Thứ Năm,  15/11/2018, 15:20 
Đặt báo in

Không phản đối nếu chứng minh là cần thiết và đầu tư không hối tiếc

TS. Tô Văn Trường(*)
Thứ Hai,  10/9/2018, 19:13 

Không phản đối nếu chứng minh là cần thiết và đầu tư không hối tiếc

TS. Tô Văn Trường(*)

LTS: Sau khi Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đăng tải bài Lại cãi nhau với đại dự án thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé ngày 7/9/2018 cùng các bài viết mang tính phản biện dự án Cái Lớn - Cái Bé của các chuyên gia, tòa soạn đã nhận bài viết tham luận của Tiến sĩ Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, chuyên gia độc lập về dự án này.

Để rộng đường dư luận và thông tin nhiều chiều, tòa soạn biên tập, đặt tít chính, tít phụ và trích đăng nội dung bài tham luận bên dưới.

Từ câu chuyện âu thuyền Tắc Thủ

Trước đây, bên ngành nông nghiệp thường đưa ra diện tích, dự kiến sản lượng rồi yêu cầu ngành thủy lợi bố trí công trình đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Phải chuyển sang tư duy 2 chiều, từ bài toán cân bằng nước (cả số lượng và chất lượng) để bố trí sản xuất thích hợp với khả năng của nguồn nước.

Tôi giải thích ý kiến của nhóm chuyên gia Cần Thơ phê phán về dự án cống âu thuyền Tắc Thủ, đây không phải là lỗi của ngành thủy lợi.

Về cống âu Tắc Thủ, tôi không tán thành vì kết quả tính thủy lực thấy rõ làm xong vẫn bị mặn tâp hậu (nếu không đầu tư khép kín còn hở Biển Nhị, Xẻo Rô) vv… Sau đó, có hội thảo ở phía Nam, tôi vẫn công khai bảo lưu ý kiến nói trên. Hồi ấy, do ngành giao thông còn thừa 5 triệu đô la (dự án của Ngân hàng Thế giới - WB) nên đã thuê Công ty Tư vấn xây dựng thủy lợi 2 (HEC2) thiết kế giúp, kết quả đến ngày nay đúng như tôi đã cảnh báo từ đầu là lãng phí, không hiệu quả.

Cũng lưu ý ngay bây giờ việc giải quyết cống Tắc Thủ cũng rất phức tạp vì thực tế đang khai thông vận chuyển đường thủy khu công nghiệp điện đạm Cà Mau. Ý kiến của nhóm chuyên gia Cần Thơ về việc người dân phá đập Láng Trâm là chính xác. Hồi ấy, do yêu cầu sản xuất lương thực, xây đập Láng Trâm bị ô nhiễm môi trường, dân không đồng tình.

Nhận thức là cả quá trình, từ làm đập ngăn mặn, ngành thủy lợi đã chuyển sang kiểm soát mặn, tức là chuyển đắp đập thành xây cống 1-2 chiều để chủ động kiểm soát mặn tùy theo nhu cầu sản xuất của người dân.

Có cần hội thảo về phi công trình?

Giải đáp ý kiến của GS Nguyễn Ngọc Trân về hệ thống Ba Lai ở Bến Tre, theo tôi biết Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đã đánh giá hiệu quả hệ thống dự án cống Ba Lai quyết định tiếp tục đầu tư khép kín hệ thống, sang năm 2019 sẽ đấu thầu xây dựng các cống còn lại như Gia Hòa, Chẹc Sậy vv… lúc đó mặn, ngọt được phân ranh phù hợp với yêu cầu của sản xuất và cấp nước ngọt cho sinh hoạt của người dân Bến Tre.

Trong bài phát biểu của GS Trân 2 lần nêu tên tôi (chia sẻ đồng tình với quan điểm của Tô Văn Trường trong bài viết trước đây về sự phức tạp về thủy văn, thủy thế chằng chịt phức tạp ở trong vùng này vv…). Thực tế, vùng dự án nói riêng và khu vực tứ giác Cái Sắn - Xà No + Bán đảo Cà Mau là một vùng đất thấp trũng nằm kẹp giữa một bề là sông và hai-ba bề là biển, chứa đựng tổ hợp của các hệ sông triều kết hợp với các quá trình sông - kênh - rạch,.. chúng khác nhau xa về độ lớn, về pha, về hướng, về tốc độ, về lực, về khối lượng… đã gắn kết lại với nhau tạo thành “trận đồ bát quái” phức tạp về điều kiện tự nhiên vào loại bậc nhất thế giới.

Gs Trân phê phán các tồn tại của mô hình toán như thiếu các số liệu đầu vào là đúng nhưng không đủ, nên tôi đã bổ sung chất lượng của mô hình còn phụ thuộc vào lựa chọn phần mềm tính toán, khả năng máy tính và kỹ năng của người lập và sử dụng mô hình. Trong tính toán phương án không thể thiếu công cụ mô hình thủy văn, thủy lực, chất lượng nước (không có mô hình thì như thầy bói sờ voi)!

