Mobile

Cần thận trọng với dự án Cái Lớn - Cái Bé
Thứ Năm,  31/5/2018, 10:20 
Dương Văn Ni

Cần thận trọng với dự án Cái Lớn - Cái Bé

Dương Văn Ni

(TBKTSG) - Vùng Tây Nam sông Hậu của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện có ba dự án “khủng”, được tính bằng đơn vị ngàn tỉ đồng, gồm Thoát lũ ra biển Tây, Ô Môn - Xà No và Ngọt hóa bán đảo Cà Mau. Chính phủ vừa phê duyệt chủ trương đầu tư một dự án “khủng” nữa là dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé (Quyết định 498/QĐ.TTg). Trong khi kết quả được - mất của ba dự án trên chưa được đánh giá cụ thể, người dân không khỏi băn khoăn khi thực hiện dự án thứ tư này.

Chuyên gia: Không cần thiết phải xây dựng dự án thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé

Một cánh đồng lúa đang trổ bông tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu bị “xèo” do mặn trong đất xì lên vì không có mưa. Người dân chấp nhận bỏ vụ lúa, sên mương để chuẩn bị đưa nước mặn vào nuôi vụ tôm sú. Ảnh: Dương Văn Ni

Chưa khảo sát cặn kẽ môi trường tự nhiên

Nếu nhìn vào bản đồ ĐBSCL thì từ Châu Đốc đến Sóc Trăng không có một nhánh sông nào từ sông Hậu chảy ra đến biển Tây. Cơ bản là nước chỉ chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp, hay cụ thể hơn là ở đồng bằng thì sông chỉ đổ ra phía biển sâu. Điều này cho thấy là sông Cửu Long có chín cửa đều đổ ra phía biển Đông vì nơi đây sâu hơn phía biển Tây.

Vì vậy, ai cũng biết là đất vùng bán đảo Cà Mau không phải do phù sa sông Hậu bồi lắng trực tiếp, mà là do phù sa từ phía biển, như mũi Cà Mau mấy năm trước mỗi năm kéo dài ra hàng chục mét mà nước sông Hậu đâu có chảy tới đó. Đất ở đây được bồi tụ trong môi trường nước mặn, tức là trong đất có sẵn muối.

Nhờ mỗi năm trời cho lượng nước mưa trên 2.000 mi li mét mà người dân ở đây biết cách tận dụng nước mưa rửa mặn lớp đất mặt để trồng lúa trong mùa mưa; hoặc lên liếp cao ráo rồi sau vài năm hết mặn thì có thể trồng rau màu hay cây ăn trái.

Từ lâu người dân nơi đây đã coi nguồn nước mặn là một tài nguyên! Bây giờ chúng ta giảm mặn tăng ngọt thì thiệt hại cho người dân nuôi trồng thủy sản ai gánh?

Cũng vì đất được phù sa bồi lắng trong môi trường nước mặn hoặc lợ nên trong đất hình thành vật liệu sinh phèn, người dân gọi là đất phèn tiềm tàng. Tức là vật liệu sinh phèn này nếu được giữ trong môi trường yếm khí thì vô hại, nhưng nếu để tiếp xúc với không khí thì chúng bị oxy hóa và sinh ra phèn, làm nước và đất trở nên rất chua, cây trồng và vật nuôi không thể sống được, lúc này người ta gọi nó là đất phèn hoạt động.

Mỗi năm khi mùa khô đến thì muối mặn và phèn chua trong đất bị mao dẫn lên mặt đất. Khi các trận mưa đầu mùa đến, nước mưa hòa tan các muối mặn và phèn chua này và đổ vào sông rạch, mùa này nước trong sông rạch trong như mắt mèo và không hề có cá tôm sinh sống. Nhờ hai chế độ triều khác nhau giữa biển Đông và biển Tây mà chúng tạo ra lực hút - đẩy rất nhịp nhàng, làm cho nước di chuyển trong toàn vùng và đẩy nguồn nước phèn mặn này đi nơi khác.

Do trong đất có sẵn muối nên hễ năm nào ít mưa hay hạn bà chằng kéo dài một chút là mặn trong đất xì lên làm thiệt hại cây trồng. Đặc biệt là không ai bơm nước từ sông rạch vào ruộng hay ao nuôi thủy sản của mình vào đầu mùa mưa vì nguồn nước này đã bị ô nhiễm phèn mặn từ trong đất xì ra. Họ chờ cho đến khi mưa già và hệ thống sông rạch được tẩy rửa theo con nước lớn - ròng đến khi không còn nước ô nhiễm mặn phèn thì mới dỡ bọng cho nước trong ruộng trong ao thông thương với nguồn nước trên sông rạch, nên vai trò của sông rạch lúc này là tiêu mặn - xổ phèn.

Cũng vì trong đất có vật liệu sinh phèn nên ở những nơi trũng, thuộc đất phèn tiềm tàng, thì người dân không dám để đất khô, sợ phèn oxy hóa rồi xì lên thì rất khó cải tạo. Do đó, trong mùa khô, họ luôn luôn giữ ướt cho vùng đất này bằng nguồn nước mặn, mô hình mùa khô cho nước mặn vào ruộng để khai thác cá kèo, cá đối, cua, tép bạc và mùa mưa sau khi rửa mặn rồi trồng lúa, mô hình lúa - tôm ra đời trong hoàn cảnh đó. Nhiều lão nông tri điền, trước lúc thấy mình “gần đất xa trời”, còn ráng căn dặn con cháu là “đất láng (trũng) mà để khô thì nghèo ba năm”.

Như vậy là từ lâu người dân nơi đây đã coi nguồn nước mặn là một tài nguyên!

Những kiến thức bản địa vô giá

Những cư dân đầu tiên khi mang cả gia đình và tài sản của mình vào vùng “muỗi kêu như sáo thổi” này đã ý thức rất rõ là họ đang đi vào vùng thiếu nước ngọt, và nguồn nước ngọt ở đây chủ yếu là trời cho. Vì vậy, trên mỗi chiếc ghe đều có một cái khạp, nếu có mưa là tranh thủ hứng nước cho đầy khạp. Khi lên bờ định cư thì nhà nào cũng có đủ lu hũ chứa nước mưa để sinh hoạt suốt mùa khô.

Đáng quan tâm hơn là khi khai khẩn xong miếng đất để canh tác thì họ đào một hệ thống mương bao xung quanh, đất đem đắp thành bờ bao cao ráo, sau vài năm rỏ hết phèn mặn thì trồng hoa màu và cây ăn trái, hệ thống này dùng để trữ nước mưa và tiêu thoát các chất phèn mặn trong đất, gọi là vuông.

Vuông ở địa hình cao thì dễ tiêu nước nên rửa phèn mặn nhanh hơn vuông ở địa hình trũng thấp. Khi có những giống lúa cao sản ngắn ngày thì các vuông ở địa hình cao là nơi đầu tiên tăng từ một vụ lúa mùa lên hai vụ lúa cao sản trong năm. Dần dà, do có các cống đập giữ được nước ngọt trong mùa khô nên nhiều nơi làm cả vụ ba. Dù có nguồn nước ngọt nhưng người dân hạn chế canh tác từ khoảng tháng 5 đến tháng 6 là để “né” nguồn nước bị ô nhiễm phèn mặn vào đầu mùa mưa. Riêng các vuông trũng thì mô hình lúa - tôm đã được áp dụng và còn duy trì cho đến ngày nay. Đáng quan tâm là việc tăng vụ đó làm kéo dài thời gian canh tác cây lúa cũng như cần nhiều nước ngọt hơn để tưới trong suốt thời gian không có mưa từ tháng 11 đến tháng 4.

Dù đã được xây dựng và quản lý rất kỳ công các vuông như vậy, nhưng do đất được hình thành từ biển nên các lớp đất bên dưới vẫn còn chứa rất nhiều muối. Vì vậy nếu năm nào mưa thuận gió hòa thì không sao, nhưng nếu lượng mưa giảm đi thì lập tức muối và phèn trong đất xì lên làm thiệt hại mùa màng rất đáng kể.

Đặc biệt là năm nào hết mưa và gió chướng đến sớm thì nước mặn xâm nhập vào hệ thống sông rạch sâu hơn. Nguồn nước mặn này nếu có gây ra thiệt hại thì chỉ xảy ra trên cây lúa, cụ thể là lúa vụ hai muộn hoặc lúa vụ ba xuống giống sớm và nông dân không cẩn thận khi cho nước vào ruộng làm “xèo” lúa rồi mới biết là nước mặn, nên trở tay không kịp.

Những nỗi lo còn đó

Đợt hạn mặn năm 2015-2016 đã được đánh giá và ước lượng thiệt hại trên lĩnh vực nông nghiệp cho toàn vùng khoảng 3.000 tỉ đồng, chủ yếu là giảm năng suất lúa. Trong đó “thủ phạm” bị quy tội là nguồn nước mặn xâm nhập sâu qua các hệ thống kênh rạch chưa có cống đập kiểm soát, để rồi đi đến đề xuất là xây cống Cái Lớn - Cái Bé để làm giảm mặn, giữ ngọt cho vùng bán đảo Cà Mau.

Vậy còn mặn phèn trong đất thì sao? Nếu xảy ra hạn hán kéo dài, mặn trong đất xì lên làm ảnh hưởng cây trồng thì nguồn nước ngọt giữ được (?) trong các sông rạch liệu có đủ để bơm vào đồng ruộng mà pha loãng độ mặn này không? Giả như hạn hán kiểu năm 2015-2016 thì mực nước sông Hậu thấp hơn bình thường rất nhiều, vậy nếu có xây thêm trạm bơm bổ sung từ Cần Thơ thì chưa chắc có đủ nước ngọt mà bơm, mà có bơm thì chưa chắc nước chảy được vì nếu bơm thì phải bơm lúc nước ròng từ sông Hậu để không bị mặn, nhưng phía biển Tây coi chừng lại là nước lớn vì có hai chế độ triều khác nhau.

Cũng do điều kiện hình thành đất mà vùng trũng, vùng gò đan xen nhau dọc hai bên dòng sông. Hàng trăm năm qua, hễ nước lớn đưa nước mặn vào thì người dân sống ở vùng trũng lấy nước vào để “ém phèn” và khai thác thủy sản, khi nước ròng chảy ra thì độ mặn giảm nên người dân vùng gò bơm nước vào cho ruộng rẫy.

Nhịp sống hài hòa giữa thiên nhiên và xóm làng như vậy chẳng phải là rất “thuận thiên” sao? Bây giờ chúng ta giảm mặn tăng ngọt thì thiệt hại cho người dân nuôi trồng thủy sản này ai gánh? Chưa nói đến là trong một gia đình có vuông thì trồng lúa, có vuông thì nuôi tôm; dù con tôm có nhiều rủi ro nhưng xem ra ai cũng nói trong mười năm qua con tôm đã “gánh” cho cây lúa rất nhiều. Trên bình diện quốc gia, năm 2017 xuất khẩu thủy sản đạt 8,4 tỉ đô la Mỹ và xuất khẩu gạo đạt 2,6 tỉ đô la Mỹ và thứ tự ưu tiên hiện nay là thủy sản - cây ăn trái - lúa gạo cho toàn vùng ĐBSCL, vậy thứ tự ưu tiên của vùng dự án Cái Lớn - Cái Bé là gì? Bài toán kinh tế giữa đầu tư - lợi nhuận ra sao?

Vùng Tây Nam sông Hậu đã có ba dự án thủy lợi “khủng”. Dự án Cái Lớn - Cái Bé mới này sẽ có những tác động tích cực và tiêu cực ra sao đối với ba dự án này?

Với quá nhiều nỗi lo như vậy và với số tiền tới hơn 3.300 tỉ đồng đầu tư, các bước đi phải rất thận trọng để sau này không phải hối tiếc. Vì vậy, tôi đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông (NN-PTNT), cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì dự án, nên công bố tất cả các tài liệu liên quan về dự án lên cổng thông tin điện tử, cho người dân được tham gia góp ý và chia sẻ các quan ngại. Làm được điều này, tức là Bộ NN-PTNT đã thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam trong các Công ước Montreal (1987), Tuyên bố Rio (1992), Tuyên bố Winspread (1998), và Công ước Kyoto sửa đổi (2006). Đó là: “Khi một hành động hoặc một chính sách bị nghi ngờ có rủi ro gây hại cho công chúng hoặc cho môi trường và thiếu sự đồng thuận khoa học rằng hành động hoặc chính sách đó là không gây hại, thì trách nhiệm chứng minh (burden of proof) rằng hành động đó không có hại là thuộc về phía đưa ra hành động hoặc chính sách đó”.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Thứ Bảy,  16/2/2019, 16:11 
Đặt báo in

Cần thận trọng với dự án Cái Lớn - Cái Bé

Dương Văn Ni
Thứ Năm,  31/5/2018, 10:20 

Cần thận trọng với dự án Cái Lớn - Cái Bé

Dương Văn Ni

(TBKTSG) - Vùng Tây Nam sông Hậu của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện có ba dự án “khủng”, được tính bằng đơn vị ngàn tỉ đồng, gồm Thoát lũ ra biển Tây, Ô Môn - Xà No và Ngọt hóa bán đảo Cà Mau. Chính phủ vừa phê duyệt chủ trương đầu tư một dự án “khủng” nữa là dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé (Quyết định 498/QĐ.TTg). Trong khi kết quả được - mất của ba dự án trên chưa được đánh giá cụ thể, người dân không khỏi băn khoăn khi thực hiện dự án thứ tư này.

Chuyên gia: Không cần thiết phải xây dựng dự án thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé

Một cánh đồng lúa đang trổ bông tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu bị “xèo” do mặn trong đất xì lên vì không có mưa. Người dân chấp nhận bỏ vụ lúa, sên mương để chuẩn bị đưa nước mặn vào nuôi vụ tôm sú. Ảnh: Dương Văn Ni

Chưa khảo sát cặn kẽ môi trường tự nhiên

Nếu nhìn vào bản đồ ĐBSCL thì từ Châu Đốc đến Sóc Trăng không có một nhánh sông nào từ sông Hậu chảy ra đến biển Tây. Cơ bản là nước chỉ chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp, hay cụ thể hơn là ở đồng bằng thì sông chỉ đổ ra phía biển sâu. Điều này cho thấy là sông Cửu Long có chín cửa đều đổ ra phía biển Đông vì nơi đây sâu hơn phía biển Tây.

Vì vậy, ai cũng biết là đất vùng bán đảo Cà Mau không phải do phù sa sông Hậu bồi lắng trực tiếp, mà là do phù sa từ phía biển, như mũi Cà Mau mấy năm trước mỗi năm kéo dài ra hàng chục mét mà nước sông Hậu đâu có chảy tới đó. Đất ở đây được bồi tụ trong môi trường nước mặn, tức là trong đất có sẵn muối.

Nhờ mỗi năm trời cho lượng nước mưa trên 2.000 mi li mét mà người dân ở đây biết cách tận dụng nước mưa rửa mặn lớp đất mặt để trồng lúa trong mùa mưa; hoặc lên liếp cao ráo rồi sau vài năm hết mặn thì có thể trồng rau màu hay cây ăn trái.

Từ lâu người dân nơi đây đã coi nguồn nước mặn là một tài nguyên! Bây giờ chúng ta giảm mặn tăng ngọt thì thiệt hại cho người dân nuôi trồng thủy sản ai gánh?

Cũng vì đất được phù sa bồi lắng trong môi trường nước mặn hoặc lợ nên trong đất hình thành vật liệu sinh phèn, người dân gọi là đất phèn tiềm tàng. Tức là vật liệu sinh phèn này nếu được giữ trong môi trường yếm khí thì vô hại, nhưng nếu để tiếp xúc với không khí thì chúng bị oxy hóa và sinh ra phèn, làm nước và đất trở nên rất chua, cây trồng và vật nuôi không thể sống được, lúc này người ta gọi nó là đất phèn hoạt động.

Mỗi năm khi mùa khô đến thì muối mặn và phèn chua trong đất bị mao dẫn lên mặt đất. Khi các trận mưa đầu mùa đến, nước mưa hòa tan các muối mặn và phèn chua này và đổ vào sông rạch, mùa này nước trong sông rạch trong như mắt mèo và không hề có cá tôm sinh sống. Nhờ hai chế độ triều khác nhau giữa biển Đông và biển Tây mà chúng tạo ra lực hút - đẩy rất nhịp nhàng, làm cho nước di chuyển trong toàn vùng và đẩy nguồn nước phèn mặn này đi nơi khác.

Do trong đất có sẵn muối nên hễ năm nào ít mưa hay hạn bà chằng kéo dài một chút là mặn trong đất xì lên làm thiệt hại cây trồng. Đặc biệt là không ai bơm nước từ sông rạch vào ruộng hay ao nuôi thủy sản của mình vào đầu mùa mưa vì nguồn nước này đã bị ô nhiễm phèn mặn từ trong đất xì ra. Họ chờ cho đến khi mưa già và hệ thống sông rạch được tẩy rửa theo con nước lớn - ròng đến khi không còn nước ô nhiễm mặn phèn thì mới dỡ bọng cho nước trong ruộng trong ao thông thương với nguồn nước trên sông rạch, nên vai trò của sông rạch lúc này là tiêu mặn - xổ phèn.

Cũng vì trong đất có vật liệu sinh phèn nên ở những nơi trũng, thuộc đất phèn tiềm tàng, thì người dân không dám để đất khô, sợ phèn oxy hóa rồi xì lên thì rất khó cải tạo. Do đó, trong mùa khô, họ luôn luôn giữ ướt cho vùng đất này bằng nguồn nước mặn, mô hình mùa khô cho nước mặn vào ruộng để khai thác cá kèo, cá đối, cua, tép bạc và mùa mưa sau khi rửa mặn rồi trồng lúa, mô hình lúa - tôm ra đời trong hoàn cảnh đó. Nhiều lão nông tri điền, trước lúc thấy mình “gần đất xa trời”, còn ráng căn dặn con cháu là “đất láng (trũng) mà để khô thì nghèo ba năm”.

Như vậy là từ lâu người dân nơi đây đã coi nguồn nước mặn là một tài nguyên!

Những kiến thức bản địa vô giá

Những cư dân đầu tiên khi mang cả gia đình và tài sản của mình vào vùng “muỗi kêu như sáo thổi” này đã ý thức rất rõ là họ đang đi vào vùng thiếu nước ngọt, và nguồn nước ngọt ở đây chủ yếu là trời cho. Vì vậy, trên mỗi chiếc ghe đều có một cái khạp, nếu có mưa là tranh thủ hứng nước cho đầy khạp. Khi lên bờ định cư thì nhà nào cũng có đủ lu hũ chứa nước mưa để sinh hoạt suốt mùa khô.

Đáng quan tâm hơn là khi khai khẩn xong miếng đất để canh tác thì họ đào một hệ thống mương bao xung quanh, đất đem đắp thành bờ bao cao ráo, sau vài năm rỏ hết phèn mặn thì trồng hoa màu và cây ăn trái, hệ thống này dùng để trữ nước mưa và tiêu thoát các chất phèn mặn trong đất, gọi là vuông.

Vuông ở địa hình cao thì dễ tiêu nước nên rửa phèn mặn nhanh hơn vuông ở địa hình trũng thấp. Khi có những giống lúa cao sản ngắn ngày thì các vuông ở địa hình cao là nơi đầu tiên tăng từ một vụ lúa mùa lên hai vụ lúa cao sản trong năm. Dần dà, do có các cống đập giữ được nước ngọt trong mùa khô nên nhiều nơi làm cả vụ ba. Dù có nguồn nước ngọt nhưng người dân hạn chế canh tác từ khoảng tháng 5 đến tháng 6 là để “né” nguồn nước bị ô nhiễm phèn mặn vào đầu mùa mưa. Riêng các vuông trũng thì mô hình lúa - tôm đã được áp dụng và còn duy trì cho đến ngày nay. Đáng quan tâm là việc tăng vụ đó làm kéo dài thời gian canh tác cây lúa cũng như cần nhiều nước ngọt hơn để tưới trong suốt thời gian không có mưa từ tháng 11 đến tháng 4.

Dù đã được xây dựng và quản lý rất kỳ công các vuông như vậy, nhưng do đất được hình thành từ biển nên các lớp đất bên dưới vẫn còn chứa rất nhiều muối. Vì vậy nếu năm nào mưa thuận gió hòa thì không sao, nhưng nếu lượng mưa giảm đi thì lập tức muối và phèn trong đất xì lên làm thiệt hại mùa màng rất đáng kể.

Đặc biệt là năm nào hết mưa và gió chướng đến sớm thì nước mặn xâm nhập vào hệ thống sông rạch sâu hơn. Nguồn nước mặn này nếu có gây ra thiệt hại thì chỉ xảy ra trên cây lúa, cụ thể là lúa vụ hai muộn hoặc lúa vụ ba xuống giống sớm và nông dân không cẩn thận khi cho nước vào ruộng làm “xèo” lúa rồi mới biết là nước mặn, nên trở tay không kịp.

Những nỗi lo còn đó

Đợt hạn mặn năm 2015-2016 đã được đánh giá và ước lượng thiệt hại trên lĩnh vực nông nghiệp cho toàn vùng khoảng 3.000 tỉ đồng, chủ yếu là giảm năng suất lúa. Trong đó “thủ phạm” bị quy tội là nguồn nước mặn xâm nhập sâu qua các hệ thống kênh rạch chưa có cống đập kiểm soát, để rồi đi đến đề xuất là xây cống Cái Lớn - Cái Bé để làm giảm mặn, giữ ngọt cho vùng bán đảo Cà Mau.

Vậy còn mặn phèn trong đất thì sao? Nếu xảy ra hạn hán kéo dài, mặn trong đất xì lên làm ảnh hưởng cây trồng thì nguồn nước ngọt giữ được (?) trong các sông rạch liệu có đủ để bơm vào đồng ruộng mà pha loãng độ mặn này không? Giả như hạn hán kiểu năm 2015-2016 thì mực nước sông Hậu thấp hơn bình thường rất nhiều, vậy nếu có xây thêm trạm bơm bổ sung từ Cần Thơ thì chưa chắc có đủ nước ngọt mà bơm, mà có bơm thì chưa chắc nước chảy được vì nếu bơm thì phải bơm lúc nước ròng từ sông Hậu để không bị mặn, nhưng phía biển Tây coi chừng lại là nước lớn vì có hai chế độ triều khác nhau.

Cũng do điều kiện hình thành đất mà vùng trũng, vùng gò đan xen nhau dọc hai bên dòng sông. Hàng trăm năm qua, hễ nước lớn đưa nước mặn vào thì người dân sống ở vùng trũng lấy nước vào để “ém phèn” và khai thác thủy sản, khi nước ròng chảy ra thì độ mặn giảm nên người dân vùng gò bơm nước vào cho ruộng rẫy.

Nhịp sống hài hòa giữa thiên nhiên và xóm làng như vậy chẳng phải là rất “thuận thiên” sao? Bây giờ chúng ta giảm mặn tăng ngọt thì thiệt hại cho người dân nuôi trồng thủy sản này ai gánh? Chưa nói đến là trong một gia đình có vuông thì trồng lúa, có vuông thì nuôi tôm; dù con tôm có nhiều rủi ro nhưng xem ra ai cũng nói trong mười năm qua con tôm đã “gánh” cho cây lúa rất nhiều. Trên bình diện quốc gia, năm 2017 xuất khẩu thủy sản đạt 8,4 tỉ đô la Mỹ và xuất khẩu gạo đạt 2,6 tỉ đô la Mỹ và thứ tự ưu tiên hiện nay là thủy sản - cây ăn trái - lúa gạo cho toàn vùng ĐBSCL, vậy thứ tự ưu tiên của vùng dự án Cái Lớn - Cái Bé là gì? Bài toán kinh tế giữa đầu tư - lợi nhuận ra sao?

Vùng Tây Nam sông Hậu đã có ba dự án thủy lợi “khủng”. Dự án Cái Lớn - Cái Bé mới này sẽ có những tác động tích cực và tiêu cực ra sao đối với ba dự án này?

Với quá nhiều nỗi lo như vậy và với số tiền tới hơn 3.300 tỉ đồng đầu tư, các bước đi phải rất thận trọng để sau này không phải hối tiếc. Vì vậy, tôi đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông (NN-PTNT), cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì dự án, nên công bố tất cả các tài liệu liên quan về dự án lên cổng thông tin điện tử, cho người dân được tham gia góp ý và chia sẻ các quan ngại. Làm được điều này, tức là Bộ NN-PTNT đã thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam trong các Công ước Montreal (1987), Tuyên bố Rio (1992), Tuyên bố Winspread (1998), và Công ước Kyoto sửa đổi (2006). Đó là: “Khi một hành động hoặc một chính sách bị nghi ngờ có rủi ro gây hại cho công chúng hoặc cho môi trường và thiếu sự đồng thuận khoa học rằng hành động hoặc chính sách đó là không gây hại, thì trách nhiệm chứng minh (burden of proof) rằng hành động đó không có hại là thuộc về phía đưa ra hành động hoặc chính sách đó”.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
CHUYỂN ĐỘNG CÔNG THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHUYẾN MÃI
WEB GIÁ RẺ
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
QUẢN TRỊ SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
DỮ LIỆU DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
QUY HOẠCH - HẠ TẦNG
DỰ ÁN
GÓC TƯ VẤN
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.