Thứ Hai,  24/9/2018, 20:04 
Đặt báo in

Phát ngôn và nhân danh

Minh Đức
Thứ Bảy,  4/4/2015, 08:18 

Phát ngôn và nhân danh

Minh Đức

(TBKTSG) - Ông A là tiến sĩ, trưởng khoa của một trường đại học. Ông được báo chí phỏng vấn về một lĩnh vực hoàn toàn chỉ liên quan tới kiến thức chuyên môn, là những gì ông đã nghiên cứu và hiểu biết trong những năm làm khoa học của mình.

Trước khi nhận trả lời phỏng vấn báo chí, ông A không xin phép trường đại học nơi ông công tác. Ông hoàn toàn tự tin vào kiến thức của mình và sẵn sàng chịu trách nhiệm về những phát ngôn liên quan đến chuyên môn của ông.

Ông nghĩ việc xin phép là không cần thiết. Không lẽ trường đại học, nơi đào tạo ra những trí thức cho đất nước, lại hạn chế những cán bộ của mình “khoe tài”? Các giảng viên càng chứng tỏ kiến thức uyên thâm của mình với xã hội, danh tiếng của trường càng được nâng cao.

Các trường không thể yêu cầu cán bộ giảng viên mỗi khi công khai quan điểm về kiến thức chuyên môn lại phải... xin phép, hoặc bị “định hướng” cần nói cái này, không nên nói cái khác. Bản thân người trình bày, chẳng lẽ, trước mỗi lần phát biểu ý kiến chuyên môn, lại phải nghĩ xem cái nào được nói, cái nào không được nói. Kiến thức khoa học là độc lập và cần được tôn trọng. Nếu kiến thức, quan điểm của người trình bày chưa đúng, hay chưa được số đông ủng hộ, họ sẽ nhận được sự phản biện lại cũng bằng các luận cứ khoa học.

Và khi trình bày các vấn đề chuyên môn với báo chí, với công luận hay với các cá nhân, tổ chức, người nói càng công khai danh tính, chức danh, nơi công tác thì càng chứng tỏ sự tự tin và minh bạch. Không có lý do gì phải giấu giếm những điều đó.

Chỉ khi nào, một cán bộ tuy không được phân công, ủy quyền, nhưng lại nhân danh nhà trường, để nói về những hoạt động của trường, các quan điểm chính sách của trường, hay những vấn đề khác liên quan đến trường, thì mới vi phạm các quy định, nhất là những “quy chế phát ngôn” mà trường đã ban hành.

Thực tế đã có không ít trường hợp nhà khoa học gặp rắc rối với việc áp dụng cái gọi là “quy chế phát ngôn”, bị người đứng đầu cơ quan yêu cầu “xử lý”.

Vậy cần hiểu “quy chế phát ngôn” thế nào cho đúng?

Sau khi Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 25/2013/QĐ-TTg ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, nhiều cơ quan cũng ban hành quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin của riêng mình.

Cần nhớ rằng, quy chế phát ngôn được Thủ tướng Chính phủ ban hành dựa trên quyền được tiếp cận thông tin - một trong những quyền cơ bản của công dân quy định tại Hiến pháp. Theo quy chế này, các cơ quan hành chính nhà nước sẽ cử ra một người phát ngôn để cung cấp thông tin định kỳ và đột xuất cho báo chí về các vấn đề liên quan đến hoạt động của cơ quan. Đó cũng chính là cách thức để Nhà nước đảm bảo nghĩa vụ của mình, cho phép người dân thực hiện quyền được tiếp cận thông tin.

Chức năng quan trọng nhất của người phát ngôn là được nhân danh cơ quan khi phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (khoản 1, điều 6, Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, ban hành kèm theo Quyết định số 25/2013/QĐ-TTg ngày 4-5-2013 của Thủ tướng Chính phủ).

Những cá nhân khác, nếu không phải là người phát ngôn vẫn có thể trả lời phỏng vấn và cung cấp thông tin cho báo chí, nhưng họ không được nhân danh cơ quan và phải chịu trách nhiệm về phát ngôn của mình (khoản 4, điều 2).

Như vậy, các quy định về phát ngôn là rõ ràng.

Trở lại trường hợp của tiến sĩ A. Thứ nhất, ông không nhân danh cơ quan. Cần lưu ý nhân danh khác với công khai chức danh và nơi công tác. Ví dụ người phát ngôn của một bộ có thể thay mặt bộ nêu ý kiến về một vấn đề liên quan đến chức năng quản lý, công việc chuyên môn của bộ. Phát biểu của người phát ngôn cũng là quan điểm chính thức của bộ về vấn đề đó.

