Mobile Area

Độc quyền hội - người tiêu dùng lãnh đủ

Chủ Nhật,  4/10/2015, 07:12 
Võ Trí Hảo (*)

Độc quyền hội - người tiêu dùng lãnh đủ

Võ Trí Hảo (*)

Giá nhiên liệu giảm mạnh trong thời gian dài nhưng giá cước taxi đã không giảm tương ứng. Ảnh: MINH KHUÊ

(TBKTSG) - Giá taxi, vận tải tưởng chừng được định đoạt theo cơ chế thị trường; nhưng sự thực nó đang được điều tiết bởi cơ chế độc quyền rất tinh vi: độc quyền hội.

Cửa hàng bán gạo mậu dịch từng được kỳ vọng sẽ phân phối gạo đầy đủ, nhanh chóng, tiện lợi tới người dân vì nó có khả năng loại bỏ sự cạnh tranh không cần thiết của cơ chế thị trường, tránh được thói đầu cơ của con buôn. Nhưng sự thực, độc quyền luôn gắn liền với tha hóa; ngoại trừ cán bộ thương nghiệp, gạo mậu dịch phân phối độc quyền được dân gian gắn liền với từ “hẩm, mốc”, cùng với những thành ngữ về xếp hàng. May mắn thay là cửa hàng gạo mậu dịch đã đi vào dĩ vãng. Tuy nhiên, độc quyền gắn liền với lợi ích nhóm không dễ dàng chịu ra đi hoàn toàn, mà đôi lúc nó tàng hình rất khéo trong những thể chế nửa thị trường.

Hội độc quyền

Quyền lập hội của công dân Việt Nam đều được ghi nhận long trọng trong các bản hiến pháp Việt Nam, nhưng quyền thiêng liêng mang giá trị thực tế khác nhau tùy theo các văn bản dưới luật.

Trong giai đoạn 1946-1957, người dân đã được hưởng trọn vẹn quyền này theo đúng Sắc lệnh 52/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh ban ngày 22-4-1946 với ba đặc điểm: (1) Hội được thành lập tự do, được phép cạnh tranh lẫn nhau; (2) Hội được thành lập theo nguyên tắc thông báo, chưa mang tính xin cho (nộp tờ khai, thay vì đơn xin); sau khi nhận biên lai nộp hồ sơ quá bốn ngày mà cơ quan có thẩm quyền không trả lời thì hội được mặc nhiên coi là đã thành lập hợp pháp (điều 4 sắc lệnh); (3) Việc xử lý, giải tán một hội vi phạm pháp luật thuộc về tòa án, không phải cơ quan hành chính.

Sau Cải cách ruộng đất, song song với việc thu hẹp quyền tư hữu, bảo đảm sự độc tôn của hai thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, Sắc lệnh 102/SL ngày 25-5-1957 công bố luật quy định quyền lập hội chuyển từ cơ chế tự do đăng ký thành lập thành cơ chế xin cho (điều 3).

Bước sang thời kỳ đổi mới, sự đa dạng về thành phần kinh tế kéo theo sự đa dạng về nghề nghiệp, về lợi ích. Nhiều hội mới được Nhà nước chủ động trực tiếp hay gián tiếp xúc tiến thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu điều tiết các thành phần lợi ích mới này. Vì vậy, bên cạnh nhóm tổ chức chính trị - xã hội, thì hai nhóm mới được pháp luật thể chế: tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp; tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

Quyền thành lập hội tại điều 23 Hiến pháp 2013 trong thực tế đã co hẹp lại thành quyền gia nhập hội sẵn có (nếu hội viên có cùng nhu cầu).

Bên cạnh các hội do Nhà nước xúc tiến thành lập, nhu cầu chính đáng về thành lập hội của nhân dân vẫn rất lớn. Vì vậy, Nhà nước ban hành các văn bản (Nghị định 88/2003, Nghị định 45/2010), để điều tiết nhóm “hội quần chúng” hay còn gọi là hội tự phát. Để loại bỏ sự cạnh tranh từ các “hội quần chúng” với các hội hiện hữu, điều 5 Nghị định 45/2010 đã làm rõ thêm nguyên tắc độc quyền hội, theo đó, một trong những điều kiện để thành lập hội là:

“Không trùng lặp về... lĩnh vực hoạt động chính với hội đã được thành lập hợp pháp trước đó trên cùng địa bàn lãnh thổ”.

Theo quy định này, thì tất cả hội ở Việt Nam là các hội độc quyền, bảo đảm không có sự cạnh tranh, dễ quản lý, theo đúng quy hoạch, phối hợp nhịp nhàng giống như một chuỗi thống nhất hệ thống các cửa hàng mậu dịch.

Tinh thần bao cấp này được tiếp tục giữ nguyên tại khoản 1, điều 7 dự thảo luật về hội(1).

Hội của người giàu - tự quản, hội của người nghèo - bao cấp

Hưởng ứng chính sách mở đường cho “hội quần chúng”, các doanh nghiệp đã nhanh chóng thành lập các hiệp hội từ nuôi trồng thủy sản, lương thực, titan... đến taxi. Khác với các hội văn thơ, nghệ thuật, hội đồng hương... hiệp hội của các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính hùng hậu, bằng chính sự đóng góp của hội viên, có năng lực vận động chính sách theo hướng có lợi cho các hội viên, kêu gọi Nhà nước giảm thuế, bù lỗ, khoanh nợ, ban hành chính sách ưu đãi và đôi lúc góp phần điều tiết giá cả của thị trường như trường hợp hiệp hội taxi.

Nông dân, người tiêu dùng, người nghèo, tuy chiếm số đông, nhưng lại rời rạc; không đủ nhanh nhạy để thành lập hội riêng cho mình, vì vậy đã được Nhà nước lo thay, bao cấp cho. Hội Nông dân, Hội Bảo vệ người tiêu dùng... được lập ra cho người nghèo, được hỗ trợ kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước, được cơ cấu nhân sự từ cơ quan chính trị. Có thể tạm nói, người nghèo đã được may mắn bao cấp.

Nhưng “ăn cây nào rào cây nấy”, những sản phẩm bao cấp này không chịu áp lực từ người nghèo, nên Hội Nông dân, Hội Bảo vệ người tiêu dùng không đủ năng nổ để đấu tranh chống lại hiệp hội của người giàu - của doanh nghiệp; kết cục giá taxi vẫn không hạ, quyền lợi người nghèo tiếp tục hưởng theo cơ chế bao cấp. Và dù hài lòng hay không, người tiêu dùng không có cơ hội thành lập ra hội thứ hai có cùng chức năng bảo vệ nông dân, bảo vệ người tiêu dùng, bởi triết lý chỉ được tồn tại một hội duy nhất có hoạt động chính trong mỗi lĩnh vực ở điều 5 Nghị định 45/2010/NĐ-CP và khoản 1, điều 7 dự thảo luật về hội nói trên.

Như vậy, trong phạm vi hành lang pháp lý đặc thù này, hội của người giàu dường như đã biết khai thác tốt hơn để tạo thế độc quyền trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ dưới vỏ bọc thị trường, tự nguyện, tự quản. Trong khi hội của người nghèo thì chưa đủ động lực, lợi ích thôi thúc để phá vỡ thế độc quyền mà hội người giàu thi thoảng giăng ra.

Thách thức trong hội nhập

Với cơ chế độc quyền, bao cấp về hội, duy trì bằng quy định cấm thành lập hội có lĩnh vực hoạt động chính với hội đã được thành lập hợp pháp trước đó như đã nói trên, thì quyền thành lập hội tại điều 23 Hiến pháp 2013 trong thực tế đã co hẹp lại thành quyền gia nhập hội sẵn có (nếu hội viên có cùng nhu cầu).

Thu hẹp “quyền tự do thành lập hội” thành “quyền tự do gia nhập hội” có sẵn sẽ đơn giản hóa việc quản lý nhà nước, tránh được câu chuyện cạnh tranh giữa các hội, đặc biệt là cạnh tranh với các hội hiện hữu. Tuy nhiên, việc thu hẹp quyền tự do lập hội như vậy sẽ thách thức Việt Nam trong hội nhập quốc tế.

Với việc đi ngược lại thông lệ quốc tế này, Việt Nam sẽ không được hưởng quy chế đầy đủ trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, thiệt thòi nhất sẽ là người nghèo. Một trong ví dụ điển hình là những người làm nghề đan mây tre, cói ngô không được hưởng Quy chế ưu đãi phổ cập (GSP) mà Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (BTA) đã ghi nhận, vì Nhà nước Việt Nam vẫn chưa bảo đảm quyền tự do thành lập công đoàn cho người lao động theo đúng chuẩn mực của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Thông tin tiết lộ trên báo chí cho thấy rằng Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tiếp tục đặt ra vấn đề bảo đảm quyền tự do thành lập công đoàn cho công nhân một cách dứt khoát hơn BTA.


(*) Khoa Luật, Đại học Kinh tế TPHCM

(1) Tác giả dựa vào Dự thảo cơ quan chức năng công bố trên www.duthaoonline.quochoi.vn ngày 22- 9- 2015.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Xuất khẩu gạo giảm: Cần những đánh giá khách quan
'Nạn nhân' của tổng thầu Trung Quốc
Nhận diện nhiệt điện than
Liên minh năng lượng bền vững Việt Nam ủng hộ chấm dứt khai thác nhiên liệu hoá thạch
Chính phủ điện tử, chỉ số PAPI và quốc gia 4.0
Độc quyền hội - người tiêu dùng lãnh đủ
Võ Trí Hảo (*)
Chủ Nhật,  4/10/2015, 07:12 

Độc quyền hội - người tiêu dùng lãnh đủ

Võ Trí Hảo (*)

Giá nhiên liệu giảm mạnh trong thời gian dài nhưng giá cước taxi đã không giảm tương ứng. Ảnh: MINH KHUÊ

(TBKTSG) - Giá taxi, vận tải tưởng chừng được định đoạt theo cơ chế thị trường; nhưng sự thực nó đang được điều tiết bởi cơ chế độc quyền rất tinh vi: độc quyền hội.

Cửa hàng bán gạo mậu dịch từng được kỳ vọng sẽ phân phối gạo đầy đủ, nhanh chóng, tiện lợi tới người dân vì nó có khả năng loại bỏ sự cạnh tranh không cần thiết của cơ chế thị trường, tránh được thói đầu cơ của con buôn. Nhưng sự thực, độc quyền luôn gắn liền với tha hóa; ngoại trừ cán bộ thương nghiệp, gạo mậu dịch phân phối độc quyền được dân gian gắn liền với từ “hẩm, mốc”, cùng với những thành ngữ về xếp hàng. May mắn thay là cửa hàng gạo mậu dịch đã đi vào dĩ vãng. Tuy nhiên, độc quyền gắn liền với lợi ích nhóm không dễ dàng chịu ra đi hoàn toàn, mà đôi lúc nó tàng hình rất khéo trong những thể chế nửa thị trường.

Hội độc quyền

Quyền lập hội của công dân Việt Nam đều được ghi nhận long trọng trong các bản hiến pháp Việt Nam, nhưng quyền thiêng liêng mang giá trị thực tế khác nhau tùy theo các văn bản dưới luật.

Trong giai đoạn 1946-1957, người dân đã được hưởng trọn vẹn quyền này theo đúng Sắc lệnh 52/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh ban ngày 22-4-1946 với ba đặc điểm: (1) Hội được thành lập tự do, được phép cạnh tranh lẫn nhau; (2) Hội được thành lập theo nguyên tắc thông báo, chưa mang tính xin cho (nộp tờ khai, thay vì đơn xin); sau khi nhận biên lai nộp hồ sơ quá bốn ngày mà cơ quan có thẩm quyền không trả lời thì hội được mặc nhiên coi là đã thành lập hợp pháp (điều 4 sắc lệnh); (3) Việc xử lý, giải tán một hội vi phạm pháp luật thuộc về tòa án, không phải cơ quan hành chính.

Sau Cải cách ruộng đất, song song với việc thu hẹp quyền tư hữu, bảo đảm sự độc tôn của hai thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, Sắc lệnh 102/SL ngày 25-5-1957 công bố luật quy định quyền lập hội chuyển từ cơ chế tự do đăng ký thành lập thành cơ chế xin cho (điều 3).

Bước sang thời kỳ đổi mới, sự đa dạng về thành phần kinh tế kéo theo sự đa dạng về nghề nghiệp, về lợi ích. Nhiều hội mới được Nhà nước chủ động trực tiếp hay gián tiếp xúc tiến thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu điều tiết các thành phần lợi ích mới này. Vì vậy, bên cạnh nhóm tổ chức chính trị - xã hội, thì hai nhóm mới được pháp luật thể chế: tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp; tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

Quyền thành lập hội tại điều 23 Hiến pháp 2013 trong thực tế đã co hẹp lại thành quyền gia nhập hội sẵn có (nếu hội viên có cùng nhu cầu).

Bên cạnh các hội do Nhà nước xúc tiến thành lập, nhu cầu chính đáng về thành lập hội của nhân dân vẫn rất lớn. Vì vậy, Nhà nước ban hành các văn bản (Nghị định 88/2003, Nghị định 45/2010), để điều tiết nhóm “hội quần chúng” hay còn gọi là hội tự phát. Để loại bỏ sự cạnh tranh từ các “hội quần chúng” với các hội hiện hữu, điều 5 Nghị định 45/2010 đã làm rõ thêm nguyên tắc độc quyền hội, theo đó, một trong những điều kiện để thành lập hội là:

“Không trùng lặp về... lĩnh vực hoạt động chính với hội đã được thành lập hợp pháp trước đó trên cùng địa bàn lãnh thổ”.

Theo quy định này, thì tất cả hội ở Việt Nam là các hội độc quyền, bảo đảm không có sự cạnh tranh, dễ quản lý, theo đúng quy hoạch, phối hợp nhịp nhàng giống như một chuỗi thống nhất hệ thống các cửa hàng mậu dịch.

