TÀI CHÍNH DIỄN ĐÀN KINH DOANH ĐÔ THỊ CÔNG NGHỆ XÃ HỘI NÔNG NGHIỆP VĂN HÓA GIẢI TRÍ
Thứ Sáu,  18/4/2014, 20:57 (GMT+7)
Đặt báo in Liên hệ

 Một số vấn đề kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong năm 2010

Vũ Thành Tự Anh (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright)
Thứ Năm,  31/12/2009, 12:02 (GMT+7)
Phóng to

Thu nhỏ

Add to Favorites

In bài

Gửi cho bạn bè

Một số vấn đề kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong năm 2010

Vũ Thành Tự Anh (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright)

Lạm phát vẫn là mối lo ngại hàng đầu trong năm 2010. Ảnh: Lê Toàn.
(TBKTSG) - Kinh tế Việt Nam đang trên đà phục hồi. Tốc độ tăng trưởng GDP sau khi chạm đáy trong quí 1 (3,1%) đã tăng trở lại trong quí 2 (4,5%), quí 3 (5,8%), và dự kiến sẽ đạt 6,8% trong quí 4. Tương tự như vậy, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp đã trở lại bình thường, đạt 13% trong tháng 11 so với đáy 2,4% của tháng 3-2009. Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu khả quan này đã nổi lên một số vấn đề vĩ mô đe dọa tính bền vững của sự phục hồi kinh tế trong năm 2010, cụ thể là nguy cơ tái lạm phát, sức ép giảm giá tiền đồng và tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán.

Nguy cơ tái lạm phát

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trung bình của cả năm 2009 sẽ dưới 7%. Nếu chỉ nhìn vào con số khả quan này thì dường như không có cơ sở để lo lắng về nguy cơ tái lạm phát. Tuy nhiên, nếu nhìn vào động thái chính sách vĩ mô trong thời gian qua, đồng thời đặt nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh chung của kinh tế thế giới thì có những lý do chính đáng để lo ngại rằng lạm phát có thể quay trở lại trong năm 2010.

Thứ nhất, cung tiền và tín dụng tăng nhanh sẽ làm tăng CPI, tất nhiên là sau một độ trễ nhất định, thường là từ 5-7 tháng theo kinh nghiệm của thời kỳ lạm phát cao trong giai đoạn 2007-2008 (hình 1). Trên thực tế, mô thức này cũng được lặp lại trong năm 2009. Chính sách kích cầu và mở rộng tín dụng được triển khai từ tháng 3-2009 đã làm CPI tăng trở lại vào tháng 9-2009. Nếu tính cả năm thì với tốc độ tăng tín dụng và cung tiền trên dưới 40% so với cùng kỳ năm ngoái - tức là xấp xỉ mức cao nhất của thời kỳ bất ổn vĩ mô năm 2008 - thì sức ép lên CPI trong năm 2010 là không nhỏ.

Sự thành công của chính sách vĩ mô phụ thuộc không chỉ vào sự đúng đắn của chính sách, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào niềm tin của các tác nhân thị trường với các cơ quan quản lý vĩ mô. Như vậy, việc lấy lại niềm tin của thị trường đối với các cơ quan này, và nhờ đó lấy lại hiệu lực cho chính sách vĩ mô của Chính phủ, cần được coi là một ưu tiên hàng đầu.
Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, vì vậy việc giảm giá tiền đồng trong tháng 11-2009 cùng với sức ép tiếp tục giảm giá tiền đồng trong năm 2010 (sẽ phân tích ở phần sau) chắc chắn ảnh hưởng tới mặt bằng giá chung.

Thứ ba, kỳ vọng về lạm phát của thị trường vẫn đang được duy trì, thể hiện qua lãi suất trong các phiên đấu thầu trái phiếu chính phủ ở tất cả các kỳ hạn. Rõ ràng là các nhà đầu tư tin rằng lạm phát trong những năm tới sẽ cao trở lại, và do đó đòi hỏi mức lãi suất cao hơn một cách tương ứng. Trên thị trường tín dụng, các ngân hàng thương mại vẫn đứng trước sức ép tăng lãi suất huy động, một mặt nhằm chuẩn bị thanh khoản cho nhu cầu tín dụng trong thời gian tới, mặt khác là để đáp ứng yêu cầu của người gửi tiền khi kỳ vọng lạm phát của họ gia tăng.

Thứ tư, theo phương án điều chỉnh tiền lương và trợ cấp của Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, lương tối thiểu của lao động làm việc tại doanh nghiệp sẽ tăng từ ngày 1-1-2010, và sau đó lương tối thiểu của người hưởng lương từ ngân sách cũng tăng kể từ ngày 1-5-2010. Tuy mức tăng cụ thể chưa được công bố, nhưng mặt bằng lương tối thiểu sẽ tăng khoảng 10-15%, tạo thêm một sức ép cho mặt bằng giá chung, và do vậy đẩy CPI tăng lên.

Thứ năm, mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về tốc độ và kịch bản hồi phục của kinh tế thế giới, song dường như có một sự đồng thuận rằng sau khi chạm đáy vào quí 1-2009, kinh tế thế giới sẽ hồi phục rõ nét hơn trong năm 2010. Khi ấy, chính sách mở rộng tài khóa và nới lỏng tiền tệ được duy trì trong suốt 2009, cùng với việc giá năng lượng, hàng hóa cơ bản và thực phẩm tăng trở lại sẽ là những nguyên nhân trực tiếp khiến lạm phát ở Việt Nam tăng lại trong năm 2010.

Nói tóm lại, có nhiều sức ép đẩy CPI tăng trở lại trong năm 2010. Điều này cũng có nghĩa là mục tiêu CPI 7% mà Quốc hội đề ra cho năm 2010 sẽ không chắc đạt được. Quan trọng hơn, sự giằng co giữa mục tiêu CPI 7% và tăng trưởng GDP 6,5% có thể sẽ dẫn tới một số thay đổi đột ngột trong quỹ đạo chính sách của năm 2010.

Thâm hụt cán cân thanh toán và sức ép giảm giá tiền đồng

Một điểm bất thường trong diễn biến tỷ giá của năm 2009 là từ đầu năm tới nay, tỷ giá trên thị trường không chính thức luôn vượt khá xa trần biên độ cho phép của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Một nguyên nhân của tình trạng căng thẳng tỷ giá này là do lạm phát cao ở Việt Nam khiến tỷ giá hiệu dụng thực đô la Mỹ/tiền đồng trong hai năm 2007-2008 tăng khoảng 20% so với đầu năm 2007. Bên cạnh đó, mặc dù CPI trong năm 2009 chỉ khoảng 6-7% nhưng vẫn tồn tại sức ép giảm giá tiền đồng, lần nay là do cán cân thanh toán của Việt Nam đã chuyển trạng thái từ thặng dư lớn trong năm 2007 (+10,2 tỉ đô la) sang thâm hụt (-5,7 tỉ đô la) trong ba quí đầu năm 2009.

Cán cân thanh toán trở nên thâm hụt vì một số nguyên nhân. Thứ nhất, đúng như cảnh báo từ trước, nhập siêu đã tăng nhanh trở lại cùng với các biện pháp kích thích kinh tế do cả hoạt động sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam đều phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu, hơn nữa tiền đồng lại bị định giá cao so với đô la Mỹ. Kết quả là trong khi nhập khẩu tăng vọt từ mức trung bình 3,9 tỉ đô la/tháng trong quí 1 lên 6,2 tỉ đô la/tháng trong quí 3 thì xuất khẩu, kiều hối và các khoản chuyển giao lại giảm khiến cán cân tài khoản vãng lai trở nên thâm hụt nặng trong quí 2 (-2,4 tỉ đô la) và quí 3 (-3,5 tỉ đô la). 

Thứ hai, khi doanh nghiệp được hỗ trợ lãi suất 4% thì giá vốn bằng tiền đồng đã giảm một cách đáng kể so với đô la Mỹ, khiến các doanh nghiệp thỏa mãn phần lớn nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn bằng việc đi vay tiền đồng từ các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, với lãi suất đô la và vàng khá cao, cộng với kỳ vọng giảm giá tiền đồng, tình trạng căng thẳng trên thị trường ngoại hối, và việc giá vàng liên tục leo thang khiến các doanh nghiệp và người dân càng có thêm động cơ để găm giữ đô la và vàng. Nói cách khác, chính sách của Nhà nước cùng với tâm lý của thị trường khiến doanh nghiệp và hộ gia đình chuyển sang giữ đô la và vàng, được thể hiện rõ qua trạng thái nắm giữ tiền đồng giảm và đô la Mỹ tăng trong hệ thống ngân hàng thương mại.

Như vậy, chính sách duy trì chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và không chính thức trong suốt năm 2009 một mặt góp phần giữ nhập siêu ở mức cao (khoảng 12 tỉ đô la), mặt khác  cùng với việc doanh nghiệp và người dân chuyển sang nắm giữ đô la và vàng đã góp phần làm cho cán cân thanh toán trở nên thâm hụt nặng. Hệ quả là dự trữ ngoại hối của Việt Nam giảm mạnh (từ khoảng 23 tỉ đô la vào cuối năm 2008 xuống còn hơn 17 tỉ đô la vào quí 3-2009), trong khi áp lực giảm giá tiền đồng không hề giảm.

Định hướng chính sách vĩ mô trong năm 2010

Ưu tiên của chính sách trong năm 2010 là ổn định vĩ mô. Điều này một mặt xuất phát từ một số lo ngại về khả năng bất ổn vĩ mô do lạm phát trở lại, căng thăng tỷ giá, thâm hụt cán cân thanh toán như đã thảo luận ở trên. Mặt khác, nếu chỉ chạy theo tốc độ tăng trưởng ngắn hạn thì nhiều khả năng nền kinh tế sẽ phải đánh đổi bằng sự bất ổn, thiếu bền vững, và tăng trưởng chậm trong trung và dài hạn - điều mà chúng ta đã chứng kiến trong ba năm trở lại đây. Nếu không khéo, khi nền kinh tế thế giới phục hồi cũng chính là lúc chúng ta phải đối mặt với những bất ổn kinh tế trong nước và do vậy không tận dụng được cơ hội từ sự phục hồi chung này.

Để ngăn không cho lạm phát quay trở lại, NHNN cần thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng nhằm kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng và cung tiền. Trong trường hợp chính phủ vẫn muốn duy trì một mức tăng trưởng GDP khả dĩ thì nên sử dụng chính sách tài khóa vì thực tế cho thấy, trong một nền kinh tế có chế độ tỷ giá gần như cố định như của Việt Nam thì chính sách tài khóa tỏ ra hiệu quả hơn trong việc giúp tăng trưởng GDP, đồng thời không gây sức ép quá lớn tới mặt bằng giá. Tuy nhiên điều này chỉ đúng nếu như đồng tiền ngân sách được sử dụng một cách hiệu quả, đồng thời hạn chế hiệu ứng chèn lấn đối với khu vực dân doanh.

Để giảm căng thẳng tỷ giá, việc chấm dứt hỗ trợ lãi suất 4% là một chính sách hợp lý vì bên cạnh tác động thắt chặt tín dụng, nó còn khuyến khích các doanh nghiệp có đô la chuyển một phần dự trữ đô la sang tiền đồng để đáp ứng các nhu cầu vốn lưu động, nhờ đó giảm áp lực cho thị trường ngoại hối. Bên cạnh đó, việc tác động tới kỳ vọng của thị trường thông qua từng bước điều chỉnh tỷ giá đô la Mỹ/tiền đồng sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cân đối lại cấu trúc danh mục nắm giữ tiền của người dân và doanh nghiệp. Mặc dù việc điều chỉnh tỷ giá có thể làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài, đặc biệt là của các doanh nghiệp nhà nước, nhưng chính sách này là cần thiết vì lợi ích của toàn bộ nền kinh tế. Hơn thế, việc điều chỉnh tỷ giá cũng phát tín hiệu buộc các doanh nghiệp nhà nước phải thận trọng hơn khi vay đô la. NHNN cũng cần điều chỉnh chính sách tín dụng đô la theo hướng giảm tâm lý găm giữ đô la, chẳng hạn như thông qua việc duy trì chênh lệch lãi suất đô la và vàng so với tiền đồng ở mức hợp lý để khuyến khích người dân giữ tiền đồng thay bằng chuyển sang việc găm giữ vàng và đô la.

Một điều đã được nói nhiều lần nhưng vẫn cần nhắc lại, đó là sự thành công của chính sách vĩ mô phụ thuộc không chỉ vào sự đúng đắn của chính sách, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào niềm tin của các tác nhân thị trường với các cơ quan quản lý vĩ mô. Như vậy, việc lấy lại niềm tin của thị trường đối với các cơ quan này, và nhờ đó lấy lại hiệu lực cho chính sách vĩ mô của Chính phủ, cần được coi là một ưu tiên hàng đầu. Để làm được điều này, một thái độ thực sự cầu thị, một hệ thống chính sách đúng đắn, nhất quán và một cơ chế giao tiếp thông tin chính xác, kịp thời với người dân, với thị trường là những điều kiện tiên quyết.

Chia sẻ với bạn bè:
     
Mời bạn đóng góp ý kiến
Tên(*)
Địa chỉ E-mail(*)
Địa chỉ
Tiêu đề(*)
Nội dung(*)
Lưu ý : (*) là những thông tin bắt buộc.
Mã xác nhận 
 
 
* Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu.
VinGroup
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Thị Ngọc Huệ; Tổng thư ký tòa soạn: Nguyễn Vạn Phú.
Thư ký tòa soạn: Hoàng Lang, Thục Đoan, Huỳnh Hoa.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Điện thoại: (84.8) 3829 5936; Fax: (84.8) 3829 4294.
Ghi rõ nguồn "Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup. Phát triển bởi Công ty Mắt Bão.