Nhưng một chuyên viên (không phải người phát ngôn) vẫn có thể đưa ra quan điểm riêng của mình, và quan điểm đó không phải ý kiến chính thức của bộ. Chuyên viên này không cần phải che giấu chức vụ và nơi công tác khi phát biểu, bởi đương nhiên đó được hiểu là ý kiến cá nhân.

Thứ hai, ông tiến sĩ hoàn toàn không nói về các hoạt động của nhà trường, mà chỉ nói về những kiến thức chuyên môn của mình. Kiến thức này là độc lập và ông phải chịu trách nhiệm về độ chính xác của nó.

Vì vậy, nếu nhà trường nơi tiến sĩ A công tác cho rằng ông đã vi phạm kỷ luật khi trả lời phỏng vấn báo chí là cố tình hiểu sai và áp đặt quy chế phát ngôn.

Thực tế cho thấy, nhiều cơ quan đang coi “quy chế phát ngôn” như một “bảo bối” trong công tác quản lý, nhằm hạn chế những tiếng nói phản biện. “Quy chế phát ngôn” với bản chất là để đảm bảo cho thông tin được cung cấp một cách công khai, minh bạch, nếu không được vận dụng đúng sẽ bị biến tướng thành “quy chế... hạn chế phát ngôn”.

In bài Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
GIAO THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHUYẾN MÃI
WEB GIÁ RẺ
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
QUẢN TRỊ SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
DỮ LIỆU DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
QUY HOẠCH - HẠ TẦNG
DỰ ÁN
GÓC TƯ VẤN
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.
Phát ngôn và nhân danh
Thứ Bảy,  4/4/2015, 08:18 
Minh Đức

Phát ngôn và nhân danh

Minh Đức

(TBKTSG) - Ông A là tiến sĩ, trưởng khoa của một trường đại học. Ông được báo chí phỏng vấn về một lĩnh vực hoàn toàn chỉ liên quan tới kiến thức chuyên môn, là những gì ông đã nghiên cứu và hiểu biết trong những năm làm khoa học của mình.

Trước khi nhận trả lời phỏng vấn báo chí, ông A không xin phép trường đại học nơi ông công tác. Ông hoàn toàn tự tin vào kiến thức của mình và sẵn sàng chịu trách nhiệm về những phát ngôn liên quan đến chuyên môn của ông.

Ông nghĩ việc xin phép là không cần thiết. Không lẽ trường đại học, nơi đào tạo ra những trí thức cho đất nước, lại hạn chế những cán bộ của mình “khoe tài”? Các giảng viên càng chứng tỏ kiến thức uyên thâm của mình với xã hội, danh tiếng của trường càng được nâng cao.

Các trường không thể yêu cầu cán bộ giảng viên mỗi khi công khai quan điểm về kiến thức chuyên môn lại phải... xin phép, hoặc bị “định hướng” cần nói cái này, không nên nói cái khác. Bản thân người trình bày, chẳng lẽ, trước mỗi lần phát biểu ý kiến chuyên môn, lại phải nghĩ xem cái nào được nói, cái nào không được nói. Kiến thức khoa học là độc lập và cần được tôn trọng. Nếu kiến thức, quan điểm của người trình bày chưa đúng, hay chưa được số đông ủng hộ, họ sẽ nhận được sự phản biện lại cũng bằng các luận cứ khoa học.

Và khi trình bày các vấn đề chuyên môn với báo chí, với công luận hay với các cá nhân, tổ chức, người nói càng công khai danh tính, chức danh, nơi công tác thì càng chứng tỏ sự tự tin và minh bạch. Không có lý do gì phải giấu giếm những điều đó.

Chỉ khi nào, một cán bộ tuy không được phân công, ủy quyền, nhưng lại nhân danh nhà trường, để nói về những hoạt động của trường, các quan điểm chính sách của trường, hay những vấn đề khác liên quan đến trường, thì mới vi phạm các quy định, nhất là những “quy chế phát ngôn” mà trường đã ban hành.

Thực tế đã có không ít trường hợp nhà khoa học gặp rắc rối với việc áp dụng cái gọi là “quy chế phát ngôn”, bị người đứng đầu cơ quan yêu cầu “xử lý”.

Vậy cần hiểu “quy chế phát ngôn” thế nào cho đúng?

Sau khi Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 25/2013/QĐ-TTg ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, nhiều cơ quan cũng ban hành quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin của riêng mình.

Cần nhớ rằng, quy chế phát ngôn được Thủ tướng Chính phủ ban hành dựa trên quyền được tiếp cận thông tin - một trong những quyền cơ bản của công dân quy định tại Hiến pháp. Theo quy chế này, các cơ quan hành chính nhà nước sẽ cử ra một người phát ngôn để cung cấp thông tin định kỳ và đột xuất cho báo chí về các vấn đề liên quan đến hoạt động của cơ quan. Đó cũng chính là cách thức để Nhà nước đảm bảo nghĩa vụ của mình, cho phép người dân thực hiện quyền được tiếp cận thông tin.

Chức năng quan trọng nhất của người phát ngôn là được nhân danh cơ quan khi phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (khoản 1, điều 6, Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, ban hành kèm theo Quyết định số 25/2013/QĐ-TTg ngày 4-5-2013 của Thủ tướng Chính phủ).

Những cá nhân khác, nếu không phải là người phát ngôn vẫn có thể trả lời phỏng vấn và cung cấp thông tin cho báo chí, nhưng họ không được nhân danh cơ quan và phải chịu trách nhiệm về phát ngôn của mình (khoản 4, điều 2).

Như vậy, các quy định về phát ngôn là rõ ràng.

Trở lại trường hợp của tiến sĩ A. Thứ nhất, ông không nhân danh cơ quan. Cần lưu ý nhân danh khác với công khai chức danh và nơi công tác. Ví dụ người phát ngôn của một bộ có thể thay mặt bộ nêu ý kiến về một vấn đề liên quan đến chức năng quản lý, công việc chuyên môn của bộ. Phát biểu của người phát ngôn cũng là quan điểm chính thức của bộ về vấn đề đó.

Nhưng một chuyên viên (không phải người phát ngôn) vẫn có thể đưa ra quan điểm riêng của mình, và quan điểm đó không phải ý kiến chính thức của bộ. Chuyên viên này không cần phải che giấu chức vụ và nơi công tác khi phát biểu, bởi đương nhiên đó được hiểu là ý kiến cá nhân.

Thứ hai, ông tiến sĩ hoàn toàn không nói về các hoạt động của nhà trường, mà chỉ nói về những kiến thức chuyên môn của mình. Kiến thức này là độc lập và ông phải chịu trách nhiệm về độ chính xác của nó.

Vì vậy, nếu nhà trường nơi tiến sĩ A công tác cho rằng ông đã vi phạm kỷ luật khi trả lời phỏng vấn báo chí là cố tình hiểu sai và áp đặt quy chế phát ngôn.

Thực tế cho thấy, nhiều cơ quan đang coi “quy chế phát ngôn” như một “bảo bối” trong công tác quản lý, nhằm hạn chế những tiếng nói phản biện. “Quy chế phát ngôn” với bản chất là để đảm bảo cho thông tin được cung cấp một cách công khai, minh bạch, nếu không được vận dụng đúng sẽ bị biến tướng thành “quy chế... hạn chế phát ngôn”.

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC

Mobile

Phát ngôn và nhân danh
Thứ Bảy,  4/4/2015, 08:18 
Minh Đức

Phát ngôn và nhân danh

Minh Đức

(TBKTSG) - Ông A là tiến sĩ, trưởng khoa của một trường đại học. Ông được báo chí phỏng vấn về một lĩnh vực hoàn toàn chỉ liên quan tới kiến thức chuyên môn, là những gì ông đã nghiên cứu và hiểu biết trong những năm làm khoa học của mình.

Trước khi nhận trả lời phỏng vấn báo chí, ông A không xin phép trường đại học nơi ông công tác. Ông hoàn toàn tự tin vào kiến thức của mình và sẵn sàng chịu trách nhiệm về những phát ngôn liên quan đến chuyên môn của ông.

Ông nghĩ việc xin phép là không cần thiết. Không lẽ trường đại học, nơi đào tạo ra những trí thức cho đất nước, lại hạn chế những cán bộ của mình “khoe tài”? Các giảng viên càng chứng tỏ kiến thức uyên thâm của mình với xã hội, danh tiếng của trường càng được nâng cao.

Các trường không thể yêu cầu cán bộ giảng viên mỗi khi công khai quan điểm về kiến thức chuyên môn lại phải... xin phép, hoặc bị “định hướng” cần nói cái này, không nên nói cái khác. Bản thân người trình bày, chẳng lẽ, trước mỗi lần phát biểu ý kiến chuyên môn, lại phải nghĩ xem cái nào được nói, cái nào không được nói. Kiến thức khoa học là độc lập và cần được tôn trọng. Nếu kiến thức, quan điểm của người trình bày chưa đúng, hay chưa được số đông ủng hộ, họ sẽ nhận được sự phản biện lại cũng bằng các luận cứ khoa học.

Và khi trình bày các vấn đề chuyên môn với báo chí, với công luận hay với các cá nhân, tổ chức, người nói càng công khai danh tính, chức danh, nơi công tác thì càng chứng tỏ sự tự tin và minh bạch. Không có lý do gì phải giấu giếm những điều đó.

Chỉ khi nào, một cán bộ tuy không được phân công, ủy quyền, nhưng lại nhân danh nhà trường, để nói về những hoạt động của trường, các quan điểm chính sách của trường, hay những vấn đề khác liên quan đến trường, thì mới vi phạm các quy định, nhất là những “quy chế phát ngôn” mà trường đã ban hành.

Thực tế đã có không ít trường hợp nhà khoa học gặp rắc rối với việc áp dụng cái gọi là “quy chế phát ngôn”, bị người đứng đầu cơ quan yêu cầu “xử lý”.

Vậy cần hiểu “quy chế phát ngôn” thế nào cho đúng?

Sau khi Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 25/2013/QĐ-TTg ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, nhiều cơ quan cũng ban hành quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin của riêng mình.

Cần nhớ rằng, quy chế phát ngôn được Thủ tướng Chính phủ ban hành dựa trên quyền được tiếp cận thông tin - một trong những quyền cơ bản của công dân quy định tại Hiến pháp. Theo quy chế này, các cơ quan hành chính nhà nước sẽ cử ra một người phát ngôn để cung cấp thông tin định kỳ và đột xuất cho báo chí về các vấn đề liên quan đến hoạt động của cơ quan. Đó cũng chính là cách thức để Nhà nước đảm bảo nghĩa vụ của mình, cho phép người dân thực hiện quyền được tiếp cận thông tin.

Chức năng quan trọng nhất của người phát ngôn là được nhân danh cơ quan khi phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (khoản 1, điều 6, Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, ban hành kèm theo Quyết định số 25/2013/QĐ-TTg ngày 4-5-2013 của Thủ tướng Chính phủ).

Những cá nhân khác, nếu không phải là người phát ngôn vẫn có thể trả lời phỏng vấn và cung cấp thông tin cho báo chí, nhưng họ không được nhân danh cơ quan và phải chịu trách nhiệm về phát ngôn của mình (khoản 4, điều 2).

Như vậy, các quy định về phát ngôn là rõ ràng.

Trở lại trường hợp của tiến sĩ A. Thứ nhất, ông không nhân danh cơ quan. Cần lưu ý nhân danh khác với công khai chức danh và nơi công tác. Ví dụ người phát ngôn của một bộ có thể thay mặt bộ nêu ý kiến về một vấn đề liên quan đến chức năng quản lý, công việc chuyên môn của bộ. Phát biểu của người phát ngôn cũng là quan điểm chính thức của bộ về vấn đề đó.

Nhưng một chuyên viên (không phải người phát ngôn) vẫn có thể đưa ra quan điểm riêng của mình, và quan điểm đó không phải ý kiến chính thức của bộ. Chuyên viên này không cần phải che giấu chức vụ và nơi công tác khi phát biểu, bởi đương nhiên đó được hiểu là ý kiến cá nhân.

Thứ hai, ông tiến sĩ hoàn toàn không nói về các hoạt động của nhà trường, mà chỉ nói về những kiến thức chuyên môn của mình. Kiến thức này là độc lập và ông phải chịu trách nhiệm về độ chính xác của nó.

Vì vậy, nếu nhà trường nơi tiến sĩ A công tác cho rằng ông đã vi phạm kỷ luật khi trả lời phỏng vấn báo chí là cố tình hiểu sai và áp đặt quy chế phát ngôn.

Thực tế cho thấy, nhiều cơ quan đang coi “quy chế phát ngôn” như một “bảo bối” trong công tác quản lý, nhằm hạn chế những tiếng nói phản biện. “Quy chế phát ngôn” với bản chất là để đảm bảo cho thông tin được cung cấp một cách công khai, minh bạch, nếu không được vận dụng đúng sẽ bị biến tướng thành “quy chế... hạn chế phát ngôn”.

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC