Mobile Area

Để dễ dàng nhận tài sản bảo đảm thay thế nghĩa vụ trả nợ

Thứ Hai,  13/2/2017, 16:30 
Luật sư Trần Quang Vinh (*)

Để dễ dàng nhận tài sản bảo đảm thay thế nghĩa vụ trả nợ

Luật sư Trần Quang Vinh (*)

(TBKTSG) - Liên quan đến giao dịch bảo đảm, pháp luật hiện hành đã quy định khi khách hàng vay nợ quá hạn thì bên nhận bảo đảm được quyền “nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm” nếu các bên có thỏa thuận (điểm c, khoản 1, điều 303 Bộ luật Dân sự 2015 về phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp). Trong thời gian qua, đây được xem là một trong những biện pháp khá hiệu quả để xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm nói chung và các tổ chức tín dụng (TCTD) nói riêng trong hoạt động xử lý nợ quá hạn.

Tuy nhiên trong quá trình áp dụng, quy định này vẫn còn một số bất cập dẫn đến khó khăn cho các bên cũng như cơ quan có thẩm quyền.

Pháp luật hiện hành quy định bên nhận bảo đảm sau khi nhận tài sản để thay thế nghĩa vụ nợ thì phải thực hiện việc đăng ký chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với các tài sản thuộc trường hợp phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng (khoản 2, điều 11 Thông tư liên tịch số 16 năm 2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước).

Ngoài ra, Nghị định 11/2012 sửa đổi, bổ sung Nghị định 163/2006 quy định: “Trong trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở thì tổ chức, cá nhân mua tài sản bảo đảm hoặc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm phải thuộc đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp tổ chức, cá nhân không thuộc đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì chỉ được hưởng giá trị quyền sử dụng đất, giá trị nhà ở”. Không rõ tinh thần của nghị định này có được hiểu là bên nhận tài sản được quyền chủ động xử lý tài sản bảo đảm để nhận giá trị bằng tiền từ tài sản nhằm thu hồi nợ hay không? Do các quy định này đã không quy định về quyền xử lý của bên nhận tài sản. Trong khi đó, một số quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan quy định TCTD không thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản.

Thực tế, khi gặp trường hợp trên, cơ quan chức năng sẽ rất lúng túng, nhất là trường hợp sau khi các bên đã ký văn bản thỏa thuận về việc bên nhận tài sản bảo đảm đồng ý nhận tài sản bảo đảm để thay thế một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ nợ thì mới phát hiện ra quy định pháp luật không cho phép.

Ngoài ra, ngay cả khi đã có bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật và đến giai đoạn tổ chức thi hành án, quy định hiện hành cũng cho phép việc nhận tài sản này để thay thế nghĩa vụ nợ. Cụ thể, tại khoản 1, điều 100 Luật Thi hành án dân sự quy định “Trường hợp đương sự thỏa thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án thì chấp hành viên lập biên bản về việc thỏa thuận”. Nhưng quy định này cũng sẽ bị vướng tương tự như trường hợp trên, khi tài sản bảo đảm thuộc trường hợp không được phép đăng ký chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng cho bên được thi hành án (bên nhận bảo đảm hoặc TCTD).

Hiện nay, nghị định hướng dẫn Luật Thi hành án chưa có quy định nào đối với trường hợp này.

Thiết nghĩ, để khắc phục các hạn chế trên, sắp tới khi ban hành văn bản hướng dẫn Bộ luật Dân sự 2015 về giao dịch bảo đảm, cơ quan chức năng cần xem xét sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định rõ trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận về việc nhận tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ trả nợ hoặc bên được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thay thế nghĩa vụ nợ của bên phải thi hành án nhưng tài sản thuộc trường hợp bên nhận bảo đảm hoặc bên được thi hành án không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng thì bên nhận bảo đảm và bên được thi hành án vẫn được quyền nhận tài sản và sau đó được quyền tự bán/chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, hoán đổi tài sản hoặc các biện pháp xử lý khác theo quy định pháp luật,... để nhận được giá trị tài sản nhằm thu hồi nợ.

Về giá trị phần nợ được cấn trừ thì sẽ được xác định tương ứng với giá trị tài sản được giao, nhận để thay thế nghĩa vụ nợ. Giá trị tài sản có thể được xác định như sau: trường hợp tài sản được xử lý không thông qua thi hành án thì giá trị tài sản cấn trừ nợ do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì bên nhận bảo đảm được quyền yêu cầu cơ quan có chức năng thẩm định giá độc lập xác định giá trị tài sản làm giá trị để giao, nhận thay thế nghĩa vụ nợ. Đối với trường hợp thông qua cơ quan thi hành án thì giá trị tài sản cấn trừ nợ là giá bán khởi điểm của phiên đấu giá lần cuối không thành.

(*) Công ty Luật Tindona Việt Nam

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Mong manh bảo đảm khoản vay bằng tài sản của... người khác
Xử lý nghiêm việc thao túng giá, đầu cơ trục lợi giá thịt heo
Xử phạt 85 cửa hàng kinh doanh tăng giá khẩu trang
Xử lý những đối tượng lợi dụng virus Corona để đầu cơ, tăng giá trang thiết bị y tế
Hai điểm yếu sinh tử của luật trong bảo vệ cổ đông thiểu số
Để dễ dàng nhận tài sản bảo đảm thay thế nghĩa vụ trả nợ
Luật sư Trần Quang Vinh (*)
Thứ Hai,  13/2/2017, 16:30 

Để dễ dàng nhận tài sản bảo đảm thay thế nghĩa vụ trả nợ

Luật sư Trần Quang Vinh (*)

(TBKTSG) - Liên quan đến giao dịch bảo đảm, pháp luật hiện hành đã quy định khi khách hàng vay nợ quá hạn thì bên nhận bảo đảm được quyền “nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm” nếu các bên có thỏa thuận (điểm c, khoản 1, điều 303 Bộ luật Dân sự 2015 về phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp). Trong thời gian qua, đây được xem là một trong những biện pháp khá hiệu quả để xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm nói chung và các tổ chức tín dụng (TCTD) nói riêng trong hoạt động xử lý nợ quá hạn.

Tuy nhiên trong quá trình áp dụng, quy định này vẫn còn một số bất cập dẫn đến khó khăn cho các bên cũng như cơ quan có thẩm quyền.

Pháp luật hiện hành quy định bên nhận bảo đảm sau khi nhận tài sản để thay thế nghĩa vụ nợ thì phải thực hiện việc đăng ký chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với các tài sản thuộc trường hợp phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng (khoản 2, điều 11 Thông tư liên tịch số 16 năm 2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước).

Ngoài ra, Nghị định 11/2012 sửa đổi, bổ sung Nghị định 163/2006 quy định: “Trong trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở thì tổ chức, cá nhân mua tài sản bảo đảm hoặc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm phải thuộc đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp tổ chức, cá nhân không thuộc đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì chỉ được hưởng giá trị quyền sử dụng đất, giá trị nhà ở”. Không rõ tinh thần của nghị định này có được hiểu là bên nhận tài sản được quyền chủ động xử lý tài sản bảo đảm để nhận giá trị bằng tiền từ tài sản nhằm thu hồi nợ hay không? Do các quy định này đã không quy định về quyền xử lý của bên nhận tài sản. Trong khi đó, một số quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan quy định TCTD không thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản.

Thực tế, khi gặp trường hợp trên, cơ quan chức năng sẽ rất lúng túng, nhất là trường hợp sau khi các bên đã ký văn bản thỏa thuận về việc bên nhận tài sản bảo đảm đồng ý nhận tài sản bảo đảm để thay thế một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ nợ thì mới phát hiện ra quy định pháp luật không cho phép.

Ngoài ra, ngay cả khi đã có bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật và đến giai đoạn tổ chức thi hành án, quy định hiện hành cũng cho phép việc nhận tài sản này để thay thế nghĩa vụ nợ. Cụ thể, tại khoản 1, điều 100 Luật Thi hành án dân sự quy định “Trường hợp đương sự thỏa thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án thì chấp hành viên lập biên bản về việc thỏa thuận”. Nhưng quy định này cũng sẽ bị vướng tương tự như trường hợp trên, khi tài sản bảo đảm thuộc trường hợp không được phép đăng ký chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng cho bên được thi hành án (bên nhận bảo đảm hoặc TCTD).

Hiện nay, nghị định hướng dẫn Luật Thi hành án chưa có quy định nào đối với trường hợp này.

Thiết nghĩ, để khắc phục các hạn chế trên, sắp tới khi ban hành văn bản hướng dẫn Bộ luật Dân sự 2015 về giao dịch bảo đảm, cơ quan chức năng cần xem xét sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định rõ trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận về việc nhận tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ trả nợ hoặc bên được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thay thế nghĩa vụ nợ của bên phải thi hành án nhưng tài sản thuộc trường hợp bên nhận bảo đảm hoặc bên được thi hành án không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng thì bên nhận bảo đảm và bên được thi hành án vẫn được quyền nhận tài sản và sau đó được quyền tự bán/chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, hoán đổi tài sản hoặc các biện pháp xử lý khác theo quy định pháp luật,... để nhận được giá trị tài sản nhằm thu hồi nợ.

Về giá trị phần nợ được cấn trừ thì sẽ được xác định tương ứng với giá trị tài sản được giao, nhận để thay thế nghĩa vụ nợ. Giá trị tài sản có thể được xác định như sau: trường hợp tài sản được xử lý không thông qua thi hành án thì giá trị tài sản cấn trừ nợ do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì bên nhận bảo đảm được quyền yêu cầu cơ quan có chức năng thẩm định giá độc lập xác định giá trị tài sản làm giá trị để giao, nhận thay thế nghĩa vụ nợ. Đối với trường hợp thông qua cơ quan thi hành án thì giá trị tài sản cấn trừ nợ là giá bán khởi điểm của phiên đấu giá lần cuối không thành.

(*) Công ty Luật Tindona Việt Nam

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập phụ trách online: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Tấn Mỹ, Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.