Hướng đến người nghèo
Thành Trung
(TBKTSG) - Hiện nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang lấy ý kiến góp ý từ các chuyên gia và các bộ, ngành cho dự thảo lần thứ VI Chiến lược An sinh xã hội (ASXH) giai đoạn 2011-2020 - chiến lược đầu tiên về ASXH của Việt Nam.
Theo dự kiến, bản dự thảo sẽ được trình lên Chính phủ vào cuối năm nay và sau đó được trình lên Quốc hội thông qua để có thể thực hiện từ năm 2011. Nhân dịp này, TBKTSG phỏng vấn TS. GIANG THANH LONG, giảng viên Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội và là thành viên của nhóm soạn thảo, xung quanh nội dung của chiến lược.
TBKTSG: Cho đến nay lộ trình xây dựng Chiến lược ASXH 2011-2020 đã qua một chặng đường dài. So với dự thảo lần đầu tiên, dự thảo lần thứ VI có những nội dung gì mới và ưu điểm của nó là gì, thưa ông?
- TS. GIANG THANH LONG: Trong dự thảo đầu tiên, nhóm soạn thảo chỉ đưa ra các ý tưởng ở dạng thô mà chưa sắp xếp thành một hệ thống hoàn chỉnh. Còn trong dự thảo mới nhất, ASXH gồm có năm cấu phần quan trọng, đó là thị trường lao động; bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; trợ giúp xã hội; xóa đói giảm nghèo và các dịch vụ xã hội, trong đó ba cấu phần đầu tiên nhấn mạnh vào công cụ quản trị rủi ro, còn hai cấu phần còn lại nhấn mạnh vào kết quả, đầu ra của hệ thống.
Việc tổ chức hệ thống ASXH theo các cấu phần đó nhằm thực hiện ý tưởng ban đầu về vai trò của nhà nước trong hệ thống theo kiểu kết hợp giữa mô hình nhà nước phúc lợi (mà tại đó nhà nước và các tổ chức nhà nước là cơ quan thực hiện và tài trợ tất cả các hoạt động ASXH) với mô hình nhà nước xã hội (trong đó vai trò của cá nhân và các đơn vị tư nhân trong hệ thống ASXH được đề cao trong cả khâu thực hiện và tài trợ).
Cấu phần nào được thực hiện theo mô hình gì phụ thuộc vào mục tiêu, định hướng cụ thể trong thời gian tới. Ví dụ, hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ phải hoạt động theo mô hình nhà nước xã hội trong điều kiện biến đổi dân số, kinh tế thì mới đảm bảo tính bền vững.
TBKTSG: Ông có thể nói cụ thể hơn về mô hình sắp tới cho bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế?
- Bảo hiểm xã hội (BHXH) ở nước ta mới trong giai đoạn đầu phát triển nên Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng để ổn định nguồn tài chính. Đặc biệt, với các chế độ BHXH dài hạn như hưu trí thì việc ổn định quỹ BHXH mang tính sống còn.
Có hai vấn đề quan trọng với hệ thống BHXH được đúc kết bằng hai chữ S trong tiếng Anh, đó là tính phù hợp (suitability) và tính bền vững (sustainability). Ví dụ, nếu tăng mức đóng phí BHXH lên sẽ có mức hưởng cao hơn nhưng tăng bao nhiêu là phù hợp với điều kiện thu nhập hiện nay. Ngược lại, nếu giảm mức đóng thì phải giảm mức hưởng nhưng liệu nó có bảo đảm tính thích hợp không, có phù hợp với mức sống không và quỹ có bền vững hay không khi thời gian tới biến động dân số theo hướng già hóa sẽ diễn ra nhanh chóng.
Mọi chính sách đều có sự đánh đổi nên việc chuyển đổi mô hình BHXH trong điều kiện như thế cần phải được tính toán thận trọng, đặc biệt về mặt tài chính.Vấn đề tương tự cũng được đặt ra cho bảo hiểm y tế, đặc biệt trong điều kiện mục tiêu y tế toàn dân vào năm 2014. Các đối tượng nghèo, dễ bị tổn thương... cần được tiếp tục hỗ trợ, trong khi các nhóm có thu nhập ổn định và cao cần được khuyến khích tham gia bằng nhiều hình thức.
TBKTSG: Hiện nay tỷ lệ đóng BHXH đang bộc lộ nhiều vấn đề. Nó cho thấy có một khoảng cách lớn giữa việc ban hành và thực thi chính sách.
- Tôi cho rằng, bản thân các luật và chính sách của chúng ta đã khá chặt chẽ song việc thực thi lại chưa tốt nên tỷ lệ đóng BHXH có cải thiện nhưng không đáng kể. Với kết cấu thị trường lao động như hiện nay, việc khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia vào hệ thống BHXH là công việc hết sức quan trọng. Vấn đề này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các cơ quan, tổ chức liên quan, đặc biệt là BHXH Việt Nam và cơ quan thuế. TBKTSG: Vậy sự phối hợp cần như thế nào?
- Tôi xin lấy một ví dụ về đóng BHXH trong doanh nghiệp. Nếu việc khuyến khích, thúc đẩy không đủ lớn để các doanh nghiệp tự giác tham gia hệ thống thì họ sẽ tìm cách trốn hoặc đóng không đủ, từ đó gây thiệt hại cho hệ thống. Cụ thể, doanh nghiệp có thể xây dựng các thang bảng lương khác nhau để phục vụ cho mục tiêu giảm đóng BHXH.
Ví dụ, nếu lương thực tế một người là 2 triệu đồng/tháng nhưng doanh nghiệp chỉ ghi trong sổ bảo hiểm là đóng 1 triệu đồng thôi (vẫn đảm bảo lớn hơn mức lương tối thiểu) thì 5% của 1 triệu chỉ là 50.000 đồng, mặc dù đáng lẽ phải đóng 100.000 đồng theo quy định. Sau này BHXH Việt Nam chỉ giải quyết chế độ dựa trên mức lương 1 triệu đồng như khi đóng chứ không phải theo mức lương thực tế 2 triệu đồng.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp lại có thể có một bảng lương khác để khai chi phí hoạt động với cơ quan thuế. Nếu không có sự kết hợp chặt chẽ giữa hai cơ quan BHXH Việt Nam và thuế thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng “lách lưới” thuế và cuối cùng người lao động vẫn là người chịu thiệt.
TBKTSG: Và cho dù có phát hiện ra thì BHXH cũng khó xử lý được?
- Luồng thông tin trong trường hợp trên là không hoàn hảo dẫn tới việc một số doanh nghiệp cá biệt lợi dụng cả người lao động lẫn các cơ quan nhà nước. Khi cơ quan BHXH phát hiện doanh nghiệp gian dối thì cũng không có quyền xử phạt bởi vì BHXH là cơ quan sự nghiệp, không phải cơ quan hành chính. Việc xử phạt thuộc về trách nhiệm của các cơ quan cấp địa phương và cần nhiều thủ tục khác nhau.
TBKTSG: Các hướng giải pháp trong Chiến lược ASXH nhằm bịt khe hở này như thế nào và đề xuất về việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng ra sao, thưa ông?
- Giữa cơ quan BHXH Việt Nam và Tổng cục Thuế phải cùng xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất về doanh nghiệp. Việc này rất có hiệu quả trong khâu kiểm soát vì không thể có chuyện cùng một doanh nghiệp lại có hai kiểu thông tin số liệu khác nhau về BHXH và thuế được.
TBKTSG: Lưới an toàn (safety net) - một nội dung thiết yếu trong Chiến lược ASXH sẽ được “giăng” thế nào để không lọt lưới các nhóm đối tượng yếu thế và cần trợ giúp trong xã hội?
- Đây cũng là một khía cạnh rất quan trọng mà chúng tôi quan tâm và nhấn mạnh trong dự thảo. Trên thực tế, nếu đi theo mô hình phổ cập (universal) ngay bây giờ thì rất khó vì nguồn lực tài chính của nước ta chưa cho phép có thể “giăng lưới” cho hàng chục triệu dân. Với hàng chục triệu người còn sống dưới đường nghèo (poverty line) thì chi phí để lấp được khoảng cách nghèo (poverty gap) để họ có thể vượt qua ngưỡng nghèo lên tới hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tỉ đồng.
Về mặt tài chính, điều này rất khó khi chúng ta còn phải cân nhắc nhiều chính sách khác. Năng lực quản lý còn yếu cùng hệ thống thông tin rời rạc và phân tán là những vấn đề cần phải được cải thiện ngay thì mới có thể thực hiện được các chương trình, chính sách xã hội có hiệu quả.
TBKTSG: Theo các nghiên cứu thì tính khả thi của việc triển khai lưới an toàn ở nước ta như thế nào, thưa ông?
- Tính toán của nhiều nghiên cứu và báo cáo cho thấy việc triển khai lưới an toàn theo hướng phổ cập hoàn toàn khả thi. Tuy nhiên, như tôi đã phân tích ở trên thì nguồn tài chính ở đâu và sử dụng thế nào là các câu hỏi chính sách không dễ có lời giải.
Chúng tôi gợi ý rằng phải lựa chọn nhóm đối tượng nào cần tác động trước: trẻ em, người cao tuổi hay nhóm trong độ tuổi lao động. Ví dụ, nếu đầu tư cho nhóm người cao tuổi thì phải căn cứ vào những lợi ích và chi phí có thể phát sinh.
Theo một báo cáo gần đây của Viện Lão khoa Việt Nam thì chi phí y tế trung bình cho một người cao tuổi gấp 7-8 lần chi phí y tế trung bình cho một trẻ em. Với tốc độ tăng của người cao tuổi gấp hơn hai lần tốc độ tăng dân số trong thập kỷ vừa qua, chi phí y tế sẽ rất lớn nếu chúng ta không quan tâm, chăm sóc người cao tuổi ngay từ bây giờ. Xét về hiệu quả tài chính cũng như xã hội, tập trung giải quyết ASXH cho người cao tuổi ngay từ bây giờ là rất quan trọng.
TBKTSG: Nhưng làm thế nào để có thể thống kê đầy đủ các đối tượng của lưới an toàn mà không bỏ sót trong khi việc quản lý hiện nay rất lỏng lẻo. Công việc này thuộc trách nhiệm của ai?
- Việc này đòi hỏi trách nhiệm quản lý từ cấp xã, phường để xác định ai là người nghèo cần trợ giúp và tổng số người trên mỗi địa bàn. Tại sao lại có chuyện tiền hỗ trợ người nghèo ở một số nơi bị thất thoát? Đó là do năng lực quản lý của địa phương còn yếu, chưa được giám sát, đánh giá chặt chẽ.
TBKTSG: Từ thực tế này đặt ra yêu cầu cấp bách phải thực hiện tốt hơn nữa công tác giám sát và đánh giá. Nhóm soạn thảo có đề xuất gì?
- Trong phần cuối cùng của dự thảo chiến lược chúng tôi đề xuất xây dựng một loạt các hoạt động, trong đó giám sát và đánh giá (M&E) đóng vai trò quan trọng. Cụ thể, chúng tôi đề xuất xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành để bất cứ ngành nào có liên quan cũng có quyền tiếp cận với hệ thống để kiểm tra, giám sát.