Mobile

Để hạ tầng số phát triển
Thứ Năm,  15/11/2018, 08:36 
Nguyễn Hoàng

Để hạ tầng số phát triển

Nguyễn Hoàng

(TBVTSG) - Việt Nam đang từng bước phát triển chính phủ điện tử nhằm mang lại nhiều lợi ích cho người dân và doanh nghiệp. Để đạt được điều này, TS Trần Đình Thiên góp ý rằng một trong những chìa khóa cho sự thành công là cần những điều kiện thuận lợi cho hạ tầng số phát triển.

Trong thời gian gần đây, Việt Nam đã có những động thái nhằm tận dụng những cơ hội trong thời đại công nghệ số trong bối cảnh làn sóng cách mạng công nhiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đang diễn ra mạnh mẽ và tình hình thế giới đang thay đổi nhanh và khó đoán. Tại phiên khai mạc Diễn đàn Cấp cao Công nghệ thông tin - Truyền thông Việt Nam (Vietnam ICT Summit) 2018 với chủ đề “Hướng tới Chính phủ số và Kinh tế số” vào tháng 7-2018 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, để không bỏ lỡ cơ hội của cuộc cách mạng công nghệ này, trước hết Chính phủ phải chuyển đổi thành Chính phủ của thời đại 4.0, có đủ khả năng, đủ năng lực quản trị phát triển quốc gia trong thời đại số. Còn ở cuộc Hội nghị “Kinh tế 4.0: Từ tiến hóa đến cách mạng” diễn ra vào đầu tháng 11 này tại TPHCM, PGS.TS Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Chính phủ, cho rằng thế giới đang tiến vào nền kinh tế số nhưng nước ta vẫn tiến triển chậm.

Cuộc đua trở thành trung tâm công nghệ trong khu vực

Thế giới đang có sự đối trọng trong lĩnh vực công nghệ giữa phương Tây và Trung Quốc ở phương Đông. Phương Tây có bộ tứ quyền lực là Google, Facebook, Amazon, Apple, còn Trung Quốc có bốn đại công ty công nghệ là Alibaba, Baidu, Tencent và Xiaomi. Sự đối trọng này đã tồn tại trong thời gian dài, theo ông Đỗ Hoài Nam đến từ Công ty Emotiv System - một doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) tại thung lũng Silicon Valley (Mỹ) (sở hữu ứng dụng đọc não người).

Hiện nay, Facebook đang có hơn 1 tỉ người sử dụng trên thế giới. Tại Trung Quốc, chính phủ của quốc gia với dân số hơn 1,3 tỉ người này đã tạo ra một mạng Intenet riêng và những công ty công nghệ của nước này đã được hưởng lợi nhờ tình trạng “bế quan, tỏa cảng” Internet này nên phát triển rất mạnh. Alibaba đã không phải cạnh tranh trực tiếp với các công ty lớn khác trên thế giới như Amazon trong suốt thời gian phát triển của mình. Đây không chỉ là môi trường kinh doanh thuận lợi cho Alibaba và các công ty công nghệ khác của Trung Quốc, mà còn giúp tạo ra sự đối trọng giữa các công ty công nghệ Trung Quốc và phương Tây. Và khó có một quốc gia nào khác trên thế giới có thể tạo ra sự đối trọng tương tự như Trung Quốc, theo ông Nam.

“Tôi không cho rằng có một quốc gia khác, ngoài Trung Quốc, có thể làm được việc này”, ông Nam nói. Theo ông, mặc dù đã có những công ty khởi nghiệp phát triển nhanh và có giá trị lên đến tỉ đô la Mỹ nhưng Việt Nam với hơn 90 triệu dân không phải là một thị trường đủ lớn để các công ty nội địa phát triển mạnh và có thể cạnh tranh với các công ty công nghệ của Trung Quốc hay Mỹ vì các đối thủ có những thế mạnh riêng và tiềm lực tài chính rất lớn.

Công nghệ phát triển rất mạnh ở Trung Quốc trong giai đoạn nền kinh tế này tăng trưởng mạnh nhất. “Điều này không chỉ do quy mô dân số của Trung Quốc mà các công ty công nghệ trong nước hiểu rất rõ hành vi của người tiêu dùng, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh riêng”, bà Tina Ju, người sáng lập và điều hành Công ty KPCB China & TDF Capital, nói. Theo bà, tính đến năm 2018, các công ty Trung Quốc đang chiếm gần 50% trong nhóm 20 công ty công nghệ ảnh hưởng toàn cầu. Trung Quốc đang là nước có lượng người sử dụng Internet nhiều nhất thế giới cho dù Mỹ rất mạnh về công nghệ và Internet. Ngoài ra, số lượng người sử dụng điện thoại thông minh (smartphone) của Trung Quốc gấp ba lần Mỹ và số người dùng dịch vụ thanh toán di động gấp 11 lần nước Mỹ.

Các chuyên gia cho rằng cục diện cạnh tranh giữa các công ty công công nghệ của phương Tây và Trung Quốc ở phương Đông hiện đang tương đối cân bằng. Câu hỏi được đặt ra là thế giới, trong đó có Việt Nam, sẽ thay đổi như thế nào giữa hai đối trọng này?

Ông Nam cho rằng sẽ có những sự thay đổi và các trung tâm công nghệ ở trong khu vực sẽ được hình thành. Ông cho biết một cuộc “chạy đua ngầm” giữa các thành phố trong khu vực trong việc trở thành các trung tâm công nghệ đã diễn ra suốt năm năm qua. Nhưng sự đổi ngôi sẽ không diễn ra ngay và Thung lũng Silicon (Silicon Valley) vẫn sẽ là “thủ đô” của công nghệ trên thế giới bởi vì nơi đây các nền tảng đã được xây dựng trong nhiều thập kỷ, giúp thành lập các trung tâm công nghệ vệ tinh.

Tại Đông Nam Á, Singapore đang vượt lên dẫn đầu trong danh sách các trung tâm công nghệ trong khu vực nhờ chính phủ của đảo quốc này đã áp dụng những chính sách, cơ chế hỗ trợ mạnh mẽ trong lĩnh vực này. Chính phủ Singapore đã có một số chính sách cụ thể khuyến khích chuyển đổi nguồn nhân lực, từ nhân lực thông thường sang nhân lực công nghệ cao để đáp ứng nhu cầu mới trong thời đại công nghệ. Ông Nam cho rằng Singapore có thể trở thành một trung tâm công nghệ kết nối trực tiếp với Silicon Valley.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ

Trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới và nhiều công nghệ của thời đại này đã được nhiều doanh nghiệp, tổ chức, quốc gia ứng dụng với kỳ vọng sẽ tạo ra những sự đột phá trong nhiều lĩnh vực, trong đó có sản xuất, dịch vụ. Các chuyên gia đã chọn ra bảy công nghệ đang và sẽ thay đổi nền sản xuất thế giới. Đó là trí tuệ nhân tạo (AI), xe tự hành, dữ liệu lớn (big data) và điện toán đám mây, sản xuất theo đơn đặt hàng và in 3D, Internet kết nối vạn vật (Internet of Things – IoT), robot và mạng xã hội. Chúng ta ngày càng có nhiều công nghệ mới, công nghệ tốt hơn với giá thấp hơn và công nghệ đang kết nối rất nhiều thứ trên thế giới.

Theo Statista, đến năm 2025, sẽ có khoảng 75,44 tỉ thiết bị IoT trên thế giới được kết nối.

Trong các năm qua, công nghệ đã tạo ra nhiều sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực như sản xuất, phương thức bán hàng… trên thế giới. Hiện nay, Trung Quốc đang là trung tâm sản xuất điện thoại đứng đầu thế giới, nắm giữ 40% mức thị phần toàn cầu so với con số 0 cách đây 10 năm. Tuy nhiên, bà Tina Ju cho rằng sẽ có lúc Trung Quốc không còn là trung tâm sản xuất điện thoại nữa khi dân số già đi, nhu cầu việc làm thay đổi. Xu hướng này đang ngày một rõ rệt hơn bởi những tác động từ cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ, khiến nhiều nhà đầu tư dịch chuyển sản xuất ra ngoài Trung Quốc.

Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp đã thực hiện những kế hoạch, chiến lược nhằm đón đầu những cơ hội trong kỷ nguyên số và thu hút thêm nhiều khách hàng. Tháng 6 vừa qua, Công ty gốm sứ Minh Long đã bắt tay với sàn thương mại điện tử Tiki.vn để bán bộ sưu tập nồi sứ dưỡng sinh. Một số doanh nghiệp khác của Việt Nam đã bắt đầu đổ tiền vào AI để tăng khả năng cạnh tranh chẳng hạn như Công ty Thủy sản Minh Phú đã phối hợp cùng Microsoft ứng dụng AI vào việc xây dựng nhà máy thông minh. Một loạt các ngân hàng, trong đó có Sacombank, đã sử dụng công nghệ nhận diện khuôn mặt của các khách hàng VIP, hay Vietcombank sử dụng trợ lý ảo (chatbot) hỗ trợ khách hàng thực hiện các dịch vụ nạp tiền điện thoại, chuyển khoản điện thoại…

Các chuyên gia cho rằng sự đột phá về công nghệ sẽ làm thay đổi các mô hình kinh doanh. Hạt nhân của CMCN 4.0 là sự chuyển đổi số dựa trên những đột phá về công nghệ thông tin, thuật toán và sự tích hợp với các công nghệ khác để tạo ra tiền cho doanh nghiệp. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, thông qua chuyển đổi số, các doanh nghiệp và tổ chức sẽ đạt được năm lợi ích lớn. Đó là tăng tỷ suất lợi nhuận, tăng năng suất, giảm chi phí, tăng doanh thu từ các sản phẩm, dịch vụ mới và tăng doanh thu từ các sản phẩm, dịch vụ cũ cũng như tăng sự trung thành khách hàng.

Vẫn còn nhiều việc phải làm

Việt Nam đang có những bước tiến tới nền kinh tế số, thay đổi mô hình đầu tư kinh doanh nhằm tạo ra sự thuận lợi nhất cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư, bởi vì những tiếp cận đầu tiên với số hóa vào những năm 1970-1980 đến nay đã lạc hậu và nhiều doanh nghiệp vẫn đứng ngoài làn sóng CMCN 4.0. Một cuộc khảo sát của Bộ Công Thương về mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của các doanh nghiệp công nghiệp gần đây cho thấy có tới 61% số doanh nghiệp đứng ngoài cuộc, 21% số doanh nghiệp có sự chuẩn bị ban đầu và chỉ 18% số doanh nghiệp đã sẵn sàng.

Theo bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới về “Internet vạn vật: Nền tảng mới cho quan hệ chính phủ, doanh nghiệp” công bố vào tháng 3-2018, việc sử dụng Inenernet kết nối vạn vật nhằm phục vụ công dân tốt hơn của chính phủ các nước đang vấp phải một số điều cản trở, khi có rất ít sáng kiến vượt qua khỏi giai đoạn thí điểm.

Ngoài ra, các mô hình kinh doanh chưa phát triển đủ mức để duy trì hạ tầng IoT lâu dài. Theo bản báo cáo này, không thể triển khai chính phủ điện tử nếu thiếu dữ liệu. Tuy nhiên, không phải hiện nay chính phủ nào cũng tạo ra được dữ liệu và quản lý dữ liệu, cũng như có một hành lang chính sách để tái sử dụng và thương mại hóa hệ thống dữ liệu đó. Hơn nữa, việc triển khai các mô hình chính phủ số mất nhiều thời gian do bị phụ thuộc vào chính sách của mỗi một quốc gia. Việt Nam là một trong số các quốc gia bị đánh giá còn “nhiều thủ tục quan liêu” làm mất nhiều thời gian và chi phí. Việc sử dụng IoT đòi hỏi chính phủ, khu vực kinh tế tư nhân… phải tiến hành cải cách một cách có hệ thống, dựa trên thông tin đầy đủ. 

Theo kết quả đánh giá của Liên Hợp Quốc, Việt Nam xếp hạng 88/193 quốc gia, vùng lãnh thổ về chính phủ điện tử và đứng thứ 6 trong khu vực ASEAN, sau Singapore, Malaysia, Brunei, Thái Lan và Philippines. Một thứ hạng thấp như vậy được kỳ vọng là sẽ thúc đẩy nhanh kế hoạch xây dựng chính phủ điện tử tại Việt Nam. Thế nhưng, số liệu của Hiệp hội Thương mại điện tử cho thấy, năm 2017, tỷ lệ doanh nghiệp thường xuyên tra cứu các thông tin trên các trang web cơ quan nhà nước là 30%. Nhìn chung, tỷ lệ doanh nghiệp truy cập và thu thập thông tin từ các trang web của cơ quan nhà nước trong vài năm trở lại đây không có sự thay đổi lớn, đặc biệt là những doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ (SME). Vẫn còn 8% số doanh nghiệp chưa bao giờ tra cứu thông tin trên các trang web của cơ quan nhà nước. Nhóm doanh nghiệp lớn có mức quan tâm tới thông tin trên các website của cơ quan nhà nước cao hơn nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với 46% doanh nghiệp lớn thường xuyên tra cứu thông tin thì tỷ lệ này ở doanh nghiệp SME là 28%.

Theo ông Thiên, cấu trúc thể chế kinh tế của Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề ngay cả khi nền kinh tế đang tốt lên. Sau gần 10 năm thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, đến nay mô hình tăng trưởng mới của nước ta vẫn chưa thật sự rõ ràng, khu vực nhà nước vẫn tăng trưởng ì ạch, đầu tư phân bổ nguồn lực còn nhiều vấn đề. Đặc biệt, sự cải cách nhà nước theo mục tiêu “nhà nước kiến tạo” hay một “Chính phủ hành động vì doanh nghiệp” đều chưa mang lại kết quả cao.

Cải cách môi trường kinh doanh là một động thái tốt nhưng tiến triển vẫn chậm hơn so với sự kỳ vọng. Mục tiêu cắt giảm 50% số thủ tục hành chính cho doanh nghiệp sau hai năm chỉ đạt khoảng 20%. Trong năm 2018, Việt Nam đã bị tụt hạng ở những cuộc đánh giá mới nhất về năng lực cạnh tranh quốc gia, môi trường kinh doanh và chỉ số đổi mới sáng tạo quốc gia. Cụ thể, Việt Nam xếp thứ 77/140 trong bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu năm 2018, so với vị trí 74/135 trong bảng xếp hạng năm 2017. Ông Thiên nói: “Chính sự tụt hạng này cho thấy, Việt Nam đã cải cách nhưng thế giới cải cách còn nhanh và mạnh hơn”.

Trong bối cảnh cục diện thế giới đang thay đổi, Việt Nam vẫn còn rất nhiều việc phải làm để phát triển một nền kinh tế số, chính phủ số. Theo  ông Thiên, Việt Nam cần một cách tiếp cận mới để tiến nhanh hơn, rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực. “Điều cốt lõi là Việt Nam phải mạnh lên bằng một cuộc cải cách thể chế. Chính phủ số phải là nơi tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hạ tầng số phát triển”, ông nhấn mạnh.

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Để hạ tầng số phát triển

Nguyễn Hoàng
Thứ Năm,  15/11/2018, 08:36 

Để hạ tầng số phát triển

Nguyễn Hoàng

(TBVTSG) - Việt Nam đang từng bước phát triển chính phủ điện tử nhằm mang lại nhiều lợi ích cho người dân và doanh nghiệp. Để đạt được điều này, TS Trần Đình Thiên góp ý rằng một trong những chìa khóa cho sự thành công là cần những điều kiện thuận lợi cho hạ tầng số phát triển.

Trong thời gian gần đây, Việt Nam đã có những động thái nhằm tận dụng những cơ hội trong thời đại công nghệ số trong bối cảnh làn sóng cách mạng công nhiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đang diễn ra mạnh mẽ và tình hình thế giới đang thay đổi nhanh và khó đoán. Tại phiên khai mạc Diễn đàn Cấp cao Công nghệ thông tin - Truyền thông Việt Nam (Vietnam ICT Summit) 2018 với chủ đề “Hướng tới Chính phủ số và Kinh tế số” vào tháng 7-2018 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, để không bỏ lỡ cơ hội của cuộc cách mạng công nghệ này, trước hết Chính phủ phải chuyển đổi thành Chính phủ của thời đại 4.0, có đủ khả năng, đủ năng lực quản trị phát triển quốc gia trong thời đại số. Còn ở cuộc Hội nghị “Kinh tế 4.0: Từ tiến hóa đến cách mạng” diễn ra vào đầu tháng 11 này tại TPHCM, PGS.TS Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Chính phủ, cho rằng thế giới đang tiến vào nền kinh tế số nhưng nước ta vẫn tiến triển chậm.

Cuộc đua trở thành trung tâm công nghệ trong khu vực

Thế giới đang có sự đối trọng trong lĩnh vực công nghệ giữa phương Tây và Trung Quốc ở phương Đông. Phương Tây có bộ tứ quyền lực là Google, Facebook, Amazon, Apple, còn Trung Quốc có bốn đại công ty công nghệ là Alibaba, Baidu, Tencent và Xiaomi. Sự đối trọng này đã tồn tại trong thời gian dài, theo ông Đỗ Hoài Nam đến từ Công ty Emotiv System - một doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) tại thung lũng Silicon Valley (Mỹ) (sở hữu ứng dụng đọc não người).

Hiện nay, Facebook đang có hơn 1 tỉ người sử dụng trên thế giới. Tại Trung Quốc, chính phủ của quốc gia với dân số hơn 1,3 tỉ người này đã tạo ra một mạng Intenet riêng và những công ty công nghệ của nước này đã được hưởng lợi nhờ tình trạng “bế quan, tỏa cảng” Internet này nên phát triển rất mạnh. Alibaba đã không phải cạnh tranh trực tiếp với các công ty lớn khác trên thế giới như Amazon trong suốt thời gian phát triển của mình. Đây không chỉ là môi trường kinh doanh thuận lợi cho Alibaba và các công ty công nghệ khác của Trung Quốc, mà còn giúp tạo ra sự đối trọng giữa các công ty công nghệ Trung Quốc và phương Tây. Và khó có một quốc gia nào khác trên thế giới có thể tạo ra sự đối trọng tương tự như Trung Quốc, theo ông Nam.

“Tôi không cho rằng có một quốc gia khác, ngoài Trung Quốc, có thể làm được việc này”, ông Nam nói. Theo ông, mặc dù đã có những công ty khởi nghiệp phát triển nhanh và có giá trị lên đến tỉ đô la Mỹ nhưng Việt Nam với hơn 90 triệu dân không phải là một thị trường đủ lớn để các công ty nội địa phát triển mạnh và có thể cạnh tranh với các công ty công nghệ của Trung Quốc hay Mỹ vì các đối thủ có những thế mạnh riêng và tiềm lực tài chính rất lớn.

Công nghệ phát triển rất mạnh ở Trung Quốc trong giai đoạn nền kinh tế này tăng trưởng mạnh nhất. “Điều này không chỉ do quy mô dân số của Trung Quốc mà các công ty công nghệ trong nước hiểu rất rõ hành vi của người tiêu dùng, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh riêng”, bà Tina Ju, người sáng lập và điều hành Công ty KPCB China & TDF Capital, nói. Theo bà, tính đến năm 2018, các công ty Trung Quốc đang chiếm gần 50% trong nhóm 20 công ty công nghệ ảnh hưởng toàn cầu. Trung Quốc đang là nước có lượng người sử dụng Internet nhiều nhất thế giới cho dù Mỹ rất mạnh về công nghệ và Internet. Ngoài ra, số lượng người sử dụng điện thoại thông minh (smartphone) của Trung Quốc gấp ba lần Mỹ và số người dùng dịch vụ thanh toán di động gấp 11 lần nước Mỹ.

Các chuyên gia cho rằng cục diện cạnh tranh giữa các công ty công công nghệ của phương Tây và Trung Quốc ở phương Đông hiện đang tương đối cân bằng. Câu hỏi được đặt ra là thế giới, trong đó có Việt Nam, sẽ thay đổi như thế nào giữa hai đối trọng này?

Ông Nam cho rằng sẽ có những sự thay đổi và các trung tâm công nghệ ở trong khu vực sẽ được hình thành. Ông cho biết một cuộc “chạy đua ngầm” giữa các thành phố trong khu vực trong việc trở thành các trung tâm công nghệ đã diễn ra suốt năm năm qua. Nhưng sự đổi ngôi sẽ không diễn ra ngay và Thung lũng Silicon (Silicon Valley) vẫn sẽ là “thủ đô” của công nghệ trên thế giới bởi vì nơi đây các nền tảng đã được xây dựng trong nhiều thập kỷ, giúp thành lập các trung tâm công nghệ vệ tinh.

Tại Đông Nam Á, Singapore đang vượt lên dẫn đầu trong danh sách các trung tâm công nghệ trong khu vực nhờ chính phủ của đảo quốc này đã áp dụng những chính sách, cơ chế hỗ trợ mạnh mẽ trong lĩnh vực này. Chính phủ Singapore đã có một số chính sách cụ thể khuyến khích chuyển đổi nguồn nhân lực, từ nhân lực thông thường sang nhân lực công nghệ cao để đáp ứng nhu cầu mới trong thời đại công nghệ. Ông Nam cho rằng Singapore có thể trở thành một trung tâm công nghệ kết nối trực tiếp với Silicon Valley.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ

Trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới và nhiều công nghệ của thời đại này đã được nhiều doanh nghiệp, tổ chức, quốc gia ứng dụng với kỳ vọng sẽ tạo ra những sự đột phá trong nhiều lĩnh vực, trong đó có sản xuất, dịch vụ. Các chuyên gia đã chọn ra bảy công nghệ đang và sẽ thay đổi nền sản xuất thế giới. Đó là trí tuệ nhân tạo (AI), xe tự hành, dữ liệu lớn (big data) và điện toán đám mây, sản xuất theo đơn đặt hàng và in 3D, Internet kết nối vạn vật (Internet of Things – IoT), robot và mạng xã hội. Chúng ta ngày càng có nhiều công nghệ mới, công nghệ tốt hơn với giá thấp hơn và công nghệ đang kết nối rất nhiều thứ trên thế giới.

Theo Statista, đến năm 2025, sẽ có khoảng 75,44 tỉ thiết bị IoT trên thế giới được kết nối.

Trong các năm qua, công nghệ đã tạo ra nhiều sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực như sản xuất, phương thức bán hàng… trên thế giới. Hiện nay, Trung Quốc đang là trung tâm sản xuất điện thoại đứng đầu thế giới, nắm giữ 40% mức thị phần toàn cầu so với con số 0 cách đây 10 năm. Tuy nhiên, bà Tina Ju cho rằng sẽ có lúc Trung Quốc không còn là trung tâm sản xuất điện thoại nữa khi dân số già đi, nhu cầu việc làm thay đổi. Xu hướng này đang ngày một rõ rệt hơn bởi những tác động từ cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ, khiến nhiều nhà đầu tư dịch chuyển sản xuất ra ngoài Trung Quốc.

Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp đã thực hiện những kế hoạch, chiến lược nhằm đón đầu những cơ hội trong kỷ nguyên số và thu hút thêm nhiều khách hàng. Tháng 6 vừa qua, Công ty gốm sứ Minh Long đã bắt tay với sàn thương mại điện tử Tiki.vn để bán bộ sưu tập nồi sứ dưỡng sinh. Một số doanh nghiệp khác của Việt Nam đã bắt đầu đổ tiền vào AI để tăng khả năng cạnh tranh chẳng hạn như Công ty Thủy sản Minh Phú đã phối hợp cùng Microsoft ứng dụng AI vào việc xây dựng nhà máy thông minh. Một loạt các ngân hàng, trong đó có Sacombank, đã sử dụng công nghệ nhận diện khuôn mặt của các khách hàng VIP, hay Vietcombank sử dụng trợ lý ảo (chatbot) hỗ trợ khách hàng thực hiện các dịch vụ nạp tiền điện thoại, chuyển khoản điện thoại…

Các chuyên gia cho rằng sự đột phá về công nghệ sẽ làm thay đổi các mô hình kinh doanh. Hạt nhân của CMCN 4.0 là sự chuyển đổi số dựa trên những đột phá về công nghệ thông tin, thuật toán và sự tích hợp với các công nghệ khác để tạo ra tiền cho doanh nghiệp. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, thông qua chuyển đổi số, các doanh nghiệp và tổ chức sẽ đạt được năm lợi ích lớn. Đó là tăng tỷ suất lợi nhuận, tăng năng suất, giảm chi phí, tăng doanh thu từ các sản phẩm, dịch vụ mới và tăng doanh thu từ các sản phẩm, dịch vụ cũ cũng như tăng sự trung thành khách hàng.

Vẫn còn nhiều việc phải làm

Việt Nam đang có những bước tiến tới nền kinh tế số, thay đổi mô hình đầu tư kinh doanh nhằm tạo ra sự thuận lợi nhất cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư, bởi vì những tiếp cận đầu tiên với số hóa vào những năm 1970-1980 đến nay đã lạc hậu và nhiều doanh nghiệp vẫn đứng ngoài làn sóng CMCN 4.0. Một cuộc khảo sát của Bộ Công Thương về mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của các doanh nghiệp công nghiệp gần đây cho thấy có tới 61% số doanh nghiệp đứng ngoài cuộc, 21% số doanh nghiệp có sự chuẩn bị ban đầu và chỉ 18% số doanh nghiệp đã sẵn sàng.

Theo bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới về “Internet vạn vật: Nền tảng mới cho quan hệ chính phủ, doanh nghiệp” công bố vào tháng 3-2018, việc sử dụng Inenernet kết nối vạn vật nhằm phục vụ công dân tốt hơn của chính phủ các nước đang vấp phải một số điều cản trở, khi có rất ít sáng kiến vượt qua khỏi giai đoạn thí điểm.

Ngoài ra, các mô hình kinh doanh chưa phát triển đủ mức để duy trì hạ tầng IoT lâu dài. Theo bản báo cáo này, không thể triển khai chính phủ điện tử nếu thiếu dữ liệu. Tuy nhiên, không phải hiện nay chính phủ nào cũng tạo ra được dữ liệu và quản lý dữ liệu, cũng như có một hành lang chính sách để tái sử dụng và thương mại hóa hệ thống dữ liệu đó. Hơn nữa, việc triển khai các mô hình chính phủ số mất nhiều thời gian do bị phụ thuộc vào chính sách của mỗi một quốc gia. Việt Nam là một trong số các quốc gia bị đánh giá còn “nhiều thủ tục quan liêu” làm mất nhiều thời gian và chi phí. Việc sử dụng IoT đòi hỏi chính phủ, khu vực kinh tế tư nhân… phải tiến hành cải cách một cách có hệ thống, dựa trên thông tin đầy đủ. 

Theo kết quả đánh giá của Liên Hợp Quốc, Việt Nam xếp hạng 88/193 quốc gia, vùng lãnh thổ về chính phủ điện tử và đứng thứ 6 trong khu vực ASEAN, sau Singapore, Malaysia, Brunei, Thái Lan và Philippines. Một thứ hạng thấp như vậy được kỳ vọng là sẽ thúc đẩy nhanh kế hoạch xây dựng chính phủ điện tử tại Việt Nam. Thế nhưng, số liệu của Hiệp hội Thương mại điện tử cho thấy, năm 2017, tỷ lệ doanh nghiệp thường xuyên tra cứu các thông tin trên các trang web cơ quan nhà nước là 30%. Nhìn chung, tỷ lệ doanh nghiệp truy cập và thu thập thông tin từ các trang web của cơ quan nhà nước trong vài năm trở lại đây không có sự thay đổi lớn, đặc biệt là những doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ (SME). Vẫn còn 8% số doanh nghiệp chưa bao giờ tra cứu thông tin trên các trang web của cơ quan nhà nước. Nhóm doanh nghiệp lớn có mức quan tâm tới thông tin trên các website của cơ quan nhà nước cao hơn nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với 46% doanh nghiệp lớn thường xuyên tra cứu thông tin thì tỷ lệ này ở doanh nghiệp SME là 28%.

Theo ông Thiên, cấu trúc thể chế kinh tế của Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề ngay cả khi nền kinh tế đang tốt lên. Sau gần 10 năm thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, đến nay mô hình tăng trưởng mới của nước ta vẫn chưa thật sự rõ ràng, khu vực nhà nước vẫn tăng trưởng ì ạch, đầu tư phân bổ nguồn lực còn nhiều vấn đề. Đặc biệt, sự cải cách nhà nước theo mục tiêu “nhà nước kiến tạo” hay một “Chính phủ hành động vì doanh nghiệp” đều chưa mang lại kết quả cao.

Cải cách môi trường kinh doanh là một động thái tốt nhưng tiến triển vẫn chậm hơn so với sự kỳ vọng. Mục tiêu cắt giảm 50% số thủ tục hành chính cho doanh nghiệp sau hai năm chỉ đạt khoảng 20%. Trong năm 2018, Việt Nam đã bị tụt hạng ở những cuộc đánh giá mới nhất về năng lực cạnh tranh quốc gia, môi trường kinh doanh và chỉ số đổi mới sáng tạo quốc gia. Cụ thể, Việt Nam xếp thứ 77/140 trong bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu năm 2018, so với vị trí 74/135 trong bảng xếp hạng năm 2017. Ông Thiên nói: “Chính sự tụt hạng này cho thấy, Việt Nam đã cải cách nhưng thế giới cải cách còn nhanh và mạnh hơn”.

Trong bối cảnh cục diện thế giới đang thay đổi, Việt Nam vẫn còn rất nhiều việc phải làm để phát triển một nền kinh tế số, chính phủ số. Theo  ông Thiên, Việt Nam cần một cách tiếp cận mới để tiến nhanh hơn, rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực. “Điều cốt lõi là Việt Nam phải mạnh lên bằng một cuộc cải cách thể chế. Chính phủ số phải là nơi tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hạ tầng số phát triển”, ông nhấn mạnh.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.