Mobile

Chương trình khoan hồng giúp kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Thứ Hai,  2/7/2018, 18:35 
Trần Phạm Hoàng Tùng

Chương trình khoan hồng giúp kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Trần Phạm Hoàng Tùng

(TBKTSG) - Luật Cạnh tranh (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 12-6-2018 với nhiều điểm mới. Một trong những điểm mới đáng chú ý là sự ghi nhận chương trình khoan hồng (leniency program). Theo kinh nghiệm thế giới, đây chính là phương thức hữu hiệu để một luật cạnh tranh tiếp cận và phá bỏ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT).

Từ sự thành công của chương trình khoan hồng tại nhiều quốc gia, trong đó Nhật Bản là nước có văn hóa Á Đông khá tương đồng với Việt Nam, có cơ sở để kỳ vọng rằng chương trình khoan hồng sẽ mang lại hiệu quả tích cực để kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam. Ảnh: Internet

Chương trình khoan hồng là gì?

TTHCCT là một trong những vi phạm có tác động mạnh đến thị trường, xảy ra khá phổ biến. Tuy nhiên, việc phát hiện và xử lý gặp nhiều khó khăn vì chúng thường tồn tại dưới dạng “bí mật”. Đó là chưa nói doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thường có nhiều cách thức tinh vi để che giấu, tiêu hủy chứng cứ. Vì vậy, số vụ TTHCCT bị phát hiện và xử lý sau hơn gần 15 năm nước ta có Luật Cạnh tranh là... một vụ (thỏa thuận của 19 công ty bảo hiểm). Tuy nhiên, tình hình có thể thay đổi khi chương trình khoan hồng được áp dụng.

Đây là chính sách nhà nước giành quyền miễn trừ đối với các thành viên tham gia TTHCCT chủ động khai báo, cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh sự tồn tại của các TTHCCT và hợp tác với cơ quan quản lý cạnh tranh. Các doanh nghiệp khi được hưởng khoan hồng sẽ được miễn trừ một phần hoặc toàn bộ các chế tài về hành chính hoặc hình sự mà lẽ ra họ phải gánh chịu.

Nguyên lý của chương trình dựa trên nền tảng lý thuyết trò chơi. Cụ thể, chương trình là cách tạo ra sự mất lòng tin và nghi ngờ lẫn nhau giữa các thành viên trong thỏa thuận. Vì nghi ngờ các thành viên khác sẽ sử dụng chương trình khoan hồng để rút lui an toàn ra khỏi thỏa thuận, và các thành viên còn lại đương nhiên sẽ là người gánh chịu hậu quả, nên các thành viên của TTHCCT luôn đứng trước hai lựa chọn: Chủ động tự nguyện khai báo trước để được hưởng khoan hồng hoặc có nguy cơ rất lớn là bị áp dụng các chế tài xử lý nghiêm khắc nếu bị các thành viên khác “bán đứng”. Trong tình huống “tiến thoái lưỡng nan” như vậy, không ít doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương án tự nguyện khai báo để giảm thiệt hại cho chính mình, hơn là sống chết cùng với thỏa thuận. Khi đó, chi phí tạo lập và duy trì các TTHCCT sẽ tăng lên rất nhiều, điều này cũng đồng nghĩa với việc các TTHCCT sẽ khó tồn tại trong thời gian dài.

Kinh nghiệm thế giới

Chương trình khoan hồng đã được đề cập, sử dụng hiệu quả trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới.

Chương trình này lần đầu tiên được giới thiệu và áp dụng tại Mỹ vào năm 1973, sau đó dần được các quốc gia khác tiếp nhận và sử dụng thành công, điển hình như EU và Nhật Bản.

Tại Mỹ, chương trình có năm nội dung cơ bản: Thứ nhất, miễn trừ toàn bộ dành cho doanh nghiệp hoặc cá nhân khai báo đầu tiên và khi cơ quan điều tra chưa có bất kỳ thông tin gì về hành vi. Thứ hai, không áp dụng khoan hồng cho doanh nghiệp/cá nhân đóng vai trò lãnh đạo trong TTHCCT hoặc cưỡng ép người khác tham gia. Thứ ba, nếu doanh nghiệp được miễn trừ toàn bộ thì ban lãnh đạo và nhân viên của doanh nghiệp đó sẽ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với điều kiện họ thành khẩn khai báo và hợp tác với cơ quan điều tra. Cuối cùng, khoan hồng vẫn được áp dụng đối với các doanh nghiệp/cá nhân khai báo thứ hai trở đi nếu cơ quan điều tra chưa có chứng cứ nào chống lại họ, tuy nhiên mức giảm trừ không cố định mà sẽ được Bộ Tư pháp Mỹ (DOJ) cân nhắc theo từng vụ việc cụ thể.

Chương  trình khoan hồng tại EU nhìn chung khá tương đồng với Mỹ, ngoại trừ một số điểm. Một là, EU chưa có chương trình khoan hồng đối với cá nhân (do các chế tài đối với cá nhân chưa được áp dụng). Và hai là, quy định mức giảm trừ theo từng khung cụ thể cho các doanh nghiệp khai báo thứ hai trở đi (mức cụ thể sẽ được quyết định căn cứ vào sự hợp tác của doanh nghiệp).

Ấn tượng nhất là chương trình khoan hồng của Nhật Bản. Mặc dù chương trình mới được ban hành (tháng 4-2006) nhưng ngay lập tức nó đã mang lại hiệu quả tích cực. Trong vòng bốn năm sau đó, đã có 349 vụ việc TTHCCT được phát hiện nhờ các doanh nghiệp vi phạm tự động khai báo. Điều này phần nào được lý giải bởi quy định khống chế số lượng doanh nghiệp tối đa được hưởng khoan hồng và mức miễn giảm cụ thể cho từng trường hợp.

Theo đó, số lượng doanh nghiệp được khoan hồng không vượt quá năm doanh nghiệp, trong đó chỉ tối đa ba doanh nghiệp đầu tiên khai báo sau khi khởi động điều tra mới được hưởng khoan hồng. Nếu khai báo trước khi cơ quan quản lý cạnh tranh ra quyết định điều tra, doanh nghiệp khai báo đầu tiên được miễn trừ mọi hình phạt, kể cả các chế tài hình sự. Các doanh nghiệp khai báo thứ hai và thứ ba sẽ được giảm trừ lần lượt là 50%  và 30% tiền phạt (tuy nhiên chỉ áp dụng đối với khoản tiền phạt mang tính phi hình sự, các doanh nghiệp này vẫn đứng trước nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Nếu quá trình điều tra đã được bắt đầu thì miễn trừ không còn được áp dụng cho người nộp đơn đầu tiên nữa mà ba doanh nghiệp nộp đơn đầu tiên chỉ được giảm trừ 30% tiền phạt khi thỏa mãn một số điều kiện nhất định.

Từ sự thành công của chương trình khoan hồng tại nhiều quốc gia, trong đó Nhật Bản là nước có văn hóa Á Đông khá tương đồng với Việt Nam, có cơ sở để kỳ vọng rằng chương trình khoan hồng sẽ mang lại hiệu quả tích cực để kiểm soát các TTHCCT tại Việt Nam. Đặc biệt, việc Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực từ ngày 1-1-2018, theo đó các hành vi TTHCCT sẽ đứng trước nguy cơ bị truy cứu hình sự theo điều 217, có thể sẽ là động lực để các lãnh đạo doanh nghiệp quyết định khai báo về TTHCCT.

 

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Chương trình khoan hồng giúp kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Trần Phạm Hoàng Tùng
Thứ Hai,  2/7/2018, 18:35 

Chương trình khoan hồng giúp kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Trần Phạm Hoàng Tùng

(TBKTSG) - Luật Cạnh tranh (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 12-6-2018 với nhiều điểm mới. Một trong những điểm mới đáng chú ý là sự ghi nhận chương trình khoan hồng (leniency program). Theo kinh nghiệm thế giới, đây chính là phương thức hữu hiệu để một luật cạnh tranh tiếp cận và phá bỏ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT).

Từ sự thành công của chương trình khoan hồng tại nhiều quốc gia, trong đó Nhật Bản là nước có văn hóa Á Đông khá tương đồng với Việt Nam, có cơ sở để kỳ vọng rằng chương trình khoan hồng sẽ mang lại hiệu quả tích cực để kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam. Ảnh: Internet

Chương trình khoan hồng là gì?

TTHCCT là một trong những vi phạm có tác động mạnh đến thị trường, xảy ra khá phổ biến. Tuy nhiên, việc phát hiện và xử lý gặp nhiều khó khăn vì chúng thường tồn tại dưới dạng “bí mật”. Đó là chưa nói doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thường có nhiều cách thức tinh vi để che giấu, tiêu hủy chứng cứ. Vì vậy, số vụ TTHCCT bị phát hiện và xử lý sau hơn gần 15 năm nước ta có Luật Cạnh tranh là... một vụ (thỏa thuận của 19 công ty bảo hiểm). Tuy nhiên, tình hình có thể thay đổi khi chương trình khoan hồng được áp dụng.

Đây là chính sách nhà nước giành quyền miễn trừ đối với các thành viên tham gia TTHCCT chủ động khai báo, cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh sự tồn tại của các TTHCCT và hợp tác với cơ quan quản lý cạnh tranh. Các doanh nghiệp khi được hưởng khoan hồng sẽ được miễn trừ một phần hoặc toàn bộ các chế tài về hành chính hoặc hình sự mà lẽ ra họ phải gánh chịu.

Nguyên lý của chương trình dựa trên nền tảng lý thuyết trò chơi. Cụ thể, chương trình là cách tạo ra sự mất lòng tin và nghi ngờ lẫn nhau giữa các thành viên trong thỏa thuận. Vì nghi ngờ các thành viên khác sẽ sử dụng chương trình khoan hồng để rút lui an toàn ra khỏi thỏa thuận, và các thành viên còn lại đương nhiên sẽ là người gánh chịu hậu quả, nên các thành viên của TTHCCT luôn đứng trước hai lựa chọn: Chủ động tự nguyện khai báo trước để được hưởng khoan hồng hoặc có nguy cơ rất lớn là bị áp dụng các chế tài xử lý nghiêm khắc nếu bị các thành viên khác “bán đứng”. Trong tình huống “tiến thoái lưỡng nan” như vậy, không ít doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương án tự nguyện khai báo để giảm thiệt hại cho chính mình, hơn là sống chết cùng với thỏa thuận. Khi đó, chi phí tạo lập và duy trì các TTHCCT sẽ tăng lên rất nhiều, điều này cũng đồng nghĩa với việc các TTHCCT sẽ khó tồn tại trong thời gian dài.

Kinh nghiệm thế giới

Chương trình khoan hồng đã được đề cập, sử dụng hiệu quả trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới.

Chương trình này lần đầu tiên được giới thiệu và áp dụng tại Mỹ vào năm 1973, sau đó dần được các quốc gia khác tiếp nhận và sử dụng thành công, điển hình như EU và Nhật Bản.

Tại Mỹ, chương trình có năm nội dung cơ bản: Thứ nhất, miễn trừ toàn bộ dành cho doanh nghiệp hoặc cá nhân khai báo đầu tiên và khi cơ quan điều tra chưa có bất kỳ thông tin gì về hành vi. Thứ hai, không áp dụng khoan hồng cho doanh nghiệp/cá nhân đóng vai trò lãnh đạo trong TTHCCT hoặc cưỡng ép người khác tham gia. Thứ ba, nếu doanh nghiệp được miễn trừ toàn bộ thì ban lãnh đạo và nhân viên của doanh nghiệp đó sẽ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với điều kiện họ thành khẩn khai báo và hợp tác với cơ quan điều tra. Cuối cùng, khoan hồng vẫn được áp dụng đối với các doanh nghiệp/cá nhân khai báo thứ hai trở đi nếu cơ quan điều tra chưa có chứng cứ nào chống lại họ, tuy nhiên mức giảm trừ không cố định mà sẽ được Bộ Tư pháp Mỹ (DOJ) cân nhắc theo từng vụ việc cụ thể.

Chương  trình khoan hồng tại EU nhìn chung khá tương đồng với Mỹ, ngoại trừ một số điểm. Một là, EU chưa có chương trình khoan hồng đối với cá nhân (do các chế tài đối với cá nhân chưa được áp dụng). Và hai là, quy định mức giảm trừ theo từng khung cụ thể cho các doanh nghiệp khai báo thứ hai trở đi (mức cụ thể sẽ được quyết định căn cứ vào sự hợp tác của doanh nghiệp).

Ấn tượng nhất là chương trình khoan hồng của Nhật Bản. Mặc dù chương trình mới được ban hành (tháng 4-2006) nhưng ngay lập tức nó đã mang lại hiệu quả tích cực. Trong vòng bốn năm sau đó, đã có 349 vụ việc TTHCCT được phát hiện nhờ các doanh nghiệp vi phạm tự động khai báo. Điều này phần nào được lý giải bởi quy định khống chế số lượng doanh nghiệp tối đa được hưởng khoan hồng và mức miễn giảm cụ thể cho từng trường hợp.

Theo đó, số lượng doanh nghiệp được khoan hồng không vượt quá năm doanh nghiệp, trong đó chỉ tối đa ba doanh nghiệp đầu tiên khai báo sau khi khởi động điều tra mới được hưởng khoan hồng. Nếu khai báo trước khi cơ quan quản lý cạnh tranh ra quyết định điều tra, doanh nghiệp khai báo đầu tiên được miễn trừ mọi hình phạt, kể cả các chế tài hình sự. Các doanh nghiệp khai báo thứ hai và thứ ba sẽ được giảm trừ lần lượt là 50%  và 30% tiền phạt (tuy nhiên chỉ áp dụng đối với khoản tiền phạt mang tính phi hình sự, các doanh nghiệp này vẫn đứng trước nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Nếu quá trình điều tra đã được bắt đầu thì miễn trừ không còn được áp dụng cho người nộp đơn đầu tiên nữa mà ba doanh nghiệp nộp đơn đầu tiên chỉ được giảm trừ 30% tiền phạt khi thỏa mãn một số điều kiện nhất định.

Từ sự thành công của chương trình khoan hồng tại nhiều quốc gia, trong đó Nhật Bản là nước có văn hóa Á Đông khá tương đồng với Việt Nam, có cơ sở để kỳ vọng rằng chương trình khoan hồng sẽ mang lại hiệu quả tích cực để kiểm soát các TTHCCT tại Việt Nam. Đặc biệt, việc Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực từ ngày 1-1-2018, theo đó các hành vi TTHCCT sẽ đứng trước nguy cơ bị truy cứu hình sự theo điều 217, có thể sẽ là động lực để các lãnh đạo doanh nghiệp quyết định khai báo về TTHCCT.

 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.