động băng thông rộng và bảo mật cao để cung cấp các dịch vụ cần băng thông lớn để truyền tải, chẳng hạn như video phone, quản lý định vị đa điểm, thương mại điện tử di động, v.v…

Công nghệ và giá cước của các dịch vụ của một nhà khai thác rất ít liên quan với nhau. Tùy theo chiến lược đầu tư, kinh doanh và các mô hình dịch vụ của mỗi nhà khai thác 3G mà giá cước của từng dịch vụ sẽ được họ quyết định. Tuy nhiên, tại Việt Nam với sức mua của thị trường còn hạn chế thì tôi tin là các nhà khai thác 3G sẽ đưa ra giá cước phù hợp với từng dịch vụ cho từng phân khúc khách hàng.
 
tran thu thuy : Điện thoại nào có thể sử dụng 3G? - 21/10/2009
Ông Hoàng Ngọc Diệp:

Đối với các nhà khai thác 3G vừa được nhận giấy phép tại Việt Nam thì hầu hết mọi điện thoại 3G hoạt động trên tần số 2.100MHz đều có thể kết nối được.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm và hiểu biết của riêng cá nhân tôi thì 3G có khác nhiều với 2G là vì 3G có nhiều loại hình dịch vụ khác nhau được vận hành trên các nền khác nhau (như Window Mobile, Symbian, Droid, Monet, v.v…) vì vậy, sự lựa chọn các loại hình dịch vụ và đầu tư của từng nhà khai thác sẽ quyết định cho các loại điện thoại nào cho phù hợp. Vì vậy, tôi hy vọng là mỗi nhà khai thác 3G sẽ có khuyến cáo đến thị trường những loại điện thoại nào là đạt yêu cầu cho các dịch vụ họ cung cấp.

 
Chia sẻ với bạn bè:
     
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Thị Ngọc Huệ; Tổng thư ký tòa soạn: Nguyễn Vạn Phú.
Thư ký tòa soạn: Hoàng Lang, Thục Đoan, Huỳnh Hoa.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Điện thoại: (84.8) 3829 5936; Fax: (84.8) 3829 4294.
Ghi rõ nguồn "Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup. Phát triển bởi Công ty Mắt Bão.