Tôi không đồng ý với đề xuất của GS Trân cần tổ chức hội thảo chỉ bàn về phi công trình vừa lãng phí thời gian, lại tốn kém tiền bạc vì trong phân tích trade-off và báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) phải đề cập, phân tích đánh giá so sánh giải pháp công trình và phi công trình. 

Tôi khẳng định Đồng bằng sông Cửu Long trù phú ngày nay chính là phần lớn nhờ các hệ thống công trình thủy lợi biến những cánh đồng chó ngáp, đất đai hoang hóa, chua phèn mặn thành những cánh đồng trù phú như ngày nay. Ở Đồng Tháp Mười dân nhớ ơn đặt tên kênh Hồng Ngự là kênh Trung ương, Tứ giác Long Xuyên có bia đá ghi nhớ công ơn đặt tên kênh Tuần Thống -T5 thành kênh Võ Văn Kiệt vv…

Góp ý cho Cái Lớn - Cái Bé

Sau lần tôi viết góp ý về các bất cập của cống Cái Lớn - Cái Bé (cách đây khoảng 3 tháng) phải nói là các cơ quan tư vấn đã nghiên cứu bổ sung, báo cáo của thạc sĩ Đỗ Đức Dũng ngày 7-9 có bước tiến dài so với trước nhưng tại hội thảo ở Kiên Giang, tôi vẫn chỉ ra còn những mâu thuẫn, chưa rõ:

1- Nói vùng sinh thái ngọt bị xâm nhập mặn tần suất 50% nhưng không nói rõ trên diện tích bao nhiêu, chiếm bao nhiêu phần trăm diện tích vùng ngọt Tây sông Hậu. Sự xung đột sử dụng nước bản chất là lúa và tôm, cống Cái Lớn - Cái Bé giải quyết như thế nào?

2 - Báo cáo trình bày thách thức đối với sản xuất trong đó nêu độ mặn lên 35-40 g/l nhưng không nêu rõ độ mặn ở vị trí nào nhưng cho thấy độ mặn cao nhất cũng thấp hơn 30g/l? Phải xem lại mâu thuẫn này?

3 - Định hướng giải quyết: Hậu Giang cần kiểm soát mặn từ sông Cái Lớn. Có 2 câu hỏi cần trả lời (1) Khoảng 4 ngàn ha thuộc Long Mỹ có nhu cầu chuyển sang mô hình tôm-lúa có cần nước mặn nữa không? (2) Sau khi xây dựng xong cống Ninh Quới trên kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp thì tỉnh Bạc Liêu sẽ vận hành cống ven quốc lộ 1 để tăng cường nước mặn cho Hồng Dân và Phước Long để nuôi tôm? Đây cũng là yêu cầu trong văn bản của Thủ tướng phê duyệt chủ trương đầu tư cống Cái Lớn - Cái Bé. Mặn từ biển Đông có thể lên Xẻo Chít và xâm nhập vào Long Mỹ?

4 - Đối với tiểu vùng U Minh Thượng, dự án đề xuất kiểm soát mặn trong khoảng 10-25 g/l. Nếu nhìn trên hình 4 thấy mùa khô độ mặn cao nhất không quá 30g/l. Độ mặn được vẽ ra không nói rõ vị trí nào. Tuy nhiên, theo số liệu mặn nhiều năm 2002-2016 (trừ năm cực đoan 2016) còn lại đều thấp hơn 25g/l. Tại Xẻo Rô (cách biển 10 km) và thấp hơn 16 g/l tại trạm Gò Quao (cách biển 40km). Vậy kiểm soát vận hành khi nào? Liệu có phải cho những năm thiên tai như 2016?

5 - Các nghiên cứu liên quan của các tổ chức trong nước và quốc tế, báo cáo kết luận ở trang 16 rằng “Tóm lại, từ các nghiên cứu và quy hoạch vùng ĐBSCL nói chung, vùng Bán đảo Cà Mau nói riêng  qua các thời kỳ, mặc dù còn một số  vấn đề cần làm rõ thêm, nhưng đều xác định cần xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé (trong đó trọng tâm là xây dựng cống Cái Lớn, Cái Bé). Xin lưu ý sử dụng ngôn từ ở đọan này sao cho thuyết phục vì ít nhất nghiên cứu của PGS Trịnh Công Vấn (tác giả đã nêu trong danh mục các báo cáo tham khảo để viết báo cáo này) đề nghị giải quyết các vấn đề thủy lợi riêng cho các vùng sinh thái; Báo cáo của nhóm tư vấn độc lập (do chuyên gia Phạm Chu Đông trình bày tại hội nghị do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại TPHCM) cũng khuyến cáo thận trọng khi quyết định xây dựng công trình này; MDP Hà Lan cũng khuyến cáo cần chú ý phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ.

6 - Sự cần thiết đầu tư:

Báo cáo viết rằng “vào mùa khô vận hành cống để kiểm soát mặn và một phần nước ngọt chuyển xuống giáp biển của tiểu vùng U Minh Thượng”. Câu hỏi là trong mùa khô cần lấy nước mặn để nuôi tôm và độ mặn trình bày ở hình 4 của các tác giả và phần bình luận trên cho thấy có thực sự cần kiểm soát mặn? và ‘cuối mùa mưa (tháng 11, 12) giữ ngọt cho sản xuất lúa thì trên hình 4 lại cho thấy từ tháng 6 đến tháng 12 độ mặn đã rất thấp rồi? Cũng xin lưu ý rằng nông dân không lấy nước mặn liên tục để nuôi tôm mà chỉ lấy từng đợt và họ có thể điều chỉnh thời gian lấy nước theo độ mặn họ quan trắc được ngoài sông.

7 -Tính toán kinh tế phải rà soát lại:

Giai đoạn 1 chỉ mới đầu tư xây dựng 2 cống Cái Lớn - Cái bé và một số hạng mục phụ thì không thể đạt được mục tiêu nêu trên, đặc biệt nó còn có thể làm phát sinh xung đột sử dụng nước trong khu vực dự án. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng kèm theo lún đất sẽ làm cho công trình không thể vận hành như thiết kế (đóng cống nhiều hơn) và có thể tác động xấu đến phát triển thủy sản khu vực này. Khu vực hưởng lợi dự án giai đoạn 1 cũng không thể được xác định vì còn phải đầu tư rất nhiều công trình khác.

-Lâu nay tư vấn trong nước thường chỉ lấy các chỉ số để đánh giá hiệu quả của dự án, mà ngay việc này họ cũng làm không tốt, thường ôm hết các hiệu quả do các hoạt động khác và thường chỉ kể đến công trình mình làm.

Muốn đánh giá về kinh tế thì phải so sánh kết quả sản xuất kinh tế hiện nay và kết quả sau khi có xây cống Cái Lớn-Cái Bé. Ngoài ra, còn có những ảnh hưởng lợi hay hại ngoại vi về môi trường cũng cần nói đến và ở chừng mực nào đó có thể tính ra lợi hại kinh tế. Tôi không thấy những số liệu này trong báo cáo.

- Bài toán vận hành hơn 100 cống trong vùng dự án phải tính toán lại cho logic vì bài học kinh nghiệm chỉ có 2 cống Trà Sư & Tha La kiểm soát lũ tràn đầu vụ biên giới Việt Nam - Campuchia liên quan đến 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang nhiều khi trung ương đã phải vào cuộc chỉ đạo để “gỡ rối”.

- Về vấn đề  tác động môi trường trong báo cáo ĐTM cần phân tích rõ các phương án, kể cả việc thiết kế khẩu độ cống bằng kênh và chế độ đóng mở sao cho tác động ít nhất đến môi trường sinh thái.

Kết luận:

Tôi đồng ý và chia sẻ với quan điểm của GS Nguyễn Ngọc Trân là “Không phản đối, nếu cơ quan tư vấn và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chứng minh giải trình được việc xây dựng cống Cái Lớn - Cái Bé là cần thiết và đầu tư không hối tiếc”.

(*) Nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, chuyên gia độc lập

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
CHUYỂN ĐỘNG CÔNG THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHUYẾN MÃI
WEB GIÁ RẺ
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
QUẢN TRỊ SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
DỮ LIỆU DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
QUY HOẠCH - HẠ TẦNG
DỰ ÁN
GÓC TƯ VẤN
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.
Không phản đối nếu chứng minh là cần thiết và đầu tư không hối tiếc
Thứ Hai,  10/9/2018, 19:13 
TS. Tô Văn Trường(*)

Không phản đối nếu chứng minh là cần thiết và đầu tư không hối tiếc

TS. Tô Văn Trường(*)

LTS: Sau khi Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đăng tải bài Lại cãi nhau với đại dự án thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé ngày 7/9/2018 cùng các bài viết mang tính phản biện dự án Cái Lớn - Cái Bé của các chuyên gia, tòa soạn đã nhận bài viết tham luận của Tiến sĩ Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, chuyên gia độc lập về dự án này.

Để rộng đường dư luận và thông tin nhiều chiều, tòa soạn biên tập, đặt tít chính, tít phụ và trích đăng nội dung bài tham luận bên dưới.

Từ câu chuyện âu thuyền Tắc Thủ

Trước đây, bên ngành nông nghiệp thường đưa ra diện tích, dự kiến sản lượng rồi yêu cầu ngành thủy lợi bố trí công trình đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Phải chuyển sang tư duy 2 chiều, từ bài toán cân bằng nước (cả số lượng và chất lượng) để bố trí sản xuất thích hợp với khả năng của nguồn nước.

Tôi giải thích ý kiến của nhóm chuyên gia Cần Thơ phê phán về dự án cống âu thuyền Tắc Thủ, đây không phải là lỗi của ngành thủy lợi.

Về cống âu Tắc Thủ, tôi không tán thành vì kết quả tính thủy lực thấy rõ làm xong vẫn bị mặn tâp hậu (nếu không đầu tư khép kín còn hở Biển Nhị, Xẻo Rô) vv… Sau đó, có hội thảo ở phía Nam, tôi vẫn công khai bảo lưu ý kiến nói trên. Hồi ấy, do ngành giao thông còn thừa 5 triệu đô la (dự án của Ngân hàng Thế giới - WB) nên đã thuê Công ty Tư vấn xây dựng thủy lợi 2 (HEC2) thiết kế giúp, kết quả đến ngày nay đúng như tôi đã cảnh báo từ đầu là lãng phí, không hiệu quả.

Cũng lưu ý ngay bây giờ việc giải quyết cống Tắc Thủ cũng rất phức tạp vì thực tế đang khai thông vận chuyển đường thủy khu công nghiệp điện đạm Cà Mau. Ý kiến của nhóm chuyên gia Cần Thơ về việc người dân phá đập Láng Trâm là chính xác. Hồi ấy, do yêu cầu sản xuất lương thực, xây đập Láng Trâm bị ô nhiễm môi trường, dân không đồng tình.

Nhận thức là cả quá trình, từ làm đập ngăn mặn, ngành thủy lợi đã chuyển sang kiểm soát mặn, tức là chuyển đắp đập thành xây cống 1-2 chiều để chủ động kiểm soát mặn tùy theo nhu cầu sản xuất của người dân.

Có cần hội thảo về phi công trình?

Giải đáp ý kiến của GS Nguyễn Ngọc Trân về hệ thống Ba Lai ở Bến Tre, theo tôi biết Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đã đánh giá hiệu quả hệ thống dự án cống Ba Lai quyết định tiếp tục đầu tư khép kín hệ thống, sang năm 2019 sẽ đấu thầu xây dựng các cống còn lại như Gia Hòa, Chẹc Sậy vv… lúc đó mặn, ngọt được phân ranh phù hợp với yêu cầu của sản xuất và cấp nước ngọt cho sinh hoạt của người dân Bến Tre.

Trong bài phát biểu của GS Trân 2 lần nêu tên tôi (chia sẻ đồng tình với quan điểm của Tô Văn Trường trong bài viết trước đây về sự phức tạp về thủy văn, thủy thế chằng chịt phức tạp ở trong vùng này vv…). Thực tế, vùng dự án nói riêng và khu vực tứ giác Cái Sắn - Xà No + Bán đảo Cà Mau là một vùng đất thấp trũng nằm kẹp giữa một bề là sông và hai-ba bề là biển, chứa đựng tổ hợp của các hệ sông triều kết hợp với các quá trình sông - kênh - rạch,.. chúng khác nhau xa về độ lớn, về pha, về hướng, về tốc độ, về lực, về khối lượng… đã gắn kết lại với nhau tạo thành “trận đồ bát quái” phức tạp về điều kiện tự nhiên vào loại bậc nhất thế giới.

Gs Trân phê phán các tồn tại của mô hình toán như thiếu các số liệu đầu vào là đúng nhưng không đủ, nên tôi đã bổ sung chất lượng của mô hình còn phụ thuộc vào lựa chọn phần mềm tính toán, khả năng máy tính và kỹ năng của người lập và sử dụng mô hình. Trong tính toán phương án không thể thiếu công cụ mô hình thủy văn, thủy lực, chất lượng nước (không có mô hình thì như thầy bói sờ voi)!

Tôi không đồng ý với đề xuất của GS Trân cần tổ chức hội thảo chỉ bàn về phi công trình vừa lãng phí thời gian, lại tốn kém tiền bạc vì trong phân tích trade-off và báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) phải đề cập, phân tích đánh giá so sánh giải pháp công trình và phi công trình. 

Tôi khẳng định Đồng bằng sông Cửu Long trù phú ngày nay chính là phần lớn nhờ các hệ thống công trình thủy lợi biến những cánh đồng chó ngáp, đất đai hoang hóa, chua phèn mặn thành những cánh đồng trù phú như ngày nay. Ở Đồng Tháp Mười dân nhớ ơn đặt tên kênh Hồng Ngự là kênh Trung ương, Tứ giác Long Xuyên có bia đá ghi nhớ công ơn đặt tên kênh Tuần Thống -T5 thành kênh Võ Văn Kiệt vv…

Góp ý cho Cái Lớn - Cái Bé

Sau lần tôi viết góp ý về các bất cập của cống Cái Lớn - Cái Bé (cách đây khoảng 3 tháng) phải nói là các cơ quan tư vấn đã nghiên cứu bổ sung, báo cáo của thạc sĩ Đỗ Đức Dũng ngày 7-9 có bước tiến dài so với trước nhưng tại hội thảo ở Kiên Giang, tôi vẫn chỉ ra còn những mâu thuẫn, chưa rõ:

1- Nói vùng sinh thái ngọt bị xâm nhập mặn tần suất 50% nhưng không nói rõ trên diện tích bao nhiêu, chiếm bao nhiêu phần trăm diện tích vùng ngọt Tây sông Hậu. Sự xung đột sử dụng nước bản chất là lúa và tôm, cống Cái Lớn - Cái Bé giải quyết như thế nào?

2 - Báo cáo trình bày thách thức đối với sản xuất trong đó nêu độ mặn lên 35-40 g/l nhưng không nêu rõ độ mặn ở vị trí nào nhưng cho thấy độ mặn cao nhất cũng thấp hơn 30g/l? Phải xem lại mâu thuẫn này?

3 - Định hướng giải quyết: Hậu Giang cần kiểm soát mặn từ sông Cái Lớn. Có 2 câu hỏi cần trả lời (1) Khoảng 4 ngàn ha thuộc Long Mỹ có nhu cầu chuyển sang mô hình tôm-lúa có cần nước mặn nữa không? (2) Sau khi xây dựng xong cống Ninh Quới trên kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp thì tỉnh Bạc Liêu sẽ vận hành cống ven quốc lộ 1 để tăng cường nước mặn cho Hồng Dân và Phước Long để nuôi tôm? Đây cũng là yêu cầu trong văn bản của Thủ tướng phê duyệt chủ trương đầu tư cống Cái Lớn - Cái Bé. Mặn từ biển Đông có thể lên Xẻo Chít và xâm nhập vào Long Mỹ?

4 - Đối với tiểu vùng U Minh Thượng, dự án đề xuất kiểm soát mặn trong khoảng 10-25 g/l. Nếu nhìn trên hình 4 thấy mùa khô độ mặn cao nhất không quá 30g/l. Độ mặn được vẽ ra không nói rõ vị trí nào. Tuy nhiên, theo số liệu mặn nhiều năm 2002-2016 (trừ năm cực đoan 2016) còn lại đều thấp hơn 25g/l. Tại Xẻo Rô (cách biển 10 km) và thấp hơn 16 g/l tại trạm Gò Quao (cách biển 40km). Vậy kiểm soát vận hành khi nào? Liệu có phải cho những năm thiên tai như 2016?

5 - Các nghiên cứu liên quan của các tổ chức trong nước và quốc tế, báo cáo kết luận ở trang 16 rằng “Tóm lại, từ các nghiên cứu và quy hoạch vùng ĐBSCL nói chung, vùng Bán đảo Cà Mau nói riêng  qua các thời kỳ, mặc dù còn một số  vấn đề cần làm rõ thêm, nhưng đều xác định cần xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé (trong đó trọng tâm là xây dựng cống Cái Lớn, Cái Bé). Xin lưu ý sử dụng ngôn từ ở đọan này sao cho thuyết phục vì ít nhất nghiên cứu của PGS Trịnh Công Vấn (tác giả đã nêu trong danh mục các báo cáo tham khảo để viết báo cáo này) đề nghị giải quyết các vấn đề thủy lợi riêng cho các vùng sinh thái; Báo cáo của nhóm tư vấn độc lập (do chuyên gia Phạm Chu Đông trình bày tại hội nghị do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại TPHCM) cũng khuyến cáo thận trọng khi quyết định xây dựng công trình này; MDP Hà Lan cũng khuyến cáo cần chú ý phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ.

6 - Sự cần thiết đầu tư:

Báo cáo viết rằng “vào mùa khô vận hành cống để kiểm soát mặn và một phần nước ngọt chuyển xuống giáp biển của tiểu vùng U Minh Thượng”. Câu hỏi là trong mùa khô cần lấy nước mặn để nuôi tôm và độ mặn trình bày ở hình 4 của các tác giả và phần bình luận trên cho thấy có thực sự cần kiểm soát mặn? và ‘cuối mùa mưa (tháng 11, 12) giữ ngọt cho sản xuất lúa thì trên hình 4 lại cho thấy từ tháng 6 đến tháng 12 độ mặn đã rất thấp rồi? Cũng xin lưu ý rằng nông dân không lấy nước mặn liên tục để nuôi tôm mà chỉ lấy từng đợt và họ có thể điều chỉnh thời gian lấy nước theo độ mặn họ quan trắc được ngoài sông.

7 -Tính toán kinh tế phải rà soát lại:

Giai đoạn 1 chỉ mới đầu tư xây dựng 2 cống Cái Lớn - Cái bé và một số hạng mục phụ thì không thể đạt được mục tiêu nêu trên, đặc biệt nó còn có thể làm phát sinh xung đột sử dụng nước trong khu vực dự án. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng kèm theo lún đất sẽ làm cho công trình không thể vận hành như thiết kế (đóng cống nhiều hơn) và có thể tác động xấu đến phát triển thủy sản khu vực này. Khu vực hưởng lợi dự án giai đoạn 1 cũng không thể được xác định vì còn phải đầu tư rất nhiều công trình khác.

-Lâu nay tư vấn trong nước thường chỉ lấy các chỉ số để đánh giá hiệu quả của dự án, mà ngay việc này họ cũng làm không tốt, thường ôm hết các hiệu quả do các hoạt động khác và thường chỉ kể đến công trình mình làm.

Muốn đánh giá về kinh tế thì phải so sánh kết quả sản xuất kinh tế hiện nay và kết quả sau khi có xây cống Cái Lớn-Cái Bé. Ngoài ra, còn có những ảnh hưởng lợi hay hại ngoại vi về môi trường cũng cần nói đến và ở chừng mực nào đó có thể tính ra lợi hại kinh tế. Tôi không thấy những số liệu này trong báo cáo.

- Bài toán vận hành hơn 100 cống trong vùng dự án phải tính toán lại cho logic vì bài học kinh nghiệm chỉ có 2 cống Trà Sư & Tha La kiểm soát lũ tràn đầu vụ biên giới Việt Nam - Campuchia liên quan đến 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang nhiều khi trung ương đã phải vào cuộc chỉ đạo để “gỡ rối”.

- Về vấn đề  tác động môi trường trong báo cáo ĐTM cần phân tích rõ các phương án, kể cả việc thiết kế khẩu độ cống bằng kênh và chế độ đóng mở sao cho tác động ít nhất đến môi trường sinh thái.

Kết luận:

Tôi đồng ý và chia sẻ với quan điểm của GS Nguyễn Ngọc Trân là “Không phản đối, nếu cơ quan tư vấn và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chứng minh giải trình được việc xây dựng cống Cái Lớn - Cái Bé là cần thiết và đầu tư không hối tiếc”.

(*) Nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, chuyên gia độc lập

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Mobile

Không phản đối nếu chứng minh là cần thiết và đầu tư không hối tiếc
Thứ Hai,  10/9/2018, 19:13 
TS. Tô Văn Trường(*)

Không phản đối nếu chứng minh là cần thiết và đầu tư không hối tiếc

TS. Tô Văn Trường(*)

LTS: Sau khi Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đăng tải bài Lại cãi nhau với đại dự án thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé ngày 7/9/2018 cùng các bài viết mang tính phản biện dự án Cái Lớn - Cái Bé của các chuyên gia, tòa soạn đã nhận bài viết tham luận của Tiến sĩ Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, chuyên gia độc lập về dự án này.

Để rộng đường dư luận và thông tin nhiều chiều, tòa soạn biên tập, đặt tít chính, tít phụ và trích đăng nội dung bài tham luận bên dưới.

Từ câu chuyện âu thuyền Tắc Thủ

Trước đây, bên ngành nông nghiệp thường đưa ra diện tích, dự kiến sản lượng rồi yêu cầu ngành thủy lợi bố trí công trình đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Phải chuyển sang tư duy 2 chiều, từ bài toán cân bằng nước (cả số lượng và chất lượng) để bố trí sản xuất thích hợp với khả năng của nguồn nước.

Tôi giải thích ý kiến của nhóm chuyên gia Cần Thơ phê phán về dự án cống âu thuyền Tắc Thủ, đây không phải là lỗi của ngành thủy lợi.

Về cống âu Tắc Thủ, tôi không tán thành vì kết quả tính thủy lực thấy rõ làm xong vẫn bị mặn tâp hậu (nếu không đầu tư khép kín còn hở Biển Nhị, Xẻo Rô) vv… Sau đó, có hội thảo ở phía Nam, tôi vẫn công khai bảo lưu ý kiến nói trên. Hồi ấy, do ngành giao thông còn thừa 5 triệu đô la (dự án của Ngân hàng Thế giới - WB) nên đã thuê Công ty Tư vấn xây dựng thủy lợi 2 (HEC2) thiết kế giúp, kết quả đến ngày nay đúng như tôi đã cảnh báo từ đầu là lãng phí, không hiệu quả.

Cũng lưu ý ngay bây giờ việc giải quyết cống Tắc Thủ cũng rất phức tạp vì thực tế đang khai thông vận chuyển đường thủy khu công nghiệp điện đạm Cà Mau. Ý kiến của nhóm chuyên gia Cần Thơ về việc người dân phá đập Láng Trâm là chính xác. Hồi ấy, do yêu cầu sản xuất lương thực, xây đập Láng Trâm bị ô nhiễm môi trường, dân không đồng tình.

Nhận thức là cả quá trình, từ làm đập ngăn mặn, ngành thủy lợi đã chuyển sang kiểm soát mặn, tức là chuyển đắp đập thành xây cống 1-2 chiều để chủ động kiểm soát mặn tùy theo nhu cầu sản xuất của người dân.

Có cần hội thảo về phi công trình?

Giải đáp ý kiến của GS Nguyễn Ngọc Trân về hệ thống Ba Lai ở Bến Tre, theo tôi biết Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đã đánh giá hiệu quả hệ thống dự án cống Ba Lai quyết định tiếp tục đầu tư khép kín hệ thống, sang năm 2019 sẽ đấu thầu xây dựng các cống còn lại như Gia Hòa, Chẹc Sậy vv… lúc đó mặn, ngọt được phân ranh phù hợp với yêu cầu của sản xuất và cấp nước ngọt cho sinh hoạt của người dân Bến Tre.

Trong bài phát biểu của GS Trân 2 lần nêu tên tôi (chia sẻ đồng tình với quan điểm của Tô Văn Trường trong bài viết trước đây về sự phức tạp về thủy văn, thủy thế chằng chịt phức tạp ở trong vùng này vv…). Thực tế, vùng dự án nói riêng và khu vực tứ giác Cái Sắn - Xà No + Bán đảo Cà Mau là một vùng đất thấp trũng nằm kẹp giữa một bề là sông và hai-ba bề là biển, chứa đựng tổ hợp của các hệ sông triều kết hợp với các quá trình sông - kênh - rạch,.. chúng khác nhau xa về độ lớn, về pha, về hướng, về tốc độ, về lực, về khối lượng… đã gắn kết lại với nhau tạo thành “trận đồ bát quái” phức tạp về điều kiện tự nhiên vào loại bậc nhất thế giới.

Gs Trân phê phán các tồn tại của mô hình toán như thiếu các số liệu đầu vào là đúng nhưng không đủ, nên tôi đã bổ sung chất lượng của mô hình còn phụ thuộc vào lựa chọn phần mềm tính toán, khả năng máy tính và kỹ năng của người lập và sử dụng mô hình. Trong tính toán phương án không thể thiếu công cụ mô hình thủy văn, thủy lực, chất lượng nước (không có mô hình thì như thầy bói sờ voi)!

Tôi không đồng ý với đề xuất của GS Trân cần tổ chức hội thảo chỉ bàn về phi công trình vừa lãng phí thời gian, lại tốn kém tiền bạc vì trong phân tích trade-off và báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) phải đề cập, phân tích đánh giá so sánh giải pháp công trình và phi công trình. 

Tôi khẳng định Đồng bằng sông Cửu Long trù phú ngày nay chính là phần lớn nhờ các hệ thống công trình thủy lợi biến những cánh đồng chó ngáp, đất đai hoang hóa, chua phèn mặn thành những cánh đồng trù phú như ngày nay. Ở Đồng Tháp Mười dân nhớ ơn đặt tên kênh Hồng Ngự là kênh Trung ương, Tứ giác Long Xuyên có bia đá ghi nhớ công ơn đặt tên kênh Tuần Thống -T5 thành kênh Võ Văn Kiệt vv…

Góp ý cho Cái Lớn - Cái Bé

Sau lần tôi viết góp ý về các bất cập của cống Cái Lớn - Cái Bé (cách đây khoảng 3 tháng) phải nói là các cơ quan tư vấn đã nghiên cứu bổ sung, báo cáo của thạc sĩ Đỗ Đức Dũng ngày 7-9 có bước tiến dài so với trước nhưng tại hội thảo ở Kiên Giang, tôi vẫn chỉ ra còn những mâu thuẫn, chưa rõ:

1- Nói vùng sinh thái ngọt bị xâm nhập mặn tần suất 50% nhưng không nói rõ trên diện tích bao nhiêu, chiếm bao nhiêu phần trăm diện tích vùng ngọt Tây sông Hậu. Sự xung đột sử dụng nước bản chất là lúa và tôm, cống Cái Lớn - Cái Bé giải quyết như thế nào?

2 - Báo cáo trình bày thách thức đối với sản xuất trong đó nêu độ mặn lên 35-40 g/l nhưng không nêu rõ độ mặn ở vị trí nào nhưng cho thấy độ mặn cao nhất cũng thấp hơn 30g/l? Phải xem lại mâu thuẫn này?

3 - Định hướng giải quyết: Hậu Giang cần kiểm soát mặn từ sông Cái Lớn. Có 2 câu hỏi cần trả lời (1) Khoảng 4 ngàn ha thuộc Long Mỹ có nhu cầu chuyển sang mô hình tôm-lúa có cần nước mặn nữa không? (2) Sau khi xây dựng xong cống Ninh Quới trên kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp thì tỉnh Bạc Liêu sẽ vận hành cống ven quốc lộ 1 để tăng cường nước mặn cho Hồng Dân và Phước Long để nuôi tôm? Đây cũng là yêu cầu trong văn bản của Thủ tướng phê duyệt chủ trương đầu tư cống Cái Lớn - Cái Bé. Mặn từ biển Đông có thể lên Xẻo Chít và xâm nhập vào Long Mỹ?

