Thứ Năm,  15/11/2018, 17:50 
Đặt báo in

TPHCM: Dân số có thể trên 10 triệu người vào 2020

Tư Giang
Thứ Hai,  26/1/2015, 17:21 

TPHCM: Dân số có thể trên 10 triệu người vào 2020

Tư Giang

Nhiều tuyến đường ở thủ đô Hà Nội luôn trong cảnh tắc nghẽn một phần do mật độ dân số cao. Ảnh TL

(TBKTSG Online) - Dân số TPHCM đến 2020 sẽ hơn 10 triệu người, nếu mỗi năm dân số tăng trung bình 3,9%/năm như trong giai đoạn 2000-2010, theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới.

Tại thời điểm 1-4-2014, điều tra dân số của Việt Nam cho thấy dân số TPHCM là 7,95 triệu người.

Hai thành phố đông đúc nhất

Báo cáo "Thay đổi Cảnh quan Đô thị Đông Á: Đánh giá một thập kỷ Phát triển Không gian” do Ngân hàng Thế giới công bố sáng 26-1 đưa ra nhận xét này sau khi phân tích, tốc độ mở rộng mỗi năm của Hà Nội là 3,8% và TPHCM là 4%, lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng các khu đô thị của các nước khác trong khu vực, trừ Trung Quốc.

Báo cáo nhận xét, mặc dù nhiều đô thị được mở rộng, các thành phố đang trở nên đông đúc hơn, nhưng Hà Nội và TPHCM nổi bật hơn cả. Cảnh quan đô thị bị chi phối bởi hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM đang phát triển nhanh hơn nhiều so với tất cả các thành phố khác. Hai thành phố này mở rộng thêm rất nhiều nhưng vẫn còn rất chật chội.

Về không gian, cả diện tích đô thị của Hà Nội (850 km2 năm 2010) và diện tích đô thị của thành phố Hồ Chí Minh (810 km2 năm 2010) đã mở rộng gần như bằng nhau trong giai đoạn 2000 – 2010.

Tốc độ mở rộng này lớn hơn bất cứ khu đô thị nào khác trong khu vực, ngoài Trung Quốc, bao gồm cả những khu đô thị lớn hơn nhiều như Jakarta, Manila, Seoul và Tokyo.

Hơn 50% tổng diện tích đất đô thị cả nước nằm tại hai khu đô thị này, và khoảng cách giữa hai đô thị này với các khu đô thị khác của Việt Nam đang ngày càng mở rộng, với 75% tăng trưởng không gian đô thị mới thuộc về TPHCM và Hà Nội. Tuy nhiên, tỷ lệ dân cư đô thị trong hai thành phố về cơ bản là giống nhau trong giai đoạn này, xấp xỉ 60% trong cả hai năm 2000 và 2010.

TPHCM là nơi đông dân nhất nhưng lại giảm chút ít về mật độ trong giai đoạn 2000- 2010 mặc dù dân số tăng lên 2,5 triệu người (3,9% hàng năm). Dân số Hà Nội tăng thêm 2,1 triệu người trong giai đoạn này (4,8% hàng năm).

Mặc dù diện tích hành chính của thành phố Hồ Chí Minh rất lớn và một nửa trong số đó vẫn chưa được xây dựng, nhưng quá trình đô thị hóa đang tiến đến các tỉnh lân cận.

Trong số khoảng 820 km2 tổng diện tích đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh năm năm 2010, thì chỉ có khoảng hơn nửa (53%) là thuộc phạm vi địa giới hành chính của thành phố, 23% ở Bình Dương về phía Bắc và 18% ở Đồng Nai về phía Đông. Quan trọng hơn, 70% diện tích mở rộng mới từ năm 2000 nằm ngoài thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết ở Bình Dương (42%).

Khu đô thị Hà Nội lớn hơn về không gian so với khu đô thị thành phố Hồ Chí Minh, nhưng dân số thấp hơn. Mô hình phát triển của Hà Nội khá khác so với thành phố Hồ Chí Minh. Hà Nội nằm trong khu vực Đồng bằng Sông Hồng, đặc trưng bởi hàng trăm khu dân cư nằm rải rác, bao gồm các thị trấn nhỏ, tương phản với hầu hết các cụm dân cư đồng nhất của thành phố Hồ Chí Minh.

Theo con số xác định trong nghiên cứu này tổng diện tích đất đai Hà Nội là 850 km2 thuộc 40 huyện nằm trong 5 tỉnh. Theo cách tính đó, có 37% tổng diện tích đất đô thị đã xây dựng và 31% đất xây dựng đô thị tăng lên từ năm 2000 nằm trong khu vực thành phố Hà Nội.

Những nơi mật độ dân cư đô thị tăng nhanh nhất là những quận đã thực sự đông dân trong khu trung tâm lâu đời của thành phố như Đống Đa, Hai Bà Trưng và Hoàn Kiếm, nơi mà năm 2010 mật độ dân cư đã trên 40.000 người/km2.

Cả hai quận Đống Đa và Hai Bà Trưng đều tăng thêm 100.000 người mỗi quận trong khi trên thực tế diện tích xây dựng không hề tăng thêm. Vì vậy, mặc dù Hà Nội có thể đang mở rộng nhanh chóng, trung tâm thành phố vốn đã rất đông người vẫn sẽ tiếp tục đông hơn. Tại thành phố Hồ Chí Minh, mật độ dân số trong khu trung tâm tăng có thể là do sự phát triển công nghiệp đã tạo công ăn việc làm và thu hút dân vào thành phố, và số lao động mới này tìm kiếm chỗ ở trong khu dân cư hiện tại.

Đô thị hóa nhanh chóng

Trên bình diện cả nước, báo cáo cho biết, trong thập kỷ 2000 – 2010 Việt Nam đã nhảy từ vị trí có diện tích đất đô thị lớn thứ bảy của khu vực Đông Á trong năm 2000 (2.200 km2) lên vị trí thứ năm trong năm 2010 (2.900 km2) trong hệ thống phân cấp đô thị, vượt qua cả Thái Lan và Hàn Quốc.

Mức tăng 700 km2 này nằm trong số tăng lớn nhất trong khu vực. Về không gian, các khu đô thị của Việt Nam tăng 2,8% hàng năm, nằm trong số các nước có tỉ lệ tăng nhanh nhất khu vực. Trong tổng diện tích đất của Việt Nam, 0,9% là đất đô thị, tương tự như của Trung Quốc, nhưng cao hơn Indonesia và Philippines.

Hầu hết (94%) đất xây dựng tăng thêm này là đất trồng trọt nhưng tăng trưởng đô thị lấy mất chỉ 0,6% tổng đất trồng trọt của quốc gia.

Việt Nam có dân số đô thị lớn thứ sáu trong khu vực Đông Á là 23 triệu người. Trong giai đoạn 2000 và 2010, dân số đô thị tăng 7,5 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số đô thị 4,1% hàng năm là một trong những tỷ lệ cao nhất trong khu vực chỉ thấp hơn Lào và Campuchia, hai nước nhỏ hơn nhiều. Trong giai đoạn này, dân số đô thị của Việt Nam thay đổi từ 19% thành thị (sống trong khu vực đô thị có từ 100.000 người trở lên) lên 26%.

Với mật độ 7.700 người/km2 năm 2010, trung bình các khu đô thị của Việt Nam ngày càng trở nên chật chội hơn so với toàn khu vực, mặc dù chưa bằng mức Indonesia, Hàn Quốc hoặc Philippines. Tuy nhiên, mật độ dân số đô thị trung bình đã tăng lên, từ mức 6.800 người/km2 trong năm 2000.

Việt Nam không có các thành phố cực lớn với 10 triệu người hoặc hơn nhưng các khu đô thị TP.HCM (7,8 triệu người) ở miền Nam và Hà Nội (5,6 triệu người) ở miền Bắc nằm trong số các thành phố lớn nhất trong khu vực.

Hai thành phố này chi phối cảnh quan đô thị của quốc gia về cả đất đô thị và dân số. Ngoài ra, Việt Nam có một đô thị có số dân trong khoảng 1 triệu đến 5 triệu (Hải Phòng), 6 đô thị trong khoảng 500.000 – 1 triệu và 21 đô thị trong khoảng 100.000 – 500.000 người.

Với 200 km2, Hải Phòng chưa bằng một phần tư diện tích hai đô thị lớn và với 1,2 triệu người, Hải Phòng cũng nhỏ hơn rất nhiều về dân số. Mặc dù mật độ thấp hơn khu đô thị Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nhưng con số này cũng tăng trong giai đoạn 2000 - 2010 do tỷ lệ tăng dân số của thành phố (4,1%) lớn hơn tỉ lệ tăng không gian (2,1%).

Xem thêm:

Để dân số vàng thực sự là vàng

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
CHUYỂN ĐỘNG CÔNG THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHUYẾN MÃI
WEB GIÁ RẺ
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
QUẢN TRỊ SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
DỮ LIỆU DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
QUY HOẠCH - HẠ TẦNG
DỰ ÁN
GÓC TƯ VẤN
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.
TPHCM: Dân số có thể trên 10 triệu người vào 2020
Thứ Hai,  26/1/2015, 17:21 
Tư Giang

TPHCM: Dân số có thể trên 10 triệu người vào 2020

Tư Giang

Nhiều tuyến đường ở thủ đô Hà Nội luôn trong cảnh tắc nghẽn một phần do mật độ dân số cao. Ảnh TL

(TBKTSG Online) - Dân số TPHCM đến 2020 sẽ hơn 10 triệu người, nếu mỗi năm dân số tăng trung bình 3,9%/năm như trong giai đoạn 2000-2010, theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới.

Tại thời điểm 1-4-2014, điều tra dân số của Việt Nam cho thấy dân số TPHCM là 7,95 triệu người.

Hai thành phố đông đúc nhất

Báo cáo "Thay đổi Cảnh quan Đô thị Đông Á: Đánh giá một thập kỷ Phát triển Không gian” do Ngân hàng Thế giới công bố sáng 26-1 đưa ra nhận xét này sau khi phân tích, tốc độ mở rộng mỗi năm của Hà Nội là 3,8% và TPHCM là 4%, lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng các khu đô thị của các nước khác trong khu vực, trừ Trung Quốc.

Báo cáo nhận xét, mặc dù nhiều đô thị được mở rộng, các thành phố đang trở nên đông đúc hơn, nhưng Hà Nội và TPHCM nổi bật hơn cả. Cảnh quan đô thị bị chi phối bởi hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM đang phát triển nhanh hơn nhiều so với tất cả các thành phố khác. Hai thành phố này mở rộng thêm rất nhiều nhưng vẫn còn rất chật chội.

Về không gian, cả diện tích đô thị của Hà Nội (850 km2 năm 2010) và diện tích đô thị của thành phố Hồ Chí Minh (810 km2 năm 2010) đã mở rộng gần như bằng nhau trong giai đoạn 2000 – 2010.

Tốc độ mở rộng này lớn hơn bất cứ khu đô thị nào khác trong khu vực, ngoài Trung Quốc, bao gồm cả những khu đô thị lớn hơn nhiều như Jakarta, Manila, Seoul và Tokyo.

Hơn 50% tổng diện tích đất đô thị cả nước nằm tại hai khu đô thị này, và khoảng cách giữa hai đô thị này với các khu đô thị khác của Việt Nam đang ngày càng mở rộng, với 75% tăng trưởng không gian đô thị mới thuộc về TPHCM và Hà Nội. Tuy nhiên, tỷ lệ dân cư đô thị trong hai thành phố về cơ bản là giống nhau trong giai đoạn này, xấp xỉ 60% trong cả hai năm 2000 và 2010.

TPHCM là nơi đông dân nhất nhưng lại giảm chút ít về mật độ trong giai đoạn 2000- 2010 mặc dù dân số tăng lên 2,5 triệu người (3,9% hàng năm). Dân số Hà Nội tăng thêm 2,1 triệu người trong giai đoạn này (4,8% hàng năm).

Mặc dù diện tích hành chính của thành phố Hồ Chí Minh rất lớn và một nửa trong số đó vẫn chưa được xây dựng, nhưng quá trình đô thị hóa đang tiến đến các tỉnh lân cận.

Trong số khoảng 820 km2 tổng diện tích đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh năm năm 2010, thì chỉ có khoảng hơn nửa (53%) là thuộc phạm vi địa giới hành chính của thành phố, 23% ở Bình Dương về phía Bắc và 18% ở Đồng Nai về phía Đông. Quan trọng hơn, 70% diện tích mở rộng mới từ năm 2000 nằm ngoài thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết ở Bình Dương (42%).

Khu đô thị Hà Nội lớn hơn về không gian so với khu đô thị thành phố Hồ Chí Minh, nhưng dân số thấp hơn. Mô hình phát triển của Hà Nội khá khác so với thành phố Hồ Chí Minh. Hà Nội nằm trong khu vực Đồng bằng Sông Hồng, đặc trưng bởi hàng trăm khu dân cư nằm rải rác, bao gồm các thị trấn nhỏ, tương phản với hầu hết các cụm dân cư đồng nhất của thành phố Hồ Chí Minh.

Theo con số xác định trong nghiên cứu này tổng diện tích đất đai Hà Nội là 850 km2 thuộc 40 huyện nằm trong 5 tỉnh. Theo cách tính đó, có 37% tổng diện tích đất đô thị đã xây dựng và 31% đất xây dựng đô thị tăng lên từ năm 2000 nằm trong khu vực thành phố Hà Nội.

Những nơi mật độ dân cư đô thị tăng nhanh nhất là những quận đã thực sự đông dân trong khu trung tâm lâu đời của thành phố như Đống Đa, Hai Bà Trưng và Hoàn Kiếm, nơi mà năm 2010 mật độ dân cư đã trên 40.000 người/km2.

Cả hai quận Đống Đa và Hai Bà Trưng đều tăng thêm 100.000 người mỗi quận trong khi trên thực tế diện tích xây dựng không hề tăng thêm. Vì vậy, mặc dù Hà Nội có thể đang mở rộng nhanh chóng, trung tâm thành phố vốn đã rất đông người vẫn sẽ tiếp tục đông hơn. Tại thành phố Hồ Chí Minh, mật độ dân số trong khu trung tâm tăng có thể là do sự phát triển công nghiệp đã tạo công ăn việc làm và thu hút dân vào thành phố, và số lao động mới này tìm kiếm chỗ ở trong khu dân cư hiện tại.

Đô thị hóa nhanh chóng

Trên bình diện cả nước, báo cáo cho biết, trong thập kỷ 2000 – 2010 Việt Nam đã nhảy từ vị trí có diện tích đất đô thị lớn thứ bảy của khu vực Đông Á trong năm 2000 (2.200 km2) lên vị trí thứ năm trong năm 2010 (2.900 km2) trong hệ thống phân cấp đô thị, vượt qua cả Thái Lan và Hàn Quốc.

Mức tăng 700 km2 này nằm trong số tăng lớn nhất trong khu vực. Về không gian, các khu đô thị của Việt Nam tăng 2,8% hàng năm, nằm trong số các nước có tỉ lệ tăng nhanh nhất khu vực. Trong tổng diện tích đất của Việt Nam, 0,9% là đất đô thị, tương tự như của Trung Quốc, nhưng cao hơn Indonesia và Philippines.

Hầu hết (94%) đất xây dựng tăng thêm này là đất trồng trọt nhưng tăng trưởng đô thị lấy mất chỉ 0,6% tổng đất trồng trọt của quốc gia.

Việt Nam có dân số đô thị lớn thứ sáu trong khu vực Đông Á là 23 triệu người. Trong giai đoạn 2000 và 2010, dân số đô thị tăng 7,5 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số đô thị 4,1% hàng năm là một trong những tỷ lệ cao nhất trong khu vực chỉ thấp hơn Lào và Campuchia, hai nước nhỏ hơn nhiều. Trong giai đoạn này, dân số đô thị của Việt Nam thay đổi từ 19% thành thị (sống trong khu vực đô thị có từ 100.000 người trở lên) lên 26%.

Với mật độ 7.700 người/km2 năm 2010, trung bình các khu đô thị của Việt Nam ngày càng trở nên chật chội hơn so với toàn khu vực, mặc dù chưa bằng mức Indonesia, Hàn Quốc hoặc Philippines. Tuy nhiên, mật độ dân số đô thị trung bình đã tăng lên, từ mức 6.800 người/km2 trong năm 2000.

Việt Nam không có các thành phố cực lớn với 10 triệu người hoặc hơn nhưng các khu đô thị TP.HCM (7,8 triệu người) ở miền Nam và Hà Nội (5,6 triệu người) ở miền Bắc nằm trong số các thành phố lớn nhất trong khu vực.

Hai thành phố này chi phối cảnh quan đô thị của quốc gia về cả đất đô thị và dân số. Ngoài ra, Việt Nam có một đô thị có số dân trong khoảng 1 triệu đến 5 triệu (Hải Phòng), 6 đô thị trong khoảng 500.000 – 1 triệu và 21 đô thị trong khoảng 100.000 – 500.000 người.

Với 200 km2, Hải Phòng chưa bằng một phần tư diện tích hai đô thị lớn và với 1,2 triệu người, Hải Phòng cũng nhỏ hơn rất nhiều về dân số. Mặc dù mật độ thấp hơn khu đô thị Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nhưng con số này cũng tăng trong giai đoạn 2000 - 2010 do tỷ lệ tăng dân số của thành phố (4,1%) lớn hơn tỉ lệ tăng không gian (2,1%).

Xem thêm:

Để dân số vàng thực sự là vàng

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Mobile

TPHCM: Dân số có thể trên 10 triệu người vào 2020
Thứ Hai,  26/1/2015, 17:21 
Tư Giang

TPHCM: Dân số có thể trên 10 triệu người vào 2020

Tư Giang

Nhiều tuyến đường ở thủ đô Hà Nội luôn trong cảnh tắc nghẽn một phần do mật độ dân số cao. Ảnh TL

(TBKTSG Online) - Dân số TPHCM đến 2020 sẽ hơn 10 triệu người, nếu mỗi năm dân số tăng trung bình 3,9%/năm như trong giai đoạn 2000-2010, theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới.

Tại thời điểm 1-4-2014, điều tra dân số của Việt Nam cho thấy dân số TPHCM là 7,95 triệu người.

Hai thành phố đông đúc nhất

Báo cáo "Thay đổi Cảnh quan Đô thị Đông Á: Đánh giá một thập kỷ Phát triển Không gian” do Ngân hàng Thế giới công bố sáng 26-1 đưa ra nhận xét này sau khi phân tích, tốc độ mở rộng mỗi năm của Hà Nội là 3,8% và TPHCM là 4%, lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng các khu đô thị của các nước khác trong khu vực, trừ Trung Quốc.

Báo cáo nhận xét, mặc dù nhiều đô thị được mở rộng, các thành phố đang trở nên đông đúc hơn, nhưng Hà Nội và TPHCM nổi bật hơn cả. Cảnh quan đô thị bị chi phối bởi hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM đang phát triển nhanh hơn nhiều so với tất cả các thành phố khác. Hai thành phố này mở rộng thêm rất nhiều nhưng vẫn còn rất chật chội.

Về không gian, cả diện tích đô thị của Hà Nội (850 km2 năm 2010) và diện tích đô thị của thành phố Hồ Chí Minh (810 km2 năm 2010) đã mở rộng gần như bằng nhau trong giai đoạn 2000 – 2010.

Tốc độ mở rộng này lớn hơn bất cứ khu đô thị nào khác trong khu vực, ngoài Trung Quốc, bao gồm cả những khu đô thị lớn hơn nhiều như Jakarta, Manila, Seoul và Tokyo.

Hơn 50% tổng diện tích đất đô thị cả nước nằm tại hai khu đô thị này, và khoảng cách giữa hai đô thị này với các khu đô thị khác của Việt Nam đang ngày càng mở rộng, với 75% tăng trưởng không gian đô thị mới thuộc về TPHCM và Hà Nội. Tuy nhiên, tỷ lệ dân cư đô thị trong hai thành phố về cơ bản là giống nhau trong giai đoạn này, xấp xỉ 60% trong cả hai năm 2000 và 2010.

TPHCM là nơi đông dân nhất nhưng lại giảm chút ít về mật độ trong giai đoạn 2000- 2010 mặc dù dân số tăng lên 2,5 triệu người (3,9% hàng năm). Dân số Hà Nội tăng thêm 2,1 triệu người trong giai đoạn này (4,8% hàng năm).

Mặc dù diện tích hành chính của thành phố Hồ Chí Minh rất lớn và một nửa trong số đó vẫn chưa được xây dựng, nhưng quá trình đô thị hóa đang tiến đến các tỉnh lân cận.

Trong số khoảng 820 km2 tổng diện tích đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh năm năm 2010, thì chỉ có khoảng hơn nửa (53%) là thuộc phạm vi địa giới hành chính của thành phố, 23% ở Bình Dương về phía Bắc và 18% ở Đồng Nai về phía Đông. Quan trọng hơn, 70% diện tích mở rộng mới từ năm 2000 nằm ngoài thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết ở Bình Dương (42%).

Khu đô thị Hà Nội lớn hơn về không gian so với khu đô thị thành phố Hồ Chí Minh, nhưng dân số thấp hơn. Mô hình phát triển của Hà Nội khá khác so với thành phố Hồ Chí Minh. Hà Nội nằm trong khu vực Đồng bằng Sông Hồng, đặc trưng bởi hàng trăm khu dân cư nằm rải rác, bao gồm các thị trấn nhỏ, tương phản với hầu hết các cụm dân cư đồng nhất của thành phố Hồ Chí Minh.

Theo con số xác định trong nghiên cứu này tổng diện tích đất đai Hà Nội là 850 km2 thuộc 40 huyện nằm trong 5 tỉnh. Theo cách tính đó, có 37% tổng diện tích đất đô thị đã xây dựng và 31% đất xây dựng đô thị tăng lên từ năm 2000 nằm trong khu vực thành phố Hà Nội.

Những nơi mật độ dân cư đô thị tăng nhanh nhất là những quận đã thực sự đông dân trong khu trung tâm lâu đời của thành phố như Đống Đa, Hai Bà Trưng và Hoàn Kiếm, nơi mà năm 2010 mật độ dân cư đã trên 40.000 người/km2.

Cả hai quận Đống Đa và Hai Bà Trưng đều tăng thêm 100.000 người mỗi quận trong khi trên thực tế diện tích xây dựng không hề tăng thêm. Vì vậy, mặc dù Hà Nội có thể đang mở rộng nhanh chóng, trung tâm thành phố vốn đã rất đông người vẫn sẽ tiếp tục đông hơn. Tại thành phố Hồ Chí Minh, mật độ dân số trong khu trung tâm tăng có thể là do sự phát triển công nghiệp đã tạo công ăn việc làm và thu hút dân vào thành phố, và số lao động mới này tìm kiếm chỗ ở trong khu dân cư hiện tại.

Đô thị hóa nhanh chóng

Trên bình diện cả nước, báo cáo cho biết, trong thập kỷ 2000 – 2010 Việt Nam đã nhảy từ vị trí có diện tích đất đô thị lớn thứ bảy của khu vực Đông Á trong năm 2000 (2.200 km2) lên vị trí thứ năm trong năm 2010 (2.900 km2) trong hệ thống phân cấp đô thị, vượt qua cả Thái Lan và Hàn Quốc.

Mức tăng 700 km2 này nằm trong số tăng lớn nhất trong khu vực. Về không gian, các khu đô thị của Việt Nam tăng 2,8% hàng năm, nằm trong số các nước có tỉ lệ tăng nhanh nhất khu vực. Trong tổng diện tích đất của Việt Nam, 0,9% là đất đô thị, tương tự như của Trung Quốc, nhưng cao hơn Indonesia và Philippines.

Hầu hết (94%) đất xây dựng tăng thêm này là đất trồng trọt nhưng tăng trưởng đô thị lấy mất chỉ 0,6% tổng đất trồng trọt của quốc gia.

Việt Nam có dân số đô thị lớn thứ sáu trong khu vực Đông Á là 23 triệu người. Trong giai đoạn 2000 và 2010, dân số đô thị tăng 7,5 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số đô thị 4,1% hàng năm là một trong những tỷ lệ cao nhất trong khu vực chỉ thấp hơn Lào và Campuchia, hai nước nhỏ hơn nhiều. Trong giai đoạn này, dân số đô thị của Việt Nam thay đổi từ 19% thành thị (sống trong khu vực đô thị có từ 100.000 người trở lên) lên 26%.

Với mật độ 7.700 người/km2 năm 2010, trung bình các khu đô thị của Việt Nam ngày càng trở nên chật chội hơn so với toàn khu vực, mặc dù chưa bằng mức Indonesia, Hàn Quốc hoặc Philippines. Tuy nhiên, mật độ dân số đô thị trung bình đã tăng lên, từ mức 6.800 người/km2 trong năm 2000.

Việt Nam không có các thành phố cực lớn với 10 triệu người hoặc hơn nhưng các khu đô thị TP.HCM (7,8 triệu người) ở miền Nam và Hà Nội (5,6 triệu người) ở miền Bắc nằm trong số các thành phố lớn nhất trong khu vực.

Hai thành phố này chi phối cảnh quan đô thị của quốc gia về cả đất đô thị và dân số. Ngoài ra, Việt Nam có một đô thị có số dân trong khoảng 1 triệu đến 5 triệu (Hải Phòng), 6 đô thị trong khoảng 500.000 – 1 triệu và 21 đô thị trong khoảng 100.000 – 500.000 người.

Với 200 km2, Hải Phòng chưa bằng một phần tư diện tích hai đô thị lớn và với 1,2 triệu người, Hải Phòng cũng nhỏ hơn rất nhiều về dân số. Mặc dù mật độ thấp hơn khu đô thị Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nhưng con số này cũng tăng trong giai đoạn 2000 - 2010 do tỷ lệ tăng dân số của thành phố (4,1%) lớn hơn tỉ lệ tăng không gian (2,1%).

Xem thêm:

Để dân số vàng thực sự là vàng

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC