Mobile

Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao vùng ĐBSCL: Nút cổ chai và bình thông nhau
Thứ Hai,  24/12/2018, 16:19 
Trần Hữu Hiệp

Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao vùng ĐBSCL: Nút cổ chai và bình thông nhau

Trần Hữu Hiệp

(TBKTSG) - Công nghệ cao (CNC) là xu thế phát triển nông nghiệp trên thế giới, tạo đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, mang lại lợi ích kinh tế vượt trội, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp. Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17-11-2017 của Chính phủ về về “Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu” cũng đặt ra mục tiêu đến năm 2050 “tỷ trọng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp ứng dụng CNC chiếm trên 80%”.

Tuy nhiên, từ góc nhìn ĐBSCL, việc ứng dụng nông nghiệp CNC đang bị “điểm nghẽn cổ chai” cần chính sách giải pháp tháo gỡ để dòng chảy công nghệ được thông suốt, thúc đẩy đầu tư, kết nối ứng dụng và thị trường.

Trồng rau theo mô hình nông nghiệp ông ngêệ cao. Ảnh: Thành Hoa

ĐBSCL trong bản đồ nông nghiệp công nghệ cao quốc gia

Nhà nước hiện đã có nhiều chủ trương, chính sách và quy định pháp luật về phát triển CNC, Luật Công nghệ cao năm 2008, các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành, khuyến khích đầu tư, hỗ trợ tín dụng, đất đai, thuế, hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng nông nghiệp CNC. Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC, quy hoạch tổng thể khu và vùng nông nghiệp ứng dụng CNC, quy định tiêu chí, thẩm quyền, trình tự thủ tục công nhận vùng, tiêu chí xác định chương trình, dự án nông nghiệp ứng dụng CNC, nông nghiệp sạch và chương trình cho vay. Gói tín dụng 100.000 tỉ đồng của các ngân hàng thương mại cũng được Chính phủ định hướng chính sách ưu tiên cho ứng dụng nông nghiệp CNC.

ĐBSCL chiếm vị trí quan trọng trong trong bản đồ nông nghiệp CNC quốc gia. Theo Quyết định số 575/QĐ-TTg ngày 04-5-2015 của Thủ tướng Chính phủ đến năm 2020, vùng này được quy hoạch có 2/10 khu nông nghiệp ứng dụng CNC của cả nước. Đó là khu nông nghiệp ứng dụng CNC Hậu Giang và khu nông nghiệp ứng dụng CNC Cần Thơ. ĐBSCL đã có 2/3 khu nông nghiệp ứng dụng CNC là khu nông nghiệp ứng dụng CNC Hậu Giang và khu nông nghiệp ứng dụng CNC phát triển tôm Bạc Liêu .

Nhiều tổ chức, viện, trường đã tiến hành các hoạt động đổi mới sáng tạo, nghiên cứu ứng dụng công nghệ. Nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong ngành lúa gạo, thủy sản đã tiếp nhận, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản hàng hóa trên nền tảng công nghệ tiên tiến, đạt kết quả bước đầu quan trọng. Nhưng hiện đang gặp phải các điểm nghẽn, ví như “nút thắt cổ chai”, và cần hơn nữa các cơ chế, chính sách và quy định pháp lý rõ ràng, dễ thực thi.

Nhận diện “nút cổ chai”

Nông nghiệp công nghệ cao cần chính sách, giải pháp tháo gỡ để dòng chảy công nghệ được thông suốt. Ảnh: Minh Duy

Việc ứng dụng nông nghiệp CNC ở vùng ĐBSCL đang gặp phải 4 điểm nghẽn cần được nhận diện để khơi thông việc ứng dụng công nghệ, kết nối với thị trường.

Thứ nhất, nhận thức về nông nghiệp CNC còn nhiều bất cập, thị trường khoa học công nghệ còn sơ khai.
Các khái niệm về nông nghiệp CNC, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp chất lượng cao, nông nghiệp sạch... được đề cập nhiều, nhưng nội hàm, nhận thức về nó còn nhiều bất cập, kể cả chưa được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Vì vậy, nhận thức về các vấn đề này, hoặc là đơn giản, đánh đồng, làm theo phong trào, hầu như địa phương nào cũng quy hoạch để có khu, vùng nông nghiệp CNC, nhưng thực chất không được đầu tư bài bản, đúng yêu cầu; hoặc là quá đề cao mà thiếu các giải pháp khả thi, lộ trình cụ thể để thực hiện.

Nếu tái cơ cấu trong nông nghiệp là cuộc chuyển đổi lớn trong nông nghiệp, thì phát triển nông nghiệp CNC cần được xem là một phương thức để thực hiện hiệu quả cuộc chuyển đổi đó. Phát triển và ứng dụng nông nghiệp CNC chịu sự tác động, chi phối mạnh mẽ của thị trường khoa học và công nghệ. Nhưng thị trường này vẫn còn nhiều hạn chế, ở trình độ thấp, các yếu tố cấu thành thị trường chưa phát triển đồng bộ. Năng lực của nhiều chủ thể chưa đáp ứng được các yêu cầu. Quyền sở hữu trí tuệ, phát sinh, sáng chế chưa được bảo vệ và phát huy tốt. Giá trị và lượng hàng hóa KH&CN được giao dịch ở nước ta hiện nay chưa nhiều.

Thứ hai, quy hoạch không gian và yêu cầu tích hợp trong quy hoạch phát triển các khu, vùng nông nghiệp ứng dụng CNC ở ĐBSCL còn nhiều tồn tại, hạn chế:

Quy hoạch khu, vùng nông nghiệp CNC chịu sự tác động của chất lượng các quy hoạch vùng, ngành, địa phương chồng chéo. Trong khi hiện nay, ĐBSCL chịu sự “chia cắt” bởi 2.500 bản quy hoạch với nhiều bất cập. Nhiều quy hoạch còn mang tính chủ quan, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Hầu hết các quy hoạch chỉ chú trọng giải quyết vấn đề riêng lẻ, cục bộ của ngành, địa phương, chưa tích hợp, bố trí không gian phát triển chưa phù hợp, thiếu nguồn lực khả thi thực hiện, kể cả nguồn lực đầu tư công lẫn huy động ngoài ngân sách từ các thành phần kinh tế.

Thứ ba, chưa có một không gian đủ lớn, hoặc tiềm lực đầu tư lớn cho phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC
Đất đai manh mún, sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp từ khâu giống, dịch vụ đầu vào, sản xuất, thu hoạch, chế biến, tiêu thụ nông sản, sẽ cản trở việc ứng dụng CNC vào nông nghiệp. Cây trồng, vật nuôi trong các nhà kính hiện đại hay các dịch vụ nông nghiệp kỹ thuật, CNC đòi hỏi mức đầu tư cao, trong khi nguồn lực đầu tư của Nhà nước, doanh nghiệp, nông dân còn hạn chế. Vướng mắc việc cấp chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất nông nghiệp, trong đó có những loại tài sản được hình thành từ các dự án đầu tư ứng dụng nông nghiệp CNC như nhà kính, nhà lưới, trang thiết bị, hệ thống tưới, kiểm soát chất lượng sản phẩm hiện đại, mặc dù được đầu tư giá trị cao, nhưng chưa được chứng nhận quyền sở hữu để đảm bảo vay vốn đầu tư. Xét cả hai yêu cầu: không gian đủ lớn và tiềm lực đầu tư lớn cho nông nghiệp CNC vùng ĐBSCL vẫn còn rất hạn chế.

Thứ tư, thị trường, hệ thống tiêu thụ chưa đủ mạnh; tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia cho nông sản CNC chưa rõ ràng.

Sản phẩm nông nhiệp ứng dụng CNC bị đánh đồng với các loại sản xuất theo phương thức, quy trình không đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, tác động tiêu cực trở lại việc đầu tư phát triển. Hệ thống pháp lý chưa đảm bảo chế tài đủ mạnh bảo vệ nhà đầu tư, nhà sản xuất, ràng buộc trách nhiệm nhà thương mại về truy xuất nguồn gốc nông sản. Thực trạng này tác động tiêu cực trở lại, ảnh hưởng xấu đến việc đầu tư phát triển nông nghiệp CNC.

“Nguyên lý bình thông” nhau cho ứng dụng nông nghiệp CNC

Tiêu thụ nông sản hàng hóa trên nền tảng công nghệ tiên tiến, đạt kết quả bước đầu quan trọng. Ảnh: Minh Duy

Chọn lựa công nghệ phù hợp cho nền nông nghiệp “đi tắt, đón đầu” để không bị lạc hậu là quan trọng. Nhưng việc ứng dụng nông nghiệp CNC không chỉ là vấn đề kỹ thuật công nghệ thuần túy. Nó được ví như “những chiếc bình thông nhau” kết nối thông suốt giữa công nghệ cao với nhận thức, thể chế, quy hoạch và thị trường. Ngành nông nghiệp cần vượt qua dấu chân lấm bùn của kinh tế tự nhiên, kinh nghiệm truyền thống để bước sang kinh tế tri thức, tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp sáng tạo toàn cầu. Để tái cơ cấu và phát triển bền vững, chủ động hội nhập, cạnh tranh, thích ứng biến đổi khí hậu, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng nông nghiệp CNC hiệu quả và bền vững, xin đề xuất một số định hướng, giải pháp:

Một là, hoàn thiện văn bản pháp luật, chính sách. Nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật tháo gỡ các điểm nghẽn như đã phân tích ở trên, đặc biệt là các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến nông nghiệp CNC, đất đai, khuyến khích, ưu đãi đầu tư, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo trong nông nghiệp, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chính sách huy động các nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp CNC và chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp.

Hai là, quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp theo vùng, theo quy mô liên kết vùng trên cơ sở gắn với cung - cần thị trường. Bên cạnh đó, các địa phương cần tạo môi trường thuận lợi để thiết lập và tăng cường các mối liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với người dân, giữa người dân với người dân, nhằm tổ chức, hình thành mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm chặt chẽ hơn. Quy hoạch phát triển và ứng dụng công nghệ cao vùng ĐBSCL đặt trong yêu cầu đó, đảm bảo không gian hợp lý vượt ra ngoài ranh giới, rào cản hành chính, mang tính liên kết vùng. Tránh tình trạng địa phương nào cũng có khu nông nghiệp CNC, trong khi nguồn lực đầu tư hạn hẹp, đầu tư dàn trải. 

Ba là, ưu tiên ứng dụng CNC trong việc cải tạo giống cây trồng, vật nuôi, tạo và nhân nhanh các giống có năng suất, chất lượng và giá trị cao. Tăng cường năng lực hợp tác nghiên cứu khoa học giữa các địa phương trong vùng, giữa vùng ĐBSCL với các vùng miền khác trong cả nước. Đưa nhanh các công nghệ mới vào tất cả các khâu: sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm.

Bốn là, xây dựng và thí điểm các khu nông nghiệp CNC dựa vào những tiến bộ khoa học - công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, các mô hình liên kết, quản lý theo tiêu chí hiện đại dựa vào tri thức mới. Ưu tiên đầu tư cho các khu đã được quy hoạch và quyết định thành lập.

Năm là, phát triển thị trường và nguồn nhân lực.Yếu tố quan trọng nhất để phát triển nông nghiệp CNC là thị trường, bao gồm thị trường trong nước và xuất khẩu, thị trường nông sản và thị trường khoa học và công nghệ. Có cơ chế, chính sách khuyến khích và tăng cường đầu tư cho các cơ sở khoa học, viện, trường có tiềm lực đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu, ứng dụng nông nghiệp CNC, chú trọng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp và nông dân.

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao vùng ĐBSCL: Nút cổ chai và bình thông nhau

Trần Hữu Hiệp
Thứ Hai,  24/12/2018, 16:19 

Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao vùng ĐBSCL: Nút cổ chai và bình thông nhau

Trần Hữu Hiệp

(TBKTSG) - Công nghệ cao (CNC) là xu thế phát triển nông nghiệp trên thế giới, tạo đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, mang lại lợi ích kinh tế vượt trội, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp. Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17-11-2017 của Chính phủ về về “Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu” cũng đặt ra mục tiêu đến năm 2050 “tỷ trọng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp ứng dụng CNC chiếm trên 80%”.

Tuy nhiên, từ góc nhìn ĐBSCL, việc ứng dụng nông nghiệp CNC đang bị “điểm nghẽn cổ chai” cần chính sách giải pháp tháo gỡ để dòng chảy công nghệ được thông suốt, thúc đẩy đầu tư, kết nối ứng dụng và thị trường.

Trồng rau theo mô hình nông nghiệp ông ngêệ cao. Ảnh: Thành Hoa

ĐBSCL trong bản đồ nông nghiệp công nghệ cao quốc gia

Nhà nước hiện đã có nhiều chủ trương, chính sách và quy định pháp luật về phát triển CNC, Luật Công nghệ cao năm 2008, các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành, khuyến khích đầu tư, hỗ trợ tín dụng, đất đai, thuế, hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng nông nghiệp CNC. Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC, quy hoạch tổng thể khu và vùng nông nghiệp ứng dụng CNC, quy định tiêu chí, thẩm quyền, trình tự thủ tục công nhận vùng, tiêu chí xác định chương trình, dự án nông nghiệp ứng dụng CNC, nông nghiệp sạch và chương trình cho vay. Gói tín dụng 100.000 tỉ đồng của các ngân hàng thương mại cũng được Chính phủ định hướng chính sách ưu tiên cho ứng dụng nông nghiệp CNC.

ĐBSCL chiếm vị trí quan trọng trong trong bản đồ nông nghiệp CNC quốc gia. Theo Quyết định số 575/QĐ-TTg ngày 04-5-2015 của Thủ tướng Chính phủ đến năm 2020, vùng này được quy hoạch có 2/10 khu nông nghiệp ứng dụng CNC của cả nước. Đó là khu nông nghiệp ứng dụng CNC Hậu Giang và khu nông nghiệp ứng dụng CNC Cần Thơ. ĐBSCL đã có 2/3 khu nông nghiệp ứng dụng CNC là khu nông nghiệp ứng dụng CNC Hậu Giang và khu nông nghiệp ứng dụng CNC phát triển tôm Bạc Liêu .

Nhiều tổ chức, viện, trường đã tiến hành các hoạt động đổi mới sáng tạo, nghiên cứu ứng dụng công nghệ. Nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong ngành lúa gạo, thủy sản đã tiếp nhận, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản hàng hóa trên nền tảng công nghệ tiên tiến, đạt kết quả bước đầu quan trọng. Nhưng hiện đang gặp phải các điểm nghẽn, ví như “nút thắt cổ chai”, và cần hơn nữa các cơ chế, chính sách và quy định pháp lý rõ ràng, dễ thực thi.

Nhận diện “nút cổ chai”

Nông nghiệp công nghệ cao cần chính sách, giải pháp tháo gỡ để dòng chảy công nghệ được thông suốt. Ảnh: Minh Duy

Việc ứng dụng nông nghiệp CNC ở vùng ĐBSCL đang gặp phải 4 điểm nghẽn cần được nhận diện để khơi thông việc ứng dụng công nghệ, kết nối với thị trường.

Thứ nhất, nhận thức về nông nghiệp CNC còn nhiều bất cập, thị trường khoa học công nghệ còn sơ khai.
Các khái niệm về nông nghiệp CNC, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp chất lượng cao, nông nghiệp sạch... được đề cập nhiều, nhưng nội hàm, nhận thức về nó còn nhiều bất cập, kể cả chưa được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Vì vậy, nhận thức về các vấn đề này, hoặc là đơn giản, đánh đồng, làm theo phong trào, hầu như địa phương nào cũng quy hoạch để có khu, vùng nông nghiệp CNC, nhưng thực chất không được đầu tư bài bản, đúng yêu cầu; hoặc là quá đề cao mà thiếu các giải pháp khả thi, lộ trình cụ thể để thực hiện.

Nếu tái cơ cấu trong nông nghiệp là cuộc chuyển đổi lớn trong nông nghiệp, thì phát triển nông nghiệp CNC cần được xem là một phương thức để thực hiện hiệu quả cuộc chuyển đổi đó. Phát triển và ứng dụng nông nghiệp CNC chịu sự tác động, chi phối mạnh mẽ của thị trường khoa học và công nghệ. Nhưng thị trường này vẫn còn nhiều hạn chế, ở trình độ thấp, các yếu tố cấu thành thị trường chưa phát triển đồng bộ. Năng lực của nhiều chủ thể chưa đáp ứng được các yêu cầu. Quyền sở hữu trí tuệ, phát sinh, sáng chế chưa được bảo vệ và phát huy tốt. Giá trị và lượng hàng hóa KH&CN được giao dịch ở nước ta hiện nay chưa nhiều.

Thứ hai, quy hoạch không gian và yêu cầu tích hợp trong quy hoạch phát triển các khu, vùng nông nghiệp ứng dụng CNC ở ĐBSCL còn nhiều tồn tại, hạn chế:

Quy hoạch khu, vùng nông nghiệp CNC chịu sự tác động của chất lượng các quy hoạch vùng, ngành, địa phương chồng chéo. Trong khi hiện nay, ĐBSCL chịu sự “chia cắt” bởi 2.500 bản quy hoạch với nhiều bất cập. Nhiều quy hoạch còn mang tính chủ quan, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Hầu hết các quy hoạch chỉ chú trọng giải quyết vấn đề riêng lẻ, cục bộ của ngành, địa phương, chưa tích hợp, bố trí không gian phát triển chưa phù hợp, thiếu nguồn lực khả thi thực hiện, kể cả nguồn lực đầu tư công lẫn huy động ngoài ngân sách từ các thành phần kinh tế.

Thứ ba, chưa có một không gian đủ lớn, hoặc tiềm lực đầu tư lớn cho phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC
Đất đai manh mún, sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp từ khâu giống, dịch vụ đầu vào, sản xuất, thu hoạch, chế biến, tiêu thụ nông sản, sẽ cản trở việc ứng dụng CNC vào nông nghiệp. Cây trồng, vật nuôi trong các nhà kính hiện đại hay các dịch vụ nông nghiệp kỹ thuật, CNC đòi hỏi mức đầu tư cao, trong khi nguồn lực đầu tư của Nhà nước, doanh nghiệp, nông dân còn hạn chế. Vướng mắc việc cấp chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất nông nghiệp, trong đó có những loại tài sản được hình thành từ các dự án đầu tư ứng dụng nông nghiệp CNC như nhà kính, nhà lưới, trang thiết bị, hệ thống tưới, kiểm soát chất lượng sản phẩm hiện đại, mặc dù được đầu tư giá trị cao, nhưng chưa được chứng nhận quyền sở hữu để đảm bảo vay vốn đầu tư. Xét cả hai yêu cầu: không gian đủ lớn và tiềm lực đầu tư lớn cho nông nghiệp CNC vùng ĐBSCL vẫn còn rất hạn chế.

Thứ tư, thị trường, hệ thống tiêu thụ chưa đủ mạnh; tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia cho nông sản CNC chưa rõ ràng.

Sản phẩm nông nhiệp ứng dụng CNC bị đánh đồng với các loại sản xuất theo phương thức, quy trình không đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, tác động tiêu cực trở lại việc đầu tư phát triển. Hệ thống pháp lý chưa đảm bảo chế tài đủ mạnh bảo vệ nhà đầu tư, nhà sản xuất, ràng buộc trách nhiệm nhà thương mại về truy xuất nguồn gốc nông sản. Thực trạng này tác động tiêu cực trở lại, ảnh hưởng xấu đến việc đầu tư phát triển nông nghiệp CNC.

“Nguyên lý bình thông” nhau cho ứng dụng nông nghiệp CNC

Tiêu thụ nông sản hàng hóa trên nền tảng công nghệ tiên tiến, đạt kết quả bước đầu quan trọng. Ảnh: Minh Duy

Chọn lựa công nghệ phù hợp cho nền nông nghiệp “đi tắt, đón đầu” để không bị lạc hậu là quan trọng. Nhưng việc ứng dụng nông nghiệp CNC không chỉ là vấn đề kỹ thuật công nghệ thuần túy. Nó được ví như “những chiếc bình thông nhau” kết nối thông suốt giữa công nghệ cao với nhận thức, thể chế, quy hoạch và thị trường. Ngành nông nghiệp cần vượt qua dấu chân lấm bùn của kinh tế tự nhiên, kinh nghiệm truyền thống để bước sang kinh tế tri thức, tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp sáng tạo toàn cầu. Để tái cơ cấu và phát triển bền vững, chủ động hội nhập, cạnh tranh, thích ứng biến đổi khí hậu, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng nông nghiệp CNC hiệu quả và bền vững, xin đề xuất một số định hướng, giải pháp:

Một là, hoàn thiện văn bản pháp luật, chính sách. Nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật tháo gỡ các điểm nghẽn như đã phân tích ở trên, đặc biệt là các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến nông nghiệp CNC, đất đai, khuyến khích, ưu đãi đầu tư, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo trong nông nghiệp, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chính sách huy động các nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp CNC và chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp.

Hai là, quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp theo vùng, theo quy mô liên kết vùng trên cơ sở gắn với cung - cần thị trường. Bên cạnh đó, các địa phương cần tạo môi trường thuận lợi để thiết lập và tăng cường các mối liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với người dân, giữa người dân với người dân, nhằm tổ chức, hình thành mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm chặt chẽ hơn. Quy hoạch phát triển và ứng dụng công nghệ cao vùng ĐBSCL đặt trong yêu cầu đó, đảm bảo không gian hợp lý vượt ra ngoài ranh giới, rào cản hành chính, mang tính liên kết vùng. Tránh tình trạng địa phương nào cũng có khu nông nghiệp CNC, trong khi nguồn lực đầu tư hạn hẹp, đầu tư dàn trải. 

Ba là, ưu tiên ứng dụng CNC trong việc cải tạo giống cây trồng, vật nuôi, tạo và nhân nhanh các giống có năng suất, chất lượng và giá trị cao. Tăng cường năng lực hợp tác nghiên cứu khoa học giữa các địa phương trong vùng, giữa vùng ĐBSCL với các vùng miền khác trong cả nước. Đưa nhanh các công nghệ mới vào tất cả các khâu: sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm.

Bốn là, xây dựng và thí điểm các khu nông nghiệp CNC dựa vào những tiến bộ khoa học - công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, các mô hình liên kết, quản lý theo tiêu chí hiện đại dựa vào tri thức mới. Ưu tiên đầu tư cho các khu đã được quy hoạch và quyết định thành lập.

Năm là, phát triển thị trường và nguồn nhân lực.Yếu tố quan trọng nhất để phát triển nông nghiệp CNC là thị trường, bao gồm thị trường trong nước và xuất khẩu, thị trường nông sản và thị trường khoa học và công nghệ. Có cơ chế, chính sách khuyến khích và tăng cường đầu tư cho các cơ sở khoa học, viện, trường có tiềm lực đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu, ứng dụng nông nghiệp CNC, chú trọng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp và nông dân.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.