Tinh thần bao cấp này được tiếp tục giữ nguyên tại khoản 1, điều 7 dự thảo luật về hội(1).

Hội của người giàu - tự quản, hội của người nghèo - bao cấp

Hưởng ứng chính sách mở đường cho “hội quần chúng”, các doanh nghiệp đã nhanh chóng thành lập các hiệp hội từ nuôi trồng thủy sản, lương thực, titan... đến taxi. Khác với các hội văn thơ, nghệ thuật, hội đồng hương... hiệp hội của các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính hùng hậu, bằng chính sự đóng góp của hội viên, có năng lực vận động chính sách theo hướng có lợi cho các hội viên, kêu gọi Nhà nước giảm thuế, bù lỗ, khoanh nợ, ban hành chính sách ưu đãi và đôi lúc góp phần điều tiết giá cả của thị trường như trường hợp hiệp hội taxi.

Nông dân, người tiêu dùng, người nghèo, tuy chiếm số đông, nhưng lại rời rạc; không đủ nhanh nhạy để thành lập hội riêng cho mình, vì vậy đã được Nhà nước lo thay, bao cấp cho. Hội Nông dân, Hội Bảo vệ người tiêu dùng... được lập ra cho người nghèo, được hỗ trợ kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước, được cơ cấu nhân sự từ cơ quan chính trị. Có thể tạm nói, người nghèo đã được may mắn bao cấp.

Nhưng “ăn cây nào rào cây nấy”, những sản phẩm bao cấp này không chịu áp lực từ người nghèo, nên Hội Nông dân, Hội Bảo vệ người tiêu dùng không đủ năng nổ để đấu tranh chống lại hiệp hội của người giàu - của doanh nghiệp; kết cục giá taxi vẫn không hạ, quyền lợi người nghèo tiếp tục hưởng theo cơ chế bao cấp. Và dù hài lòng hay không, người tiêu dùng không có cơ hội thành lập ra hội thứ hai có cùng chức năng bảo vệ nông dân, bảo vệ người tiêu dùng, bởi triết lý chỉ được tồn tại một hội duy nhất có hoạt động chính trong mỗi lĩnh vực ở điều 5 Nghị định 45/2010/NĐ-CP và khoản 1, điều 7 dự thảo luật về hội nói trên.

Như vậy, trong phạm vi hành lang pháp lý đặc thù này, hội của người giàu dường như đã biết khai thác tốt hơn để tạo thế độc quyền trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ dưới vỏ bọc thị trường, tự nguyện, tự quản. Trong khi hội của người nghèo thì chưa đủ động lực, lợi ích thôi thúc để phá vỡ thế độc quyền mà hội người giàu thi thoảng giăng ra.

Thách thức trong hội nhập

Với cơ chế độc quyền, bao cấp về hội, duy trì bằng quy định cấm thành lập hội có lĩnh vực hoạt động chính với hội đã được thành lập hợp pháp trước đó như đã nói trên, thì quyền thành lập hội tại điều 23 Hiến pháp 2013 trong thực tế đã co hẹp lại thành quyền gia nhập hội sẵn có (nếu hội viên có cùng nhu cầu).

Thu hẹp “quyền tự do thành lập hội” thành “quyền tự do gia nhập hội” có sẵn sẽ đơn giản hóa việc quản lý nhà nước, tránh được câu chuyện cạnh tranh giữa các hội, đặc biệt là cạnh tranh với các hội hiện hữu. Tuy nhiên, việc thu hẹp quyền tự do lập hội như vậy sẽ thách thức Việt Nam trong hội nhập quốc tế.

Với việc đi ngược lại thông lệ quốc tế này, Việt Nam sẽ không được hưởng quy chế đầy đủ trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, thiệt thòi nhất sẽ là người nghèo. Một trong ví dụ điển hình là những người làm nghề đan mây tre, cói ngô không được hưởng Quy chế ưu đãi phổ cập (GSP) mà Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (BTA) đã ghi nhận, vì Nhà nước Việt Nam vẫn chưa bảo đảm quyền tự do thành lập công đoàn cho người lao động theo đúng chuẩn mực của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Thông tin tiết lộ trên báo chí cho thấy rằng Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tiếp tục đặt ra vấn đề bảo đảm quyền tự do thành lập công đoàn cho công nhân một cách dứt khoát hơn BTA.


(*) Khoa Luật, Đại học Kinh tế TPHCM

(1) Tác giả dựa vào Dự thảo cơ quan chức năng công bố trên www.duthaoonline.quochoi.vn ngày 22- 9- 2015.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập phụ trách online: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Yến Dung, Phó thư ký tòa soạn: Minh Châu.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Tạp chí Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Tạp chí Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Tạp chí Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.