Mobile

Chọn nhập khẩu hay tự chế tạo?
Thứ Ba,  25/12/2018, 16:13 
Hải Vân

Chọn nhập khẩu hay tự chế tạo?

Hải Vân

(TBKTSG) - Thiếu đầu tư, công nghệ mới dù đang hình thành cũng chưa đủ mạnh để tổ chức chuỗi giá trị nông nghiệp theo hướng công nghệ cao.

Đưa công nghệ cao vào nông nghiệp: Giải bài toán cần và đủ

Hệ sinh thái nông nghiệp: Yếu điểm xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao

Nông nghiệp công nghệ cao không phải cây đũa thần!

Làm nhà kính, nhà lưới chỉ là bước đầu tiên hướng tới tự động hóa. Ảnh: Thanh Tao.

Sức ảnh hưởng của nông nghiệp đang bao trùm lên nhiều ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam. Nó có thể là động lực tăng trưởng của Việt Nam trong vài thập niên tới, nhưng cũng có thể là yếu tố làm chậm lại quá trình tăng trưởng của nền kinh tế, đẩy doanh nghiệp đến bờ vực phá sản trong thời gian ngắn hơn rất nhiều.

Năng lực tự động hóa thấp

Nền nông nghiệp Việt Nam sau năm năm tái cơ cấu không đi kèm đổi mới về thể chế, đã không tạo được sự bền vững. Người nông dân vẫn mong đợi, phía đẩy là có khoa học công nghệ, phía kéo có thị trường, nhưng những đột phá này chưa diễn ra. Việt Nam muốn phát triển nông nghiệp công nghệ cao, song một số điểm sáng như sử dụng công nghệ cảm biến nước thông minh tại ĐBSCL, hay làm nhà kính, nhà lưới ở Lâm Đồng, hoặc chuyển tưới tay sang tưới tự động tại Đà Lạt và Đăklăk… chỉ là bước đầu tiên hướng tới tự động hóa, chưa đủ để hình thành xu thế.

Nhập khẩu công nghệ đang được Việt Nam sử dụng như một phương thức để mang lại nhiều hơn giá trị từ ngành nông nghiệp. Song khảo sát của Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch tại 92 cơ sở chế tạo máy trên 15 tỉnh, thành phố đại diện cho cả 7 vùng kinh tế cả nước, cho thấy, các sản phẩm máy móc nông nghiệp nhập khẩu từ Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan... chiếm tới gần 70%, trong khi sản phẩm sản xuất tại Việt Nam chỉ chiếm từ 15-20%.

Dù vậy, năng lực cơ giới hóa của Việt Nam vẫn ở mức thấp. TS. Đào Thế Anh, Phó viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, tại Diễn đàn Nông nghiệp Mùa xuân 2018, đã khẳng định, năng lực cơ giới hóa của Việt Nam chỉ đạt 2,2 mã lực (HP)/héc ta canh tác, trong khi Thái Lan là 4HP/héc ta và Trung Quốc là 8 HP/héc ta.

Ông cho rằng, đầu tư công nghệ chưa đồng bộ theo chuỗi giá trị từ giống, sản xuất đến sau thu hoạch. Việt Nam đặt mục tiêu thu hoạch lúa gạo bằng cơ giới, nhưng đến năm 2015, cả nước có gần 600.000 máy kéo các loại, tương đương công suất hơn 5 triệu HP và  hơn 598.000 máy gặt, tuốt lúa các loại. Do đó, kết quả thu hoạch bằng máy tại đồng bằng sông Hồng chỉ đạt 30% diện tích và con số này tại ĐBSCL là 76% diện tích.

Đầu tư cho khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp và bảo quản chế biến nông lâm thủy sản nằm trong tình trạng chung về đầu tư cho khoa học công nghệ của cả nước. TS. Nguyễn Quỳnh Hoa, Đại học Kinh tế Quốc dân, trong một nghiên cứu mới đây đã nhận xét, đầu tư cho khoa học công nghệ ở Việt Nam đang giảm dần. Hiện nay, Việt Nam chỉ mới giành hơn 1% tổng chi ngân sách cho khoa học công nghệ, trong khi năm 2016 là 1,27%, thấp hơn so với năm 2015 là 1,52%, chỉ chiếm khoảng 0,5% GDP của cả nước, trong khi của Malaysia là 1% và Singapore  là 3%.

Theo TS. Hoa nền kinh tế Việt Nam về cơ bản vẫn là kinh tế gia công với trình độ công nghệ thấp, nhóm ngành sử dụng công nghệ cao mới đạt khoảng 20%, thấp hơn nhiều so với Singapore (73%), Malaysia (51%), Thái Lan (51%) trong khi tiêu chí để đạt trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là trên 60% công nghệ mới.

Theo quan sát của GS. Trần Văn Thọ, thành viên Tổ Tư vấn kinh tế Chính phủ: “Hầu hết vốn nhập khẩu công nghệ mới lại tập trung vào doanh nghiệp nhà nước, khu vực có hiệu quả kinh tế không cao”. Ông nhận xét: “Đầu tư công nghệ của khu vực kinh tế tư nhân hiệu quả hơn doanh nghiệp nhà nước do họ phải tự túc vốn nên nghiên cứu kỹ thị trường và lựa chọn công nghệ kỹ lưỡng hơn”.

GS. Thọ nói rằng Việt Nam có thể học bài học phát triển của Nhật Bản để tăng năng suất lao động, đặc biệt là lao động nông nghiệp, khu vực được cho là có năng suất thấp. Chính phủ Nhật Bản, trong giai đoạn phát triển đã rất coi trọng ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật mới nhất của Mỹ và châu Âu, bằng cách nhập khẩu công nghệ, mua các phát minh sáng chế. Với 15.289 vụ nhập khẩu công nghệ trong giai đoạn 1950-1971 và chi khoảng 6 tỉ đô la Mỹ để mua lại phát minh của nước ngoài giai đoạn 1950-1968, Nhật Bản đã cải tạo căn bản tài sản cố định và tăng năng suất lao động trung bình hằng năm thời kỳ 1955-1965 lên mức 9,4%.

Ngoài nhập khẩu công nghệ, mua các phát minh sáng chế, Chính phủ Nhật đồng thời siết chặt quản lý nhập khẩu công nghệ, quy định doanh nghiệp tư nhân phải tự túc vốn nhập khẩu công nghệ. Để hỗ trợ khu vực tư nhân, Chính phủ nước này cũng dành riêng một số ngân hàng cho doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ vay vốn, với lãi suất ưu tiên.

GS. Thọ cho rằng: “Chính phủ Việt Nam cũng có thể làm được điều này, khi lập ra các quỹ hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp tư nhân nhập khẩu công nghệ và phát minh sách chế”.

Không ứng dụng công nghệ bằng cách đi mua

Năm 2017, Nghị quyết 30 ra đời trong đó đề cập đến gói 100.000 tỉ đồng, tương đương 4,5 triệu đô la Mỹ, cho vay nông nghiệp công nghệ cao, hướng đến những dự án hợp tác quốc tế, khai thác hiệu quả cơ hội nhận chuyển giao máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, thực tế không ghi nhận sự việc doanh nghiệp bỏ tiền vào lĩnh vực nhiều rủi ro này.

Đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới xác nhận khoảng 49.600 doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, chiếm 8% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, trong đó khoảng 90% doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là doanh nghiệp tư nhân, còn lại là doanh nghiệp nhà nước và FDI.

Thế nhưng, ngay cả với những doanh nghiệp chế tạo máy nông nghiệp mà sản phẩm đã trở thành thương hiệu, việc duy trì thì phần nội địa là không đơn giản. Công ty Cơ khí Công nông nghiệp Bùi Văn Ngọ đang chịu ít nhiều tác động bởi chính sách và tình trạng nhập khẩu máy nông nghiệp.

Ông Bùi Phong Lưu, Giám đốc Công ty Cơ khí Công nông nghiệp Bùi Văn Ngọ, cho biết: “Chúng tôi gặp nhiều khó khăn trong việc giữ thị phần trên thị trường nội địa, cũng như đảm bảo tỷ lệ xuất khẩu ở mức 30% doanh số”. Theo ông, doanh số năm 2016 của công ty đã sụt giảm, chỉ đạt hơn 400 tỉ đồng, trong khi thời điểm cao nhất là hơn 600 tỉ đồng. Trong hai năm 2017 và 2018, tình hình đã khá hơn nhưng doanh thu cũng chỉ tăng 5% so với năm 2016, bởi phụ thuộc vào chính sách nông nghiệp từng giai đoạn.

Nhìn vào Việt Nam, hai nguồn lực đất và nước, đều đang giảm đi. Phó đại sứ Israel tại Việt Nam, ông Doron Lebovich, nói rằng: “Phát triển ngành nông nghiệp, không thể dựa vào nguồn lực hiện tại mà phải tính tiếp các bước trong tương lai”. Chia sẻ kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Israel, theo vị Phó đại sứ: “Nhập khẩu công nghệ là cách làm dễ nhất, nhưng tạo ra nguồn nhân lực có đủ trình độ nghiên cứu, chế tạo ra công nghệ mới là giải pháp tiết kiệm và bền vững”.

Công nghệ sẽ đóng vai trò then chốt để sử dụng ít nguồn lực hơn, mang lại giá trị cao hơn. Theo ông Doron Lebovich, Việt Nam có thể áp dụng phương thức “kiềng 3 chân” mà Israel đang áp dụng. Đầu tiên, Chính phủ ngoài thiết kế chính sách nông nghiệp, ưu tiên cho nghiên cứu triển khai, cần đóng vai trò rót vốn và kết nối các bên với nhau. Kế đến, các nhà khoa học thực tiễn nghiên cứu để tìm ra những giải pháp công nghệ mới. Cuối cùng, doanh nghiệp tư nhân đầu tư vật tư, tạo điều kiện cho giới nghiên cứu thí điểm công nghệ trên đất của mình. Cần thời gian để tạo ra một vòng tròn phát triển, nhưng các bên sẽ cùng có lợi dưới sự giám sát của Chính phủ.

Với điều kiện tự nhiên tốt hơn Israel, ông Doron Lebovich tin rằng, Việt Nam có thể bỏ qua một số bước để tiến lên những bậc cao hơn về trình độ khoa học công nghệ.

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Thứ Năm,  21/2/2019, 12:37 
Đặt báo in

Chọn nhập khẩu hay tự chế tạo?

Hải Vân
Thứ Ba,  25/12/2018, 16:13 

Chọn nhập khẩu hay tự chế tạo?

Hải Vân

(TBKTSG) - Thiếu đầu tư, công nghệ mới dù đang hình thành cũng chưa đủ mạnh để tổ chức chuỗi giá trị nông nghiệp theo hướng công nghệ cao.

Đưa công nghệ cao vào nông nghiệp: Giải bài toán cần và đủ

Hệ sinh thái nông nghiệp: Yếu điểm xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao

Nông nghiệp công nghệ cao không phải cây đũa thần!

Làm nhà kính, nhà lưới chỉ là bước đầu tiên hướng tới tự động hóa. Ảnh: Thanh Tao.

Sức ảnh hưởng của nông nghiệp đang bao trùm lên nhiều ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam. Nó có thể là động lực tăng trưởng của Việt Nam trong vài thập niên tới, nhưng cũng có thể là yếu tố làm chậm lại quá trình tăng trưởng của nền kinh tế, đẩy doanh nghiệp đến bờ vực phá sản trong thời gian ngắn hơn rất nhiều.

Năng lực tự động hóa thấp

Nền nông nghiệp Việt Nam sau năm năm tái cơ cấu không đi kèm đổi mới về thể chế, đã không tạo được sự bền vững. Người nông dân vẫn mong đợi, phía đẩy là có khoa học công nghệ, phía kéo có thị trường, nhưng những đột phá này chưa diễn ra. Việt Nam muốn phát triển nông nghiệp công nghệ cao, song một số điểm sáng như sử dụng công nghệ cảm biến nước thông minh tại ĐBSCL, hay làm nhà kính, nhà lưới ở Lâm Đồng, hoặc chuyển tưới tay sang tưới tự động tại Đà Lạt và Đăklăk… chỉ là bước đầu tiên hướng tới tự động hóa, chưa đủ để hình thành xu thế.