4 - Đối với tiểu vùng U Minh Thượng, dự án đề xuất kiểm soát mặn trong khoảng 10-25 g/l. Nếu nhìn trên hình 4 thấy mùa khô độ mặn cao nhất không quá 30g/l. Độ mặn được vẽ ra không nói rõ vị trí nào. Tuy nhiên, theo số liệu mặn nhiều năm 2002-2016 (trừ năm cực đoan 2016) còn lại đều thấp hơn 25g/l. Tại Xẻo Rô (cách biển 10 km) và thấp hơn 16 g/l tại trạm Gò Quao (cách biển 40km). Vậy kiểm soát vận hành khi nào? Liệu có phải cho những năm thiên tai như 2016?

5 - Các nghiên cứu liên quan của các tổ chức trong nước và quốc tế, báo cáo kết luận ở trang 16 rằng “Tóm lại, từ các nghiên cứu và quy hoạch vùng ĐBSCL nói chung, vùng Bán đảo Cà Mau nói riêng  qua các thời kỳ, mặc dù còn một số  vấn đề cần làm rõ thêm, nhưng đều xác định cần xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé (trong đó trọng tâm là xây dựng cống Cái Lớn, Cái Bé). Xin lưu ý sử dụng ngôn từ ở đọan này sao cho thuyết phục vì ít nhất nghiên cứu của PGS Trịnh Công Vấn (tác giả đã nêu trong danh mục các báo cáo tham khảo để viết báo cáo này) đề nghị giải quyết các vấn đề thủy lợi riêng cho các vùng sinh thái; Báo cáo của nhóm tư vấn độc lập (do chuyên gia Phạm Chu Đông trình bày tại hội nghị do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại TPHCM) cũng khuyến cáo thận trọng khi quyết định xây dựng công trình này; MDP Hà Lan cũng khuyến cáo cần chú ý phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ.

6 - Sự cần thiết đầu tư:

Báo cáo viết rằng “vào mùa khô vận hành cống để kiểm soát mặn và một phần nước ngọt chuyển xuống giáp biển của tiểu vùng U Minh Thượng”. Câu hỏi là trong mùa khô cần lấy nước mặn để nuôi tôm và độ mặn trình bày ở hình 4 của các tác giả và phần bình luận trên cho thấy có thực sự cần kiểm soát mặn? và ‘cuối mùa mưa (tháng 11, 12) giữ ngọt cho sản xuất lúa thì trên hình 4 lại cho thấy từ tháng 6 đến tháng 12 độ mặn đã rất thấp rồi? Cũng xin lưu ý rằng nông dân không lấy nước mặn liên tục để nuôi tôm mà chỉ lấy từng đợt và họ có thể điều chỉnh thời gian lấy nước theo độ mặn họ quan trắc được ngoài sông.

7 -Tính toán kinh tế phải rà soát lại:

Giai đoạn 1 chỉ mới đầu tư xây dựng 2 cống Cái Lớn - Cái bé và một số hạng mục phụ thì không thể đạt được mục tiêu nêu trên, đặc biệt nó còn có thể làm phát sinh xung đột sử dụng nước trong khu vực dự án. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng kèm theo lún đất sẽ làm cho công trình không thể vận hành như thiết kế (đóng cống nhiều hơn) và có thể tác động xấu đến phát triển thủy sản khu vực này. Khu vực hưởng lợi dự án giai đoạn 1 cũng không thể được xác định vì còn phải đầu tư rất nhiều công trình khác.

-Lâu nay tư vấn trong nước thường chỉ lấy các chỉ số để đánh giá hiệu quả của dự án, mà ngay việc này họ cũng làm không tốt, thường ôm hết các hiệu quả do các hoạt động khác và thường chỉ kể đến công trình mình làm.

Muốn đánh giá về kinh tế thì phải so sánh kết quả sản xuất kinh tế hiện nay và kết quả sau khi có xây cống Cái Lớn-Cái Bé. Ngoài ra, còn có những ảnh hưởng lợi hay hại ngoại vi về môi trường cũng cần nói đến và ở chừng mực nào đó có thể tính ra lợi hại kinh tế. Tôi không thấy những số liệu này trong báo cáo.

- Bài toán vận hành hơn 100 cống trong vùng dự án phải tính toán lại cho logic vì bài học kinh nghiệm chỉ có 2 cống Trà Sư & Tha La kiểm soát lũ tràn đầu vụ biên giới Việt Nam - Campuchia liên quan đến 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang nhiều khi trung ương đã phải vào cuộc chỉ đạo để “gỡ rối”.

- Về vấn đề  tác động môi trường trong báo cáo ĐTM cần phân tích rõ các phương án, kể cả việc thiết kế khẩu độ cống bằng kênh và chế độ đóng mở sao cho tác động ít nhất đến môi trường sinh thái.

Kết luận:

Tôi đồng ý và chia sẻ với quan điểm của GS Nguyễn Ngọc Trân là “Không phản đối, nếu cơ quan tư vấn và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chứng minh giải trình được việc xây dựng cống Cái Lớn - Cái Bé là cần thiết và đầu tư không hối tiếc”.

(*) Nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, chuyên gia độc lập

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC