SỰ KIỆN & VẤN ĐỀ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG DIỄN ĐÀN KINH DOANH VĂN HÓA XÃ HỘI THỊ TRƯỜNG ĐỊA ỐC THẾ GIỚI
Chủ Nhật,  24/9/2017, 10:03 (GMT+7)
Đặt báo in

Ký ức người mở đường

Hải Lý ghi
Thứ Năm,  15/7/2010, 10:32 (GMT+7)
Chia sẻ:




Ký ức người mở đường

Hải Lý ghi

Ông Lê Văn Châu.
(TBKTSG) - LTS: Lần đầu tiên ông trả lời phỏng vấn TBKTSG về chứng khoán là năm 1997 tại Hà Nội. Khi ấy ông bảo chưa có gì để nói, Nhà nước chỉ mới đang xây dựng đề án thị trường vốn, chứng khoán còn xa. Mười ba năm sau, trước thềm kỷ niệm 10 năm thị trường chứng khoán (TTCK), tại TPHCM ông Lê Văn Châu, vị chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), một trong những người đặt viên gạch xây nền chứng khoán Việt Nam, đã dành thời gian kể với độc giả TBKTSG ký ức về những ngày đi mở đường.

“Tính chất giai cấp của thị trường chứng khoán là gì?”

Tháng 10-1993, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á nối lại quan hệ tín dụng với Việt Nam. Từ đó các nước khác bắt đầu cho Việt Nam vay vốn trở lại. Thời gian tiếp theo các quốc gia dự hội nghị Câu lạc bộ Paris quyết định xóa 50% nợ (khoảng 500 triệu đô la Mỹ) cho Việt Nam.

Vị trí đặt quảng cáoTại hội nghị tài trợ cho Việt Nam lần đầu tổ chức ở Paris các nước cam kết tài trợ 2 tỉ đô la Mỹ. Trong bối cảnh đất nước ở giai đoạn đầu mở cửa, mấu chốt là làm thế nào huy động được vốn trong - ngoài nước để phát triển kinh tế. Câu chuyện về TTCK được nhen nhóm lên từ đó.

Trong ký ức của tôi, đồng chí Võ Văn Kiệt là một trong những người ủng hộ đầu tiên việc chuẩn bị ra đời TTCK. Trong cuộc họp đầu tiên để Chính phủ báo cáo với Bộ Chính trị phương án phát triển TTCK (mà tôi được giao trình bày), nguyên cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng đã hỏi tôi: “Đồng chí hãy nói cho Bộ Chính trị nghe tại sao chúng ta là nước xã hội chủ nghĩa lại phải xây dựng TTCK”. Tiếp đó Tổng bí thư Đỗ Mười hỏi: “Tính chất giai cấp của TTCK là gì?”.

Tôi nói nhận thức của mình một cách ngắn gọn: “TTCK là sản phẩm của loài người. Nếu bất kỳ chế độ xã hội nào biết vận dụng TTCK để tạo ra nguồn huy động vốn trung, dài hạn cho chế độ xã hội đó nhằm mục đích phát triển kinh tế, thì TTCK sẽ đưa lại lợi ích phục vụ đúng theo mục tiêu, yêu cầu của quốc gia đó”. Sau đó, Bộ Chính trị quyết tâm xây dựng TTCK, nhưng làm cách nào để nó thành hình hài thì còn phải bàn thảo thêm.

Tháng 11-1993, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ra quyết định thành lập Ban Nghiên cứu xây dựng và Phát triển thị trường vốn. Mười tháng sau khi ban này ra đời, Pháp lệnh chứng khoán và TTCK được chuẩn bị soạn thảo. Thời gian đó Viện Kinh tế TPHCM cũng đã xây dựng đề án phát triển TTCK. Hội đồng Tài chính tiền tệ quốc gia của Văn phòng Chính phủ cũng đưa ra một đề án. Bộ Tài chính nghiên cứu các vấn đề chứng khoán. Chính phủ quyết định lập ban soạn thảo do một thứ trưởng Tài chính làm trưởng ban. Đề án mô hình TTCK chủ yếu dựa vào đề án của NHNN làm sườn chung, cuối cùng, tiến đến hiện thực.

“Sờ voi”

Sự phát triển của TTCK là sự chuyển biến về mặt tư duy là chính. Việc niêm yết của doanh nghiệp là quá trình chuyển biến tư duy.
Trên thực tế, mô hình TTCK được thiết kế cho Việt Nam không theo mô hình cụ thể của quốc gia nào. Trong các buổi họp Chính phủ, có ý kiến khác nhau. Cũng phải nói thật, vào thời điểm đó, các nghiên cứu của ta về chứng khoán vẫn chưa tập trung. Thử ví TTCK là một con voi và những người nghiên cứu là người sờ voi, thì xảy ra hiện tượng: người sờ được tai, người sờ được đuôi, đầu, vòi voi, lưng voi… Ai cũng có quyền nói đã sờ được voi, nhưng thực sự một con voi hoàn chỉnh thế nào thì chưa ai biết đầy đủ, chính xác.

Chúng tôi hiểu rằng muốn có TTCK với đề án, nội dung cụ thể, cần một tổ chức chuyên trách. Đề án lập UBCKNN đã bắt đầu như thế.

Những vụ trưởng 30 tuổi

Hình thành UBCKNN là cả một quá trình gian nan. Ủy ban trực thuộc Chính phủ, có bốn ủy viên kiêm nhiệm là bốn thứ trưởng Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Tư pháp và Phó thống đốc NHNN. Thời gian đầu làm Chủ tịch Ủy ban, tôi vẫn kiêm nhiệm Phó thống đốc NHNN.

Hình thành các vụ, cục của UBCKNN là câu chuyện thú vị. Sau khi nghiên cứu mô hình quản lý của Mỹ và các nước, chúng tôi lập ra 12 vụ, cục. Quan trọng là con người và nhiệm vụ được giao. Phương châm của chúng tôi rất rõ ràng: chứng khoán là ngành kinh tế bậc cao, đòi hỏi sức trẻ, trí tuệ, nhanh nhạy mới có thể điều hành thị trường. Ngay từ đầu tôi chỉ lấy một số nhân sự ở các bộ, ngành về làm nòng cốt, còn lại tuyển chọn. Đợt đầu được 30 người giỏi ngoại ngữ và thông thạo nghiệp vụ tài chính ngân hàng. Trong đội ngũ ban đầu, có những vụ trưởng, vụ phó chỉ trên dưới 30 tuổi, trưởng phó phòng 25-30 tuổi. Các đợt tuyển sau nâng số nhân viên UBCKNN lên khoảng 200 người. Ngoài đưa nhân viên đi học ở nước ngoài, chúng tôi mời chuyên gia nước ngoài về đào tạo cán bộ tại chỗ. Các chuyên gia bắt tay chỉ việc cho cán bộ UBCKNN.

Nhờ sự giúp đỡ của một số nước, ta có khoảng 30-40 máy tính chuyên dụng, lắp ráp một sở giao dịch chứng khoán giả định. Hàng ngày các chuyên viên của UBCKNN đều phải vào sở giả định đó, ngồi trước máy học cách khớp lệnh, giao dịch, tìm hiểu thực tập kinh nghiệm.

Đến năm 2000, cụm từ TTCK đã phổ biến hơn, nhưng số người hiểu biết về nó không tăng là mấy. Tôi còn nhớ nhiều bạn bè lúc ấy đã khuyên: “Muốn đóng góp cho đất nước có nhiều cách để làm. Ngồi ở vị trí cũ (phó thống đốc NHNN) cũng cống hiến được, đâu phải cứ nhất thiết chui vào bụi rậm (ý nói TTCK) để rồi có thể thất bại”. Tôi hiểu bạn bè lo lắng mới khuyên thế, nhưng một khi Đảng và Nhà nước đã giao, phải phấn đấu thực hiện.

Một sở hay hai sở?

Các nhà đầu tư nước ngoài trong một chuyến tham quan và tìm kiếm cơ hội đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Ảnh: Lê Toàn.
Ngày 20-7-1997 UBCKNN chính thức được thành lập. Xuất hiện những ý kiến khác nhau: Việt Nam nên có một hay hai trung tâm giao dịch chứng khoán. Bộ Chính trị đồng ý lập hai trung tâm. Sở dĩ gọi là trung tâm giao dịch chứng khoán mà không phải sở giao dịch chứng khoán như các nước vì chúng ta vừa thí điểm, vừa rút kinh nghiệm, rồi mới đưa ra lộ trình chuyển từ trung tâm lên sở.

Thời gian đó, một số lãnh đạo cấp cao lo lắng mở thị trường chứng khoán như các nước tư bản chủ nghĩa thì mình không thể quản lý được. Nhưng chúng tôi báo cáo với Chính phủ là chúng ta làm theo cách riêng Việt Nam. Chúng ta đã có một đơn vị chuyên trách quản lý là UBCKNN, sau này dù các sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và TPHCM có chuyển đổi theo mô hình công ty TNHH một thành viên, hoặc công ty cổ phần, thì vẫn có đủ cơ sở pháp lý để quản lý, điều hành.

Ngày trước vốn doanh nghiệp không nhiều, nên mới có quy định công ty vốn dưới 80 tỉ đồng thì niêm yết trên sàn Hà Nội. Ý tứ của chúng ta lúc đó là xây dựng Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội theo mô hình Nasdaq trước đây (là thị trường OTC).

Còn TPHCM là trung tâm tài chính của cả nước, sở giao dịch chứng khoán được đặt ở đấy sẽ có cơ hội phát triển hơn. Chúng tôi cân nhắc nhiều thị trường trên thế giới. Chẳng hạn ở Mỹ, toàn bộ các tập đoàn tài chính đều tập trung ở phố Wall. Nói tới phố Wall là nói tới tài chính quốc tế. Từ đây, mới yên tâm việc hình thành hai trung tâm giao dịch chứng khoán ở hai đầu đất nước là hợp lý.

Những cuộc marathon và những trụ sở đẹp

Có chợ rồi, phải lo hàng hóa cho chợ. Thời ấy, nhiều doanh nghiệp đã cổ phần hóa vẫn không biết niêm yết là gì. Nhân viên UBCKNN thường xuyên đi khắp các tỉnh, tuyên truyền, động viên doanh nghiệp lên sàn. Chúng tôi nói chuyện với lãnh đạo các địa phương, nhưng đa phần họ chưa hiểu về TTCK, càng không thể bàn đến vấn đề niêm yết do nhận thức về lợi ích niêm yết của doanh nghiệp lúc đầu còn mờ nhạt. Gần đến ngày khai trương sàn TPHCM, có 14 đơn vị được tư vấn và chuẩn bị niêm yết, song đến ngày chính thức khai trương 20-7-2000 chỉ vẻn vẹn hai công ty lên sàn là REE và SAM.

Sự phát triển của TTCK là sự chuyển biến về mặt tư duy là chính. Việc niêm yết của doanh nghiệp là quá trình chuyển biến tư duy. Sau khi ra đời, mấy năm đầu TTCK hoạt động ì ạch. Thậm chí có một số kiến nghị tạm đình chỉ giao dịch một thời gian. Từ năm 2006, TTCK mới thực sự đi lên mạnh mẽ. Lúc đầu, chúng ta dự kiến đến năm 2010, TTCK chiếm khoảng 10-15% GDP, thì đến năm 2006 con số này đã là 40% GDP.

Câu chuyện về trụ sở của UBCKNN và hai sở là những ký ức còn nguyên vẹn trong tôi. Đây là sự ưu ái đặc biệt của Chính phủ và các địa phương dành cho chứng khoán. Khi đặt vấn đề lấy khu công thự thời Pháp tại 164 Trần Quang Khải, Hà Nội (được Bộ Thủy lợi cũ dùng làm trụ sở) làm trụ sở của UBCKNN, chỉ một tháng kể từ khi có quyết định, UBCKNN đã được bàn giao.

Ở phía Nam, Ủy ban Nhân dân TPHCM đồng ý giao trụ sở thượng viện của chế độ Sài Gòn cũ ở 45-47 Bến Chương Dương với khuôn viên đẹp làm trụ sở Hose. Ở Hà Nội, chúng tôi đã cùng Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố khi đó là ông Hoàng Văn Nghiên đi tìm khắp vị trí, qua cả trụ sở Bộ Tài chính ở 28 Trần Hưng Đạo, qua cả tòa nhà Vincom trên phố Bà Triệu. Do UBCKNN mới ra đời, kinh phí nghèo nàn, chỉ có thể chọn địa điểm có sẵn phòng ốc, không mất quá nhiều công sức xây cất, nên tòa nhà góc phố Tràng Tiền và Phan Chu Trinh được chọn làm trụ sở cho sàn Hà Nội. Đừng nhìn hiện tại nó đẹp đẽ và hoành tráng như vậy. Trước đây, nó chỉ là một chuỗi cửa hàng kim khí điện máy. Bây giờ hai sàn chứng khoán đều nằm ở hai vị trí đẹp của hai thành phố lớn.

Hành trình 10 năm chưa phải là dài, nhưng thấm đẫm trong đó không ít vất vả. TTCK Việt Nam với tâm huyết của bao người chắc chắn sẽ phát triển và bền vững!

Những cái đầu tiên trên thị trường chứng khoán Việt Nam

• Công ty đầu tiên niêm yết cổ phiếu

Đó là Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) và Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Sacom (SAM). Phiên giao dịch đầu tiên của thị trường chứng khoán diễn ra ngày 28-7-2000 chỉ với hai doanh nghiệp này.

• Ngân hàng đầu tiên niêm yết cổ phiếu

Ngày 12-7-2006, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín (Sacombank) chính thức giao dịch 189,9 triệu cổ phiếu với mã chứng khoán STB. Hiện nay STB có hơn 904 triệu cổ phiếu đang lưu hành.

• Quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên niêm yết

Quỹ Đầu tư chứng khoán Việt Nam (VF1) chính thức giao dịch tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán TPHCM từ tháng 11-2004. Các cột mốc chính của VF1: năm 2004 khởi đầu với số vốn điều lệ 300 tỉ đồng; năm 2006 tăng vốn điều lệ lên 500 tỉ; năm 2007 tiếp tục tăng vốn lên 1.000 tỉ đồng. Giá trị trên một chứng chỉ quỹ tại kỳ báo cáo ngày 1-7-2010 là 24.306 đồng.

• Công ty đầu tiên bán đấu giá cổ phần qua thị trường chứng khoán

Ngày 17-2-2005, Công ty cổ phần Sữa Vinamilk đã bán đấu giá 1.872.000 cổ phần qua Trung tâm Giao dịch chứng khoán TPHCM nhằm mở rộng quy mô sản xuất. Giá khởi điểm là 220.000 đồng/cổ phần (mệnh giá 100.000 đồng/cổ phần). Giá trúng thầu bình quân là 313.100 đồng/cổ phần. Đến 99,99% số lượng cổ phần đem ra đấu giá được nhà đầu tư nước ngoài mua.

• Công ty chứng khoán đầu tiên của thị trường

Đó là Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC). Đến thời điểm hiện tại, cuối quí 2-20210, theo HOSE, công ty này vẫn có mặt trong tốp 10 các công ty dẫn đầu về thị phần môi giới chứng khoán trên sàn TPHCM (đứng thứ 9 với 2,18% thị phần).

• Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tiên lên sàn

Ngày 15-2-2006, Công ty Taya Việt Nam đã là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam chính thức giao dịch cổ phiếu tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán TPHCM. Số lượng niêm yết ban đầu là 3.653.480 cổ phiếu.

In bài viết In bài Gởi bài cho bạn bè Gửi bài cho bạn bè
Mời bạn đóng góp ý kiến
Tên(*)
Địa chỉ E-mail(*)
Nội dung(*)
Lưu ý : (*) là những thông tin bắt buộc.
* Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu.
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI-DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
GIAO THƯƠNG
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
BLOG
BẠN ĐỌC VIẾT
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
HẠ TẦNG - ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
HẠ TẦNG
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
GHI NHẬN
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng; Tổng thư ký tòa soạn: Nguyễn Vạn Phú.
Thư ký tòa soạn: Hoàng Lang, Thục Đoan.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Điện thoại: (84.8) 3829 5936; Fax: (84.8) 3829 4294.
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của website này. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế
Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.