Nhập khẩu công nghệ đang được Việt Nam sử dụng như một phương thức để mang lại nhiều hơn giá trị từ ngành nông nghiệp. Song khảo sát của Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch tại 92 cơ sở chế tạo máy trên 15 tỉnh, thành phố đại diện cho cả 7 vùng kinh tế cả nước, cho thấy, các sản phẩm máy móc nông nghiệp nhập khẩu từ Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan... chiếm tới gần 70%, trong khi sản phẩm sản xuất tại Việt Nam chỉ chiếm từ 15-20%.

Dù vậy, năng lực cơ giới hóa của Việt Nam vẫn ở mức thấp. TS. Đào Thế Anh, Phó viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, tại Diễn đàn Nông nghiệp Mùa xuân 2018, đã khẳng định, năng lực cơ giới hóa của Việt Nam chỉ đạt 2,2 mã lực (HP)/héc ta canh tác, trong khi Thái Lan là 4HP/héc ta và Trung Quốc là 8 HP/héc ta.

Ông cho rằng, đầu tư công nghệ chưa đồng bộ theo chuỗi giá trị từ giống, sản xuất đến sau thu hoạch. Việt Nam đặt mục tiêu thu hoạch lúa gạo bằng cơ giới, nhưng đến năm 2015, cả nước có gần 600.000 máy kéo các loại, tương đương công suất hơn 5 triệu HP và  hơn 598.000 máy gặt, tuốt lúa các loại. Do đó, kết quả thu hoạch bằng máy tại đồng bằng sông Hồng chỉ đạt 30% diện tích và con số này tại ĐBSCL là 76% diện tích.

Đầu tư cho khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp và bảo quản chế biến nông lâm thủy sản nằm trong tình trạng chung về đầu tư cho khoa học công nghệ của cả nước. TS. Nguyễn Quỳnh Hoa, Đại học Kinh tế Quốc dân, trong một nghiên cứu mới đây đã nhận xét, đầu tư cho khoa học công nghệ ở Việt Nam đang giảm dần. Hiện nay, Việt Nam chỉ mới giành hơn 1% tổng chi ngân sách cho khoa học công nghệ, trong khi năm 2016 là 1,27%, thấp hơn so với năm 2015 là 1,52%, chỉ chiếm khoảng 0,5% GDP của cả nước, trong khi của Malaysia là 1% và Singapore  là 3%.

Theo TS. Hoa nền kinh tế Việt Nam về cơ bản vẫn là kinh tế gia công với trình độ công nghệ thấp, nhóm ngành sử dụng công nghệ cao mới đạt khoảng 20%, thấp hơn nhiều so với Singapore (73%), Malaysia (51%), Thái Lan (51%) trong khi tiêu chí để đạt trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là trên 60% công nghệ mới.

Theo quan sát của GS. Trần Văn Thọ, thành viên Tổ Tư vấn kinh tế Chính phủ: “Hầu hết vốn nhập khẩu công nghệ mới lại tập trung vào doanh nghiệp nhà nước, khu vực có hiệu quả kinh tế không cao”. Ông nhận xét: “Đầu tư công nghệ của khu vực kinh tế tư nhân hiệu quả hơn doanh nghiệp nhà nước do họ phải tự túc vốn nên nghiên cứu kỹ thị trường và lựa chọn công nghệ kỹ lưỡng hơn”.

GS. Thọ nói rằng Việt Nam có thể học bài học phát triển của Nhật Bản để tăng năng suất lao động, đặc biệt là lao động nông nghiệp, khu vực được cho là có năng suất thấp. Chính phủ Nhật Bản, trong giai đoạn phát triển đã rất coi trọng ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật mới nhất của Mỹ và châu Âu, bằng cách nhập khẩu công nghệ, mua các phát minh sáng chế. Với 15.289 vụ nhập khẩu công nghệ trong giai đoạn 1950-1971 và chi khoảng 6 tỉ đô la Mỹ để mua lại phát minh của nước ngoài giai đoạn 1950-1968, Nhật Bản đã cải tạo căn bản tài sản cố định và tăng năng suất lao động trung bình hằng năm thời kỳ 1955-1965 lên mức 9,4%.

Ngoài nhập khẩu công nghệ, mua các phát minh sáng chế, Chính phủ Nhật đồng thời siết chặt quản lý nhập khẩu công nghệ, quy định doanh nghiệp tư nhân phải tự túc vốn nhập khẩu công nghệ. Để hỗ trợ khu vực tư nhân, Chính phủ nước này cũng dành riêng một số ngân hàng cho doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ vay vốn, với lãi suất ưu tiên.

GS. Thọ cho rằng: “Chính phủ Việt Nam cũng có thể làm được điều này, khi lập ra các quỹ hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp tư nhân nhập khẩu công nghệ và phát minh sách chế”.

Không ứng dụng công nghệ bằng cách đi mua

Năm 2017, Nghị quyết 30 ra đời trong đó đề cập đến gói 100.000 tỉ đồng, tương đương 4,5 triệu đô la Mỹ, cho vay nông nghiệp công nghệ cao, hướng đến những dự án hợp tác quốc tế, khai thác hiệu quả cơ hội nhận chuyển giao máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, thực tế không ghi nhận sự việc doanh nghiệp bỏ tiền vào lĩnh vực nhiều rủi ro này.

Đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới xác nhận khoảng 49.600 doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, chiếm 8% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, trong đó khoảng 90% doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là doanh nghiệp tư nhân, còn lại là doanh nghiệp nhà nước và FDI.

Thế nhưng, ngay cả với những doanh nghiệp chế tạo máy nông nghiệp mà sản phẩm đã trở thành thương hiệu, việc duy trì thì phần nội địa là không đơn giản. Công ty Cơ khí Công nông nghiệp Bùi Văn Ngọ đang chịu ít nhiều tác động bởi chính sách và tình trạng nhập khẩu máy nông nghiệp.

Ông Bùi Phong Lưu, Giám đốc Công ty Cơ khí Công nông nghiệp Bùi Văn Ngọ, cho biết: “Chúng tôi gặp nhiều khó khăn trong việc giữ thị phần trên thị trường nội địa, cũng như đảm bảo tỷ lệ xuất khẩu ở mức 30% doanh số”. Theo ông, doanh số năm 2016 của công ty đã sụt giảm, chỉ đạt hơn 400 tỉ đồng, trong khi thời điểm cao nhất là hơn 600 tỉ đồng. Trong hai năm 2017 và 2018, tình hình đã khá hơn nhưng doanh thu cũng chỉ tăng 5% so với năm 2016, bởi phụ thuộc vào chính sách nông nghiệp từng giai đoạn.

Nhìn vào Việt Nam, hai nguồn lực đất và nước, đều đang giảm đi. Phó đại sứ Israel tại Việt Nam, ông Doron Lebovich, nói rằng: “Phát triển ngành nông nghiệp, không thể dựa vào nguồn lực hiện tại mà phải tính tiếp các bước trong tương lai”. Chia sẻ kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Israel, theo vị Phó đại sứ: “Nhập khẩu công nghệ là cách làm dễ nhất, nhưng tạo ra nguồn nhân lực có đủ trình độ nghiên cứu, chế tạo ra công nghệ mới là giải pháp tiết kiệm và bền vững”.

Công nghệ sẽ đóng vai trò then chốt để sử dụng ít nguồn lực hơn, mang lại giá trị cao hơn. Theo ông Doron Lebovich, Việt Nam có thể áp dụng phương thức “kiềng 3 chân” mà Israel đang áp dụng. Đầu tiên, Chính phủ ngoài thiết kế chính sách nông nghiệp, ưu tiên cho nghiên cứu triển khai, cần đóng vai trò rót vốn và kết nối các bên với nhau. Kế đến, các nhà khoa học thực tiễn nghiên cứu để tìm ra những giải pháp công nghệ mới. Cuối cùng, doanh nghiệp tư nhân đầu tư vật tư, tạo điều kiện cho giới nghiên cứu thí điểm công nghệ trên đất của mình. Cần thời gian để tạo ra một vòng tròn phát triển, nhưng các bên sẽ cùng có lợi dưới sự giám sát của Chính phủ.

Với điều kiện tự nhiên tốt hơn Israel, ông Doron Lebovich tin rằng, Việt Nam có thể bỏ qua một số bước để tiến lên những bậc cao hơn về trình độ khoa học công nghệ.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
CHUYỂN ĐỘNG CÔNG THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHUYẾN MÃI
WEB GIÁ RẺ
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
QUẢN TRỊ SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
DỮ LIỆU DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
QUY HOẠCH - HẠ TẦNG
DỰ ÁN
GÓC TƯ VẤN
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.