Thứ Sáu,  17/8/2018, 03:21 
Đặt báo in

Câu chuyện quản lý nước: Thích ứng với biến đổi khí hậu

PGS.TS. Nguyễn Văn Sánh (*)
Thứ Hai,  23/7/2018, 16:21 

Câu chuyện quản lý nước: Thích ứng với biến đổi khí hậu

PGS.TS. Nguyễn Văn Sánh (*)

(TBKTSG) - Giá trị của tài nguyên nước rất quan trọng, nhất là trong thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), bởi nước chi phối mọi hoạt động phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, dân sinh, bảo tồn sinh thái và văn hóa... của một địa phương, một quốc gia.

Nếu thực hiện được mô hình cộng đồng tham gia quản lý nước thì sẽ tiết kiệm được hàng tỉ mét khối nước. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ

Nước ở ĐBSCL đang đói phù sa

Đối với ĐBSCL, nhiều người quen nghĩ nguồn nước rất dồi dào, bước ra khỏi nhà là chạm tới nước. Vì nước được cung cấp từ nhiều nguồn: hệ thống sông Mêkông khoảng 475 tỉ mét khối/năm; nước mưa hơn 15 tỉ mét khối/năm; nước ngầm với trữ lượng khoảng 2 tỉ mét khối/năm và nước mặn phong phú với bờ biển dài hàng ngàn ki lô mét bao bọc từ biển Tây qua biển Đông.

Tuy vậy nguồn nước phong phú này được quản lý và sử dụng không hiệu quả. Nguồn nước phân bổ chủ yếu vào mùa mưa, khoảng 85%, gây ra ngập úng từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm; mùa khô thì thiếu nước sinh hoạt và mặn xâm nhập sâu vào đất liền, sâu nhất khoảng 90 ki lô mét vào năm 2016. Đồng thời, trong thời gian dài, nước mặn bị xem là kẻ thù, trong khi tài nguyên nước mặn lại là phương tiện phát triển kinh tế biển của ĐBSCL. Hiện nay, hàng loạt tác động kép từ biển đổi khí hậu và phát triển đập ở thượng nguồn càng làm ảnh hưởng đến lượng và chất của nước, nhất là chuyện nước ở ĐBSCL đang đói phù sa.

Cũng thời gian dài, quy hoạch và phát triển kinh tế vùng này của Nhà nước quá chú tâm về an ninh lương thực, dẫn đến thâm canh lúa và sử dụng nhiều phân, thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến ô nhiễm môi trường, đất bị bạc màu, thiếu phù sa. Gần 20 triệu cư dân ĐBSCL quản lý và sử dụng nước không hiệu quả trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày làm cho môi trường nước ngày càng ô nhiễm trầm trọng hơn và phải sử dụng nước ngầm ngày càng nhiều.

Các bất cập trên đã đẩy ĐBSCL tới thực trạng là nguồn nước ngày càng bị thu hẹp; và ĐBSCL ngày càng bị sụt lún và sạt lở hơn là được bồi đắp như xưa.

Đề xuất sáu cấp quản lý và sử dụng nước

Quản lý nước ở ĐBSCL còn mang tính đơn lẻ, chồng chéo, vì thế quyền kiểm soát và phân bổ, cung cấp nước của chính quyền địa phương kém hiệu quả do thiếu liên kết tiểu vùng trong liên kết vùng. Cần sớm giải quyết các vấn đề này.

Trước thực trạng này, người viết đề xuất sáu cấp quản lý và sử dụng nguồn nước để cứu nguy cho ĐBSCL.

Với hộ dân: hộ dân cần biết thu hoạch nước trong mùa mưa và sử dụng quanh năm qua lu chứa, bể chứa, giếng ống nông, đặc biệt ở miệt biển. Ngoài ra, bà con nên tưới nước tiết kiệm trong canh tác và biết cách giảm ô nhiễm nguồn nước; nhất là nên giảm sử dụng nước ngầm tới ngưỡng. Nếu làm được, cấp hộ dân sẽ tiết kiệm khoảng 24,8 tỉ mét khối nước/năm.

Với cộng đồng: nhờ đặc điểm tự nhiên của mình, ĐBSCL có nhiều mô hình sinh thái nông nghiệp giữ nước tốt, vừa phát triển sản xuất vừa nâng cao sinh kế cộng đồng. Cần nhân rộng cách làm của một số tổ chức nông dân hợp tác canh tác lúa qua tưới xen kẽ kết hợp việc giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, giảm nước và thất thoát sau thu hoạch - tiết kiệm nước tưới cho lúa 40-50%, tăng lợi nhuận cho nông dân khoảng 10% và nguồn nước ít ô nhiễm hơn. Ngoài ra, rất nhiều cộng đồng đang trồng sen du lịch, trồng dừa, nuôi trồng thủy sản... Nếu thực hiện được mô hình cộng đồng tham gia quản lý nước thì sẽ tiết kiệm được hàng tỉ mét khối nước.

Với địa phương: hiện nhiều tỉnh đã lồng ghép chương trình hành động của Chính phủ về ứng phó biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trong thực tế thì hiệu quả chưa cao do nhu cầu sử dụng nước cho phát triển kinh tế - xã hội cao; quyết định quản lý, sử dụng và chia sẻ nguồn nước rất phức tạp và khó khăn; các kế hoạch quản lý và sử dụng nước từ trên xuống chỉ một chiều lại quên đi vai trò của hộ dân và cộng đồng. Quản lý nước ở ĐBSCL còn mang tính đơn lẻ, chồng chéo, vì thế quyền kiểm soát và phân bổ, cung cấp nước của chính quyền địa phương kém hiệu quả do thiếu liên kết tiểu vùng trong liên kết vùng. Cần sớm giải quyết các vấn đề này.

Ở cấp tiểu vùng trong vùng: ĐBSCL có văn hóa khai khẩn đất phương Nam theo con nước và văn hóa sông nước theo “bốn miệt” (miệt bưng, miệt biển, miệt vườn, miệt đồng). Đã có sự đồng thuận liên kết tiểu vùng trong liên kết toàn vùng ứng phó biến đổi khí hậu để phát triển bền vững. Miệt bưng thì ba tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp đã liên kết phát triển tiểu vùng Đồng Tháp Mười; đồng thời An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Kiên Giang đang liên kết phát triển vùng tứ giác Long Xuyên. Miệt biển thì Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long đã liên kết phát triển vùng ven biển Đông. Đồng thời, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang cũng đang liên kết phát triển vùng bán đảo Cà Mau. Như thế miệt vườn cặp theo sông Tiền và sông Hậu có nhiều cơ hội phát triển kinh tế vườn và cũng là nơi chia sẻ, chứa nước từ miệt bưng đổ về và giữ nước ngọt tại chỗ, là hệ đệm quan trọng cung cấp nước ngọt và giảm xâm nhập mặn hàng năm ở miệt biển. Đồng thời, miệt đồng biết canh tác lúa tiết kiệm nước như đã nói. Tất cả hòa quyện và tác động qua lại thì sẽ giúp cho việc quản lý và sử dụng nước cấp độ hộ dân, cộng đồng và địa phương hiệu quả hơn.

Ở cấp độ quốc gia: từ cách quản lý hiệu quả ở bốn cấp hộ dân, cộng đồng, địa phương, tiểu vùng và vùng, ở cấp quốc gia, các bộ, ngành trung ương cần sớm rà soát lại quy hoạch ĐBSCL qua không gian tích hợp liên ngành. Có như vậy mới thực hiện hiệu quả Quyết định 593/TTg về thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL, đặc biệt là Nghị quyết 120/CP năm 2017 về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng “thuận thiên”.

Ở cấp độ quốc tế: từ cấp quốc gia, sẽ có nhiều cơ hội đối thoại chính sách với quốc tế trong khuôn khổ Mêkông mở rộng, ASEM... để quản lý và sử dụng nguồn nước hiệu quả thực sự. Việc mời gọi quốc tế đầu tư hoặc hỗ trợ để nâng từng cấp và liên kết lại qua liên kết vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ thuận tiện hơn. Cụ thể, các đối thoại về chính sách quản lý nước liên quan đến sáu vấn đề gồm (1) chế độ dòng chảy, (2) phù sa và dinh dưỡng theo nguồn nước, (3) đa dạng sinh học, (4) chất và lượng nước, (5) thủy sản và giao thông, (6) tính tổn thương cộng đồng và sinh kế người dân sống theo sông Mêkông sẽ hiệu quả hơn.

(*) Chuyên gia phân tích chính sách Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ)

In bài Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
GIAO THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHUYẾN MÃI
WEB GIÁ RẺ
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
QUẢN TRỊ SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
DỮ LIỆU DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
QUY HOẠCH - HẠ TẦNG
DỰ ÁN
GÓC TƯ VẤN
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.
Câu chuyện quản lý nước: Thích ứng với biến đổi khí hậu
Thứ Hai,  23/7/2018, 16:21 
PGS.TS. Nguyễn Văn Sánh (*)

Câu chuyện quản lý nước: Thích ứng với biến đổi khí hậu

PGS.TS. Nguyễn Văn Sánh (*)

(TBKTSG) - Giá trị của tài nguyên nước rất quan trọng, nhất là trong thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), bởi nước chi phối mọi hoạt động phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, dân sinh, bảo tồn sinh thái và văn hóa... của một địa phương, một quốc gia.

Nếu thực hiện được mô hình cộng đồng tham gia quản lý nước thì sẽ tiết kiệm được hàng tỉ mét khối nước. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ

Nước ở ĐBSCL đang đói phù sa

Đối với ĐBSCL, nhiều người quen nghĩ nguồn nước rất dồi dào, bước ra khỏi nhà là chạm tới nước. Vì nước được cung cấp từ nhiều nguồn: hệ thống sông Mêkông khoảng 475 tỉ mét khối/năm; nước mưa hơn 15 tỉ mét khối/năm; nước ngầm với trữ lượng khoảng 2 tỉ mét khối/năm và nước mặn phong phú với bờ biển dài hàng ngàn ki lô mét bao bọc từ biển Tây qua biển Đông.

Tuy vậy nguồn nước phong phú này được quản lý và sử dụng không hiệu quả. Nguồn nước phân bổ chủ yếu vào mùa mưa, khoảng 85%, gây ra ngập úng từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm; mùa khô thì thiếu nước sinh hoạt và mặn xâm nhập sâu vào đất liền, sâu nhất khoảng 90 ki lô mét vào năm 2016. Đồng thời, trong thời gian dài, nước mặn bị xem là kẻ thù, trong khi tài nguyên nước mặn lại là phương tiện phát triển kinh tế biển của ĐBSCL. Hiện nay, hàng loạt tác động kép từ biển đổi khí hậu và phát triển đập ở thượng nguồn càng làm ảnh hưởng đến lượng và chất của nước, nhất là chuyện nước ở ĐBSCL đang đói phù sa.

Cũng thời gian dài, quy hoạch và phát triển kinh tế vùng này của Nhà nước quá chú tâm về an ninh lương thực, dẫn đến thâm canh lúa và sử dụng nhiều phân, thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến ô nhiễm môi trường, đất bị bạc màu, thiếu phù sa. Gần 20 triệu cư dân ĐBSCL quản lý và sử dụng nước không hiệu quả trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày làm cho môi trường nước ngày càng ô nhiễm trầm trọng hơn và phải sử dụng nước ngầm ngày càng nhiều.

Các bất cập trên đã đẩy ĐBSCL tới thực trạng là nguồn nước ngày càng bị thu hẹp; và ĐBSCL ngày càng bị sụt lún và sạt lở hơn là được bồi đắp như xưa.

Đề xuất sáu cấp quản lý và sử dụng nước

Quản lý nước ở ĐBSCL còn mang tính đơn lẻ, chồng chéo, vì thế quyền kiểm soát và phân bổ, cung cấp nước của chính quyền địa phương kém hiệu quả do thiếu liên kết tiểu vùng trong liên kết vùng. Cần sớm giải quyết các vấn đề này.

Trước thực trạng này, người viết đề xuất sáu cấp quản lý và sử dụng nguồn nước để cứu nguy cho ĐBSCL.

Với hộ dân: hộ dân cần biết thu hoạch nước trong mùa mưa và sử dụng quanh năm qua lu chứa, bể chứa, giếng ống nông, đặc biệt ở miệt biển. Ngoài ra, bà con nên tưới nước tiết kiệm trong canh tác và biết cách giảm ô nhiễm nguồn nước; nhất là nên giảm sử dụng nước ngầm tới ngưỡng. Nếu làm được, cấp hộ dân sẽ tiết kiệm khoảng 24,8 tỉ mét khối nước/năm.

Với cộng đồng: nhờ đặc điểm tự nhiên của mình, ĐBSCL có nhiều mô hình sinh thái nông nghiệp giữ nước tốt, vừa phát triển sản xuất vừa nâng cao sinh kế cộng đồng. Cần nhân rộng cách làm của một số tổ chức nông dân hợp tác canh tác lúa qua tưới xen kẽ kết hợp việc giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, giảm nước và thất thoát sau thu hoạch - tiết kiệm nước tưới cho lúa 40-50%, tăng lợi nhuận cho nông dân khoảng 10% và nguồn nước ít ô nhiễm hơn. Ngoài ra, rất nhiều cộng đồng đang trồng sen du lịch, trồng dừa, nuôi trồng thủy sản... Nếu thực hiện được mô hình cộng đồng tham gia quản lý nước thì sẽ tiết kiệm được hàng tỉ mét khối nước.

Với địa phương: hiện nhiều tỉnh đã lồng ghép chương trình hành động của Chính phủ về ứng phó biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trong thực tế thì hiệu quả chưa cao do nhu cầu sử dụng nước cho phát triển kinh tế - xã hội cao; quyết định quản lý, sử dụng và chia sẻ nguồn nước rất phức tạp và khó khăn; các kế hoạch quản lý và sử dụng nước từ trên xuống chỉ một chiều lại quên đi vai trò của hộ dân và cộng đồng. Quản lý nước ở ĐBSCL còn mang tính đơn lẻ, chồng chéo, vì thế quyền kiểm soát và phân bổ, cung cấp nước của chính quyền địa phương kém hiệu quả do thiếu liên kết tiểu vùng trong liên kết vùng. Cần sớm giải quyết các vấn đề này.

Ở cấp tiểu vùng trong vùng: ĐBSCL có văn hóa khai khẩn đất phương Nam theo con nước và văn hóa sông nước theo “bốn miệt” (miệt bưng, miệt biển, miệt vườn, miệt đồng). Đã có sự đồng thuận liên kết tiểu vùng trong liên kết toàn vùng ứng phó biến đổi khí hậu để phát triển bền vững. Miệt bưng thì ba tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp đã liên kết phát triển tiểu vùng Đồng Tháp Mười; đồng thời An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Kiên Giang đang liên kết phát triển vùng tứ giác Long Xuyên. Miệt biển thì Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long đã liên kết phát triển vùng ven biển Đông. Đồng thời, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang cũng đang liên kết phát triển vùng bán đảo Cà Mau. Như thế miệt vườn cặp theo sông Tiền và sông Hậu có nhiều cơ hội phát triển kinh tế vườn và cũng là nơi chia sẻ, chứa nước từ miệt bưng đổ về và giữ nước ngọt tại chỗ, là hệ đệm quan trọng cung cấp nước ngọt và giảm xâm nhập mặn hàng năm ở miệt biển. Đồng thời, miệt đồng biết canh tác lúa tiết kiệm nước như đã nói. Tất cả hòa quyện và tác động qua lại thì sẽ giúp cho việc quản lý và sử dụng nước cấp độ hộ dân, cộng đồng và địa phương hiệu quả hơn.

Ở cấp độ quốc gia: từ cách quản lý hiệu quả ở bốn cấp hộ dân, cộng đồng, địa phương, tiểu vùng và vùng, ở cấp quốc gia, các bộ, ngành trung ương cần sớm rà soát lại quy hoạch ĐBSCL qua không gian tích hợp liên ngành. Có như vậy mới thực hiện hiệu quả Quyết định 593/TTg về thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL, đặc biệt là Nghị quyết 120/CP năm 2017 về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng “thuận thiên”.

Ở cấp độ quốc tế: từ cấp quốc gia, sẽ có nhiều cơ hội đối thoại chính sách với quốc tế trong khuôn khổ Mêkông mở rộng, ASEM... để quản lý và sử dụng nguồn nước hiệu quả thực sự. Việc mời gọi quốc tế đầu tư hoặc hỗ trợ để nâng từng cấp và liên kết lại qua liên kết vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ thuận tiện hơn. Cụ thể, các đối thoại về chính sách quản lý nước liên quan đến sáu vấn đề gồm (1) chế độ dòng chảy, (2) phù sa và dinh dưỡng theo nguồn nước, (3) đa dạng sinh học, (4) chất và lượng nước, (5) thủy sản và giao thông, (6) tính tổn thương cộng đồng và sinh kế người dân sống theo sông Mêkông sẽ hiệu quả hơn.

(*) Chuyên gia phân tích chính sách Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ)

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC

Mobile

Câu chuyện quản lý nước: Thích ứng với biến đổi khí hậu
Thứ Hai,  23/7/2018, 16:21 
PGS.TS. Nguyễn Văn Sánh (*)

Câu chuyện quản lý nước: Thích ứng với biến đổi khí hậu

PGS.TS. Nguyễn Văn Sánh (*)

(TBKTSG) - Giá trị của tài nguyên nước rất quan trọng, nhất là trong thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), bởi nước chi phối mọi hoạt động phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, dân sinh, bảo tồn sinh thái và văn hóa... của một địa phương, một quốc gia.

Nếu thực hiện được mô hình cộng đồng tham gia quản lý nước thì sẽ tiết kiệm được hàng tỉ mét khối nước. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ

Nước ở ĐBSCL đang đói phù sa

Đối với ĐBSCL, nhiều người quen nghĩ nguồn nước rất dồi dào, bước ra khỏi nhà là chạm tới nước. Vì nước được cung cấp từ nhiều nguồn: hệ thống sông Mêkông khoảng 475 tỉ mét khối/năm; nước mưa hơn 15 tỉ mét khối/năm; nước ngầm với trữ lượng khoảng 2 tỉ mét khối/năm và nước mặn phong phú với bờ biển dài hàng ngàn ki lô mét bao bọc từ biển Tây qua biển Đông.

Tuy vậy nguồn nước phong phú này được quản lý và sử dụng không hiệu quả. Nguồn nước phân bổ chủ yếu vào mùa mưa, khoảng 85%, gây ra ngập úng từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm; mùa khô thì thiếu nước sinh hoạt và mặn xâm nhập sâu vào đất liền, sâu nhất khoảng 90 ki lô mét vào năm 2016. Đồng thời, trong thời gian dài, nước mặn bị xem là kẻ thù, trong khi tài nguyên nước mặn lại là phương tiện phát triển kinh tế biển của ĐBSCL. Hiện nay, hàng loạt tác động kép từ biển đổi khí hậu và phát triển đập ở thượng nguồn càng làm ảnh hưởng đến lượng và chất của nước, nhất là chuyện nước ở ĐBSCL đang đói phù sa.

Cũng thời gian dài, quy hoạch và phát triển kinh tế vùng này của Nhà nước quá chú tâm về an ninh lương thực, dẫn đến thâm canh lúa và sử dụng nhiều phân, thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến ô nhiễm môi trường, đất bị bạc màu, thiếu phù sa. Gần 20 triệu cư dân ĐBSCL quản lý và sử dụng nước không hiệu quả trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày làm cho môi trường nước ngày càng ô nhiễm trầm trọng hơn và phải sử dụng nước ngầm ngày càng nhiều.

Các bất cập trên đã đẩy ĐBSCL tới thực trạng là nguồn nước ngày càng bị thu hẹp; và ĐBSCL ngày càng bị sụt lún và sạt lở hơn là được bồi đắp như xưa.

Đề xuất sáu cấp quản lý và sử dụng nước

Quản lý nước ở ĐBSCL còn mang tính đơn lẻ, chồng chéo, vì thế quyền kiểm soát và phân bổ, cung cấp nước của chính quyền địa phương kém hiệu quả do thiếu liên kết tiểu vùng trong liên kết vùng. Cần sớm giải quyết các vấn đề này.

Trước thực trạng này, người viết đề xuất sáu cấp quản lý và sử dụng nguồn nước để cứu nguy cho ĐBSCL.

Với hộ dân: hộ dân cần biết thu hoạch nước trong mùa mưa và sử dụng quanh năm qua lu chứa, bể chứa, giếng ống nông, đặc biệt ở miệt biển. Ngoài ra, bà con nên tưới nước tiết kiệm trong canh tác và biết cách giảm ô nhiễm nguồn nước; nhất là nên giảm sử dụng nước ngầm tới ngưỡng. Nếu làm được, cấp hộ dân sẽ tiết kiệm khoảng 24,8 tỉ mét khối nước/năm.

Với cộng đồng: nhờ đặc điểm tự nhiên của mình, ĐBSCL có nhiều mô hình sinh thái nông nghiệp giữ nước tốt, vừa phát triển sản xuất vừa nâng cao sinh kế cộng đồng. Cần nhân rộng cách làm của một số tổ chức nông dân hợp tác canh tác lúa qua tưới xen kẽ kết hợp việc giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, giảm nước và thất thoát sau thu hoạch - tiết kiệm nước tưới cho lúa 40-50%, tăng lợi nhuận cho nông dân khoảng 10% và nguồn nước ít ô nhiễm hơn. Ngoài ra, rất nhiều cộng đồng đang trồng sen du lịch, trồng dừa, nuôi trồng thủy sản... Nếu thực hiện được mô hình cộng đồng tham gia quản lý nước thì sẽ tiết kiệm được hàng tỉ mét khối nước.

Với địa phương: hiện nhiều tỉnh đã lồng ghép chương trình hành động của Chính phủ về ứng phó biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trong thực tế thì hiệu quả chưa cao do nhu cầu sử dụng nước cho phát triển kinh tế - xã hội cao; quyết định quản lý, sử dụng và chia sẻ nguồn nước rất phức tạp và khó khăn; các kế hoạch quản lý và sử dụng nước từ trên xuống chỉ một chiều lại quên đi vai trò của hộ dân và cộng đồng. Quản lý nước ở ĐBSCL còn mang tính đơn lẻ, chồng chéo, vì thế quyền kiểm soát và phân bổ, cung cấp nước của chính quyền địa phương kém hiệu quả do thiếu liên kết tiểu vùng trong liên kết vùng. Cần sớm giải quyết các vấn đề này.

Ở cấp tiểu vùng trong vùng: ĐBSCL có văn hóa khai khẩn đất phương Nam theo con nước và văn hóa sông nước theo “bốn miệt” (miệt bưng, miệt biển, miệt vườn, miệt đồng). Đã có sự đồng thuận liên kết tiểu vùng trong liên kết toàn vùng ứng phó biến đổi khí hậu để phát triển bền vững. Miệt bưng thì ba tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp đã liên kết phát triển tiểu vùng Đồng Tháp Mười; đồng thời An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Kiên Giang đang liên kết phát triển vùng tứ giác Long Xuyên. Miệt biển thì Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long đã liên kết phát triển vùng ven biển Đông. Đồng thời, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang cũng đang liên kết phát triển vùng bán đảo Cà Mau. Như thế miệt vườn cặp theo sông Tiền và sông Hậu có nhiều cơ hội phát triển kinh tế vườn và cũng là nơi chia sẻ, chứa nước từ miệt bưng đổ về và giữ nước ngọt tại chỗ, là hệ đệm quan trọng cung cấp nước ngọt và giảm xâm nhập mặn hàng năm ở miệt biển. Đồng thời, miệt đồng biết canh tác lúa tiết kiệm nước như đã nói. Tất cả hòa quyện và tác động qua lại thì sẽ giúp cho việc quản lý và sử dụng nước cấp độ hộ dân, cộng đồng và địa phương hiệu quả hơn.

Ở cấp độ quốc gia: từ cách quản lý hiệu quả ở bốn cấp hộ dân, cộng đồng, địa phương, tiểu vùng và vùng, ở cấp quốc gia, các bộ, ngành trung ương cần sớm rà soát lại quy hoạch ĐBSCL qua không gian tích hợp liên ngành. Có như vậy mới thực hiện hiệu quả Quyết định 593/TTg về thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL, đặc biệt là Nghị quyết 120/CP năm 2017 về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng “thuận thiên”.

Ở cấp độ quốc tế: từ cấp quốc gia, sẽ có nhiều cơ hội đối thoại chính sách với quốc tế trong khuôn khổ Mêkông mở rộng, ASEM... để quản lý và sử dụng nguồn nước hiệu quả thực sự. Việc mời gọi quốc tế đầu tư hoặc hỗ trợ để nâng từng cấp và liên kết lại qua liên kết vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ thuận tiện hơn. Cụ thể, các đối thoại về chính sách quản lý nước liên quan đến sáu vấn đề gồm (1) chế độ dòng chảy, (2) phù sa và dinh dưỡng theo nguồn nước, (3) đa dạng sinh học, (4) chất và lượng nước, (5) thủy sản và giao thông, (6) tính tổn thương cộng đồng và sinh kế người dân sống theo sông Mêkông sẽ hiệu quả hơn.

(*) Chuyên gia phân tích chính sách Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ)

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC