Thứ Hai,  24/9/2018, 06:36 
Đặt báo in

Phía sau một tỷ lệ bình thường

Lê Thư
Thứ Ba,  19/6/2018, 11:59 

Phía sau một tỷ lệ bình thường

Lê Thư

(TBKTSG) - Mỗi một người đi học, từ lúc ở cấp phổ thông cho đến khi tốt nghiệp đại học, không chỉ tốn bao nhiêu công sức, tiền bạc của cha mẹ mà còn là chi phí không nhỏ của xã hội. Cho nên, việc nhiều sinh viên ra trường bị thất nghiệp đã khiến các đại biểu Quốc hội quan tâm. Tuần trước, trong phiên trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận hiện vẫn còn khoảng 200.000 người có trình độ đại học trong độ tuổi lao động chưa có việc làm.

Nguồn: TBKTSG

Nhưng theo người đứng đầu ngành giáo dục, tỷ lệ thất nghiệp trình độ đại học ở Việt Nam trên dưới 4%. Nếu tính trong tổng số hơn 5 triệu lao động trình độ đại học thuộc độ tuổi này, tỷ lệ không quá lớn. Đây cũng là tình trạng chung của các nước trên thế giới.

Dù được bộ trưởng trấn an bằng con số tỷ lệ phần trăm không đáng kể cùng với việc dẫn chiếu tình trạng bình thường của thế giới, nhưng có lẽ cần nhìn nhận thêm những bất cập xung quanh vấn đề người lao động có trình độ đại học không có việc làm.

Nhìn từ góc độ gia đình, có thêm một người thất nghiệp là thêm một gánh nặng cơm áo gạo tiền, nhất là những gia đình phải chắt chiu để lo cho con ăn học đến nơi đến chốn. Nhìn từ góc độ bản thân người thất nghiệp, học hành cật lực bao nhiêu năm, để rồi ra trường không kiếm được một việc làm là một sự thất vọng vô cùng.

Nhìn từ góc độ xã hội, tuy ông bộ trưởng đánh giá tỷ lệ thất nghiệp trình độ đại học không quá lớn nhưng dù sao cũng thấy rằng có một sự lãng phí nhất định. Theo số liệu các năm qua, hàng năm tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục ở mức xấp xỉ 20% tổng chi ngân sách nhà nước (như báo chí đã thông tin), tương đương 5% GDP, một con số không nhỏ. Và bên cạnh đó, còn phải tính đến tổng gộp của bao nhiêu loại chi phí mà từng gia đình đã góp vào sự nghiệp trồng người này. Chỉ đơn cử một khía cạnh là các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và đại học với quá nhiều tốn kém cũng đã thấy phần nào sự sẵn sàng đầu tư của xã hội để mong có được những cử nhân, kỹ sư tương lai.

Thực ra, cũng không phải khăng khăng rằng cứ hễ ai học cao, có trình độ là tìm được việc làm. Một cử nhân, kỹ sư ra trường thất nghiệp là chuyện bình thường. Tuy nhiên từ đó lại đặt ra vấn đề về việc tổ chức và phân bổ nguồn lực lao động trong xã hội. Đầu tiên cũng xuất phát từ gia đình, trừ những gia đình không có điều kiện, còn lại các bậc cha mẹ phần lớn đều mong con cái học lên cao, ít nhất là đại học, với kỳ vọng ra đời thành đạt. Cùng với tâm lý đó, không biết từ lúc nào đã hình thành một xã hội trọng bằng cấp, như nhiều người từng nhận định.

Hệ quả là “thừa thầy, thiếu thợ”. Các trường nghề tuyển sinh, đỏ con mắt tìm không ra người học, trong khi người người lại chen nhau tìm một chỗ trên giảng đường đại học. Có cầu thì có cung, các trường đại học dân lập, tư thục ồ ạt ra đời. Nhiều đến mức một cuộc đua “giành giật” sinh viên đã diễn ra bấy lâu nay như xã hội từng chứng kiến. “Lọt sàng, xuống nia”, các trường có thương hiệu giành lấy các học sinh thi đỗ điểm cao, các trường mới thành lập hoặc chưa nổi tiếng hạ điểm chuẩn xuống thật thấp để cố gắng có đủ số lượng sinh viên vào học. Ngay cả ngành sư phạm, nơi đào tạo ra những người thầy, vậy mà năm ngoái có trường lấy điểm chuẩn đầu vào chỉ 9-10 điểm, tức trung bình chỉ cần 3 điểm mỗi môn thi.

Trong bối cảnh như vậy, thật không khó hiểu khi những lao động có trình độ đại học không tìm được việc làm, nguồn lao động ở bậc này vừa thừa vừa yếu. Thực tế cho thấy nhiều cử nhân, kỹ sư sau khi nhận vào làm việc đã phải được đào tạo bổ sung để đáp ứng yêu cầu công việc. Và ngay trên diễn đàn Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhìn nhận có vấn đề về chất lượng đào tạo. Mặt khác, không phải không thấy tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, “thầy không ra thầy, thợ không ra thợ”, nhiều năm trước Chính phủ đã có chủ trương phân luồng học sinh phổ thông, định hướng nghề nghiệp ngay từ bậc học này. Theo người đứng đầu ngành giáo dục, sắp tới phải thực hiện ráo riết việc phân luồng.

Nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp, đồng thời tập trung đẩy mạnh phân luồng, định hướng nghề nghiệp ngay từ bậc phổ thông đã được ông bộ trưởng nhấn mạnh như một giải pháp để khắc phục những bất cập của thực trạng nêu trên. Bên cạnh giải pháp, có lẽ còn phải cần sự đồng tình của xã hội, bởi tâm lý coi trọng bằng cấp, thích làm thầy hơn làm thợ vẫn đang chi phối nhiều người. 

In bài Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
GIAO THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHUYẾN MÃI
WEB GIÁ RẺ
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
QUẢN TRỊ SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
DỮ LIỆU DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
QUY HOẠCH - HẠ TẦNG
DỰ ÁN
GÓC TƯ VẤN
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.
Phía sau một tỷ lệ bình thường
Thứ Ba,  19/6/2018, 11:59 
Lê Thư

Phía sau một tỷ lệ bình thường

Lê Thư

(TBKTSG) - Mỗi một người đi học, từ lúc ở cấp phổ thông cho đến khi tốt nghiệp đại học, không chỉ tốn bao nhiêu công sức, tiền bạc của cha mẹ mà còn là chi phí không nhỏ của xã hội. Cho nên, việc nhiều sinh viên ra trường bị thất nghiệp đã khiến các đại biểu Quốc hội quan tâm. Tuần trước, trong phiên trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận hiện vẫn còn khoảng 200.000 người có trình độ đại học trong độ tuổi lao động chưa có việc làm.

Nguồn: TBKTSG

Nhưng theo người đứng đầu ngành giáo dục, tỷ lệ thất nghiệp trình độ đại học ở Việt Nam trên dưới 4%. Nếu tính trong tổng số hơn 5 triệu lao động trình độ đại học thuộc độ tuổi này, tỷ lệ không quá lớn. Đây cũng là tình trạng chung của các nước trên thế giới.

Dù được bộ trưởng trấn an bằng con số tỷ lệ phần trăm không đáng kể cùng với việc dẫn chiếu tình trạng bình thường của thế giới, nhưng có lẽ cần nhìn nhận thêm những bất cập xung quanh vấn đề người lao động có trình độ đại học không có việc làm.

Nhìn từ góc độ gia đình, có thêm một người thất nghiệp là thêm một gánh nặng cơm áo gạo tiền, nhất là những gia đình phải chắt chiu để lo cho con ăn học đến nơi đến chốn. Nhìn từ góc độ bản thân người thất nghiệp, học hành cật lực bao nhiêu năm, để rồi ra trường không kiếm được một việc làm là một sự thất vọng vô cùng.

Nhìn từ góc độ xã hội, tuy ông bộ trưởng đánh giá tỷ lệ thất nghiệp trình độ đại học không quá lớn nhưng dù sao cũng thấy rằng có một sự lãng phí nhất định. Theo số liệu các năm qua, hàng năm tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục ở mức xấp xỉ 20% tổng chi ngân sách nhà nước (như báo chí đã thông tin), tương đương 5% GDP, một con số không nhỏ. Và bên cạnh đó, còn phải tính đến tổng gộp của bao nhiêu loại chi phí mà từng gia đình đã góp vào sự nghiệp trồng người này. Chỉ đơn cử một khía cạnh là các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và đại học với quá nhiều tốn kém cũng đã thấy phần nào sự sẵn sàng đầu tư của xã hội để mong có được những cử nhân, kỹ sư tương lai.

Thực ra, cũng không phải khăng khăng rằng cứ hễ ai học cao, có trình độ là tìm được việc làm. Một cử nhân, kỹ sư ra trường thất nghiệp là chuyện bình thường. Tuy nhiên từ đó lại đặt ra vấn đề về việc tổ chức và phân bổ nguồn lực lao động trong xã hội. Đầu tiên cũng xuất phát từ gia đình, trừ những gia đình không có điều kiện, còn lại các bậc cha mẹ phần lớn đều mong con cái học lên cao, ít nhất là đại học, với kỳ vọng ra đời thành đạt. Cùng với tâm lý đó, không biết từ lúc nào đã hình thành một xã hội trọng bằng cấp, như nhiều người từng nhận định.

Hệ quả là “thừa thầy, thiếu thợ”. Các trường nghề tuyển sinh, đỏ con mắt tìm không ra người học, trong khi người người lại chen nhau tìm một chỗ trên giảng đường đại học. Có cầu thì có cung, các trường đại học dân lập, tư thục ồ ạt ra đời. Nhiều đến mức một cuộc đua “giành giật” sinh viên đã diễn ra bấy lâu nay như xã hội từng chứng kiến. “Lọt sàng, xuống nia”, các trường có thương hiệu giành lấy các học sinh thi đỗ điểm cao, các trường mới thành lập hoặc chưa nổi tiếng hạ điểm chuẩn xuống thật thấp để cố gắng có đủ số lượng sinh viên vào học. Ngay cả ngành sư phạm, nơi đào tạo ra những người thầy, vậy mà năm ngoái có trường lấy điểm chuẩn đầu vào chỉ 9-10 điểm, tức trung bình chỉ cần 3 điểm mỗi môn thi.

Trong bối cảnh như vậy, thật không khó hiểu khi những lao động có trình độ đại học không tìm được việc làm, nguồn lao động ở bậc này vừa thừa vừa yếu. Thực tế cho thấy nhiều cử nhân, kỹ sư sau khi nhận vào làm việc đã phải được đào tạo bổ sung để đáp ứng yêu cầu công việc. Và ngay trên diễn đàn Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhìn nhận có vấn đề về chất lượng đào tạo. Mặt khác, không phải không thấy tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, “thầy không ra thầy, thợ không ra thợ”, nhiều năm trước Chính phủ đã có chủ trương phân luồng học sinh phổ thông, định hướng nghề nghiệp ngay từ bậc học này. Theo người đứng đầu ngành giáo dục, sắp tới phải thực hiện ráo riết việc phân luồng.

Nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp, đồng thời tập trung đẩy mạnh phân luồng, định hướng nghề nghiệp ngay từ bậc phổ thông đã được ông bộ trưởng nhấn mạnh như một giải pháp để khắc phục những bất cập của thực trạng nêu trên. Bên cạnh giải pháp, có lẽ còn phải cần sự đồng tình của xã hội, bởi tâm lý coi trọng bằng cấp, thích làm thầy hơn làm thợ vẫn đang chi phối nhiều người. 

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC

Mobile

Phía sau một tỷ lệ bình thường
Thứ Ba,  19/6/2018, 11:59 
Lê Thư

Phía sau một tỷ lệ bình thường

Lê Thư

(TBKTSG) - Mỗi một người đi học, từ lúc ở cấp phổ thông cho đến khi tốt nghiệp đại học, không chỉ tốn bao nhiêu công sức, tiền bạc của cha mẹ mà còn là chi phí không nhỏ của xã hội. Cho nên, việc nhiều sinh viên ra trường bị thất nghiệp đã khiến các đại biểu Quốc hội quan tâm. Tuần trước, trong phiên trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận hiện vẫn còn khoảng 200.000 người có trình độ đại học trong độ tuổi lao động chưa có việc làm.

Nguồn: TBKTSG

Nhưng theo người đứng đầu ngành giáo dục, tỷ lệ thất nghiệp trình độ đại học ở Việt Nam trên dưới 4%. Nếu tính trong tổng số hơn 5 triệu lao động trình độ đại học thuộc độ tuổi này, tỷ lệ không quá lớn. Đây cũng là tình trạng chung của các nước trên thế giới.

Dù được bộ trưởng trấn an bằng con số tỷ lệ phần trăm không đáng kể cùng với việc dẫn chiếu tình trạng bình thường của thế giới, nhưng có lẽ cần nhìn nhận thêm những bất cập xung quanh vấn đề người lao động có trình độ đại học không có việc làm.

Nhìn từ góc độ gia đình, có thêm một người thất nghiệp là thêm một gánh nặng cơm áo gạo tiền, nhất là những gia đình phải chắt chiu để lo cho con ăn học đến nơi đến chốn. Nhìn từ góc độ bản thân người thất nghiệp, học hành cật lực bao nhiêu năm, để rồi ra trường không kiếm được một việc làm là một sự thất vọng vô cùng.

Nhìn từ góc độ xã hội, tuy ông bộ trưởng đánh giá tỷ lệ thất nghiệp trình độ đại học không quá lớn nhưng dù sao cũng thấy rằng có một sự lãng phí nhất định. Theo số liệu các năm qua, hàng năm tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục ở mức xấp xỉ 20% tổng chi ngân sách nhà nước (như báo chí đã thông tin), tương đương 5% GDP, một con số không nhỏ. Và bên cạnh đó, còn phải tính đến tổng gộp của bao nhiêu loại chi phí mà từng gia đình đã góp vào sự nghiệp trồng người này. Chỉ đơn cử một khía cạnh là các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và đại học với quá nhiều tốn kém cũng đã thấy phần nào sự sẵn sàng đầu tư của xã hội để mong có được những cử nhân, kỹ sư tương lai.

Thực ra, cũng không phải khăng khăng rằng cứ hễ ai học cao, có trình độ là tìm được việc làm. Một cử nhân, kỹ sư ra trường thất nghiệp là chuyện bình thường. Tuy nhiên từ đó lại đặt ra vấn đề về việc tổ chức và phân bổ nguồn lực lao động trong xã hội. Đầu tiên cũng xuất phát từ gia đình, trừ những gia đình không có điều kiện, còn lại các bậc cha mẹ phần lớn đều mong con cái học lên cao, ít nhất là đại học, với kỳ vọng ra đời thành đạt. Cùng với tâm lý đó, không biết từ lúc nào đã hình thành một xã hội trọng bằng cấp, như nhiều người từng nhận định.

Hệ quả là “thừa thầy, thiếu thợ”. Các trường nghề tuyển sinh, đỏ con mắt tìm không ra người học, trong khi người người lại chen nhau tìm một chỗ trên giảng đường đại học. Có cầu thì có cung, các trường đại học dân lập, tư thục ồ ạt ra đời. Nhiều đến mức một cuộc đua “giành giật” sinh viên đã diễn ra bấy lâu nay như xã hội từng chứng kiến. “Lọt sàng, xuống nia”, các trường có thương hiệu giành lấy các học sinh thi đỗ điểm cao, các trường mới thành lập hoặc chưa nổi tiếng hạ điểm chuẩn xuống thật thấp để cố gắng có đủ số lượng sinh viên vào học. Ngay cả ngành sư phạm, nơi đào tạo ra những người thầy, vậy mà năm ngoái có trường lấy điểm chuẩn đầu vào chỉ 9-10 điểm, tức trung bình chỉ cần 3 điểm mỗi môn thi.

Trong bối cảnh như vậy, thật không khó hiểu khi những lao động có trình độ đại học không tìm được việc làm, nguồn lao động ở bậc này vừa thừa vừa yếu. Thực tế cho thấy nhiều cử nhân, kỹ sư sau khi nhận vào làm việc đã phải được đào tạo bổ sung để đáp ứng yêu cầu công việc. Và ngay trên diễn đàn Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhìn nhận có vấn đề về chất lượng đào tạo. Mặt khác, không phải không thấy tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, “thầy không ra thầy, thợ không ra thợ”, nhiều năm trước Chính phủ đã có chủ trương phân luồng học sinh phổ thông, định hướng nghề nghiệp ngay từ bậc học này. Theo người đứng đầu ngành giáo dục, sắp tới phải thực hiện ráo riết việc phân luồng.

Nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp, đồng thời tập trung đẩy mạnh phân luồng, định hướng nghề nghiệp ngay từ bậc phổ thông đã được ông bộ trưởng nhấn mạnh như một giải pháp để khắc phục những bất cập của thực trạng nêu trên. Bên cạnh giải pháp, có lẽ còn phải cần sự đồng tình của xã hội, bởi tâm lý coi trọng bằng cấp, thích làm thầy hơn làm thợ vẫn đang chi phối nhiều người. 

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC