Mobile

Bà Cậu và Hà Bá
Thứ Bảy,  2/2/2019, 18:04 
Dương Văn Ni

Bà Cậu và Hà Bá

Dương Văn Ni

(TBKTSG XUAN) - Ngày xuân, có được những giây phút thoát ra khỏi sự bùng nhùng của bộn bề công việc hàng ngày, mới có dịp bình tâm mà ngẫm nghĩ về những chuyện không liên quan gì đến cơm-áo-gạo-tiền. Vì vậy, coi đây như là chuyện góp vui cho mọi người trong ba ngày Tết.

Trong văn hóa Trung Hoa, người ta tin trên bờ có một vị thần cai quản, gọi là Thổ Công; còn dưới sông cũng có vị thần trông coi, gọi là Hà Bá. Người Việt mình hay nói “đất có Thổ Công, sông có Hà Bá” là vậy.

Nhưng lạ một điều là nếu Thổ Công được người dân cúng kiếng rất xôm tụ thì họa hoằn lắm người ta mới gặp một cái miếu ven sông thờ Hà Bá. Có lẽ là vì Thổ Công hiền lành, hay giúp đỡ mọi người, còn Hà Bá thì hung dữ, thường đòi hỏi cúng kiếng và hay bắt nạt người đi sông đi biển!

Dù vậy, khi du nhập vào Việt Nam thì người ta không gọi Thổ Công nữa, mà thay vào đó là Thổ Địa. Nhưng lý thú nhất là việc người dân hành nghề sông nước ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) lại chọn thờ một vị thần cai quản sông nước linh thiêng khác thay cho Hà Bá, gọi là Bà Cậu.

Nếu hỏi người dân Bà Cậu là vị thần nào? thì có vô số cách giải thích. Có người nói đó là các vị thần trong văn hóa người Chăm, nhưng xem ra không ổn lắm, vì người Chăm ở ĐBSCL giỏi việc nuôi tằm dệt vải, ít hành nghề trên sông nước. Đa số thì giải thích dựa theo từ gọi mà người ta diễn giải, như: “Bà là một người đàn bà, Cậu là những người con trai của bà”!

Cúng Bà Cậu vào ngày 16 và 29 Âm lịch, đồ cúng gồm bông hoa, nhang đèn và bắt buộc phải có con vịt luộc và ba chén cháo. Đơn giản hơn thì chỉ có nén nhang cắm ở mũi ghe tàu và vài trứng vịt luộc. Cúng vịt chứ không phải gà, heo, bò vì người ta tin là con vịt thì luôn luôn nổi trên mặt nước và không bao giờ bị chìm. Không ai cúng cá tôm vì có thể Bà Cậu cai quản dòng sông nên đã “ngán” cá tôm rồi.

Sở dĩ người dân chọn ngày 16 và 29 Âm lịch hàng tháng để cúng Bà Cậu thì có thể có những lý do liên quan đến dòng nước. Ở ĐBSCL mỗi tháng có hai con nước rong và hai con nước kém. Mỗi con nước kéo dài khoảng bảy ngày, nước rong là lúc nước lên, nước kém là lúc nước xuống. Hai con nước rong đạt đỉnh cao nhất là vào khoảng giữa và cuối tháng âm lịch, hai con nước kém tiếp theo sau hai con nước rong và là giai đoạn nước rút.

Cúng Bà Cậu vào ngày 16 Âm lịch, có thể là để “né” ngày rằm, nhiều người ăn chay, nhưng quan trọng lúc này là đỉnh con nước rong thứ nhất, sau đó là chu kỳ nước rút. Đây là “thời gian vàng” của dân thương hồ, vì trên trời có trăng sáng tỏ soi đường và nếu tính toán đúng thì cứ xuôi theo con nước lớn con nước ròng mà đi suốt cả ngày đêm, đỡ tốn công chèo chống.

Nhưng cúng Bà Cậu vào ngày 29 Âm lịch, sớm hơn đỉnh con nước rong thứ hai một ngày, lại mang tính nhắc nhở mọi người đây là “thời gian nguy hiểm”, vì không còn trăng nữa nên đường đi “tối như đêm 30”, lại bắt đầu chu kỳ nước rút, tại các ngã ba ngã tư sông, nước sẽ chảy rất siết và có nhiều xoáy nước nên rất nguy hiểm. Trong giai đoạn này khi đi ghe xuồng vào ban đêm rất dễ bị mắc cạn do các cồn cát nổi lên giữa sông, hay rướng vào các đống chà ven sông của người dân.

Du khách đến ĐBSCL thì thấy sông nước hiền hòa, người miền Tây thật thà chất phác. Đúng vậy, ở nơi đây con người và thiên nhiên là một. Thế nên cái gì có vẻ hiền hậu, quê mùa thì mọi người hay gán cho họ như “hai lúa”, “tư ếch”, hay tính nết thì “hiền như cục đất”, “khỏe như trâu cui”.

Ấy vậy mà trong cái vẻ hiền hòa của sông rạch, nơi mỗi ngày có nước lớn nước ròng và mỗi tháng có con nước rong con nước kém đó thì ít ai biết là nó đang chứa bên trong một nguồn năng lượng phi thường. Ai đã từng “chết hụt” trong các xoáy nước ở ngã ba sông, từng chứng kiến những trận nước lụt ngập sâu hàng chục mét và kéo dài hàng tháng trời nhấn chìm cả những cánh rừng tràm rậm rạp, thì mới hiểu được thế nào là sức mạnh của dòng nước ở nơi đây.

Chúng ta ai cũng biết là qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, cứ ngỡ như dân tộc Việt Nam đã bị đồng hóa mất tiêu rồi. Nhưng dân tộc Việt Nam luôn luôn tìm cách thoát ra khỏi cái vòng kìm kẹp đó. Nếu trên lĩnh vực quân sự còn có lúc thắng lúc thua, nhưng chúng ta lại luôn luôn thắng trong việc tìm tiếng Nôm thay tiếng Hán, tìm thuốc Nam thay thuốc Bắc, tìm phở thay cho mì, tìm nước mắm thay xì dầu, tìm áo dài thay cho áo xẩm, tìm nón lá thay nón chảo...

Vì vậy, biết đâu chừng việc người dân tìm một tên gọi khác như Bà Cậu để thay cho Hà Bá cũng mang cùng một ý nghĩa như trên? Nếu nói về việc thoát ly đó thì Hai Bà Trưng là dấu ấn sớm nhất trên con đường tách ra khỏi sự thống trị của phương Bắc. Tinh tế hơn là cha ông còn lưu truyền lại sự tích Trọng Thủy - Mỵ Châu, một câu chuyện ghi đậm dấu sự bội ước giữa sui gia và ẩn dụ một niềm tin chung thủy nhiều hơn cho “phái nữ”! Và như vậy, có thể việc đặt tên Bà Cậu cho một vị thần đáng kính của mình cũng hàm chứa cùng một ý nghĩa là muốn thoát ly và tôn vinh phái đẹp, chứ không phải chỉ là việc đơn giản ghép lại giữa hai từ Bà và Cậu!

Thách thức để có một xã hội “giàu có” thì ngoài các chỉ tiêu cân đong đo đếm được, còn tùy thuộc vào sự hiểu biết của mỗi chúng ta về những tinh hoa của chính cộng đồng mình. Bởi vì văn hóa dân gian là một thực thể sống, nó không ngừng dung nạp những cái mới và đào thải những cái lỗi thời, duy chỉ có những điều cốt lõi đặc trưng cho cộng đồng mình thì luôn luôn được giữ lại, không phải chỉ một thế hệ mà còn lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Chính nhờ văn hóa dân gian mà bản sắc dân tộc Việt Nam đã không bị “hòa tan” khi tiếp xúc với những nền văn hóa khác, trong đó đáng kể nhất là sau hàng ngàn năm Bắc thuộc. 

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Bà Cậu và Hà Bá

Dương Văn Ni
Thứ Bảy,  2/2/2019, 18:04 

Bà Cậu và Hà Bá

Dương Văn Ni

(TBKTSG XUAN) - Ngày xuân, có được những giây phút thoát ra khỏi sự bùng nhùng của bộn bề công việc hàng ngày, mới có dịp bình tâm mà ngẫm nghĩ về những chuyện không liên quan gì đến cơm-áo-gạo-tiền. Vì vậy, coi đây như là chuyện góp vui cho mọi người trong ba ngày Tết.

Trong văn hóa Trung Hoa, người ta tin trên bờ có một vị thần cai quản, gọi là Thổ Công; còn dưới sông cũng có vị thần trông coi, gọi là Hà Bá. Người Việt mình hay nói “đất có Thổ Công, sông có Hà Bá” là vậy.

Nhưng lạ một điều là nếu Thổ Công được người dân cúng kiếng rất xôm tụ thì họa hoằn lắm người ta mới gặp một cái miếu ven sông thờ Hà Bá. Có lẽ là vì Thổ Công hiền lành, hay giúp đỡ mọi người, còn Hà Bá thì hung dữ, thường đòi hỏi cúng kiếng và hay bắt nạt người đi sông đi biển!

Dù vậy, khi du nhập vào Việt Nam thì người ta không gọi Thổ Công nữa, mà thay vào đó là Thổ Địa. Nhưng lý thú nhất là việc người dân hành nghề sông nước ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) lại chọn thờ một vị thần cai quản sông nước linh thiêng khác thay cho Hà Bá, gọi là Bà Cậu.

Nếu hỏi người dân Bà Cậu là vị thần nào? thì có vô số cách giải thích. Có người nói đó là các vị thần trong văn hóa người Chăm, nhưng xem ra không ổn lắm, vì người Chăm ở ĐBSCL giỏi việc nuôi tằm dệt vải, ít hành nghề trên sông nước. Đa số thì giải thích dựa theo từ gọi mà người ta diễn giải, như: “Bà là một người đàn bà, Cậu là những người con trai của bà”!

Cúng Bà Cậu vào ngày 16 và 29 Âm lịch, đồ cúng gồm bông hoa, nhang đèn và bắt buộc phải có con vịt luộc và ba chén cháo. Đơn giản hơn thì chỉ có nén nhang cắm ở mũi ghe tàu và vài trứng vịt luộc. Cúng vịt chứ không phải gà, heo, bò vì người ta tin là con vịt thì luôn luôn nổi trên mặt nước và không bao giờ bị chìm. Không ai cúng cá tôm vì có thể Bà Cậu cai quản dòng sông nên đã “ngán” cá tôm rồi.

Sở dĩ người dân chọn ngày 16 và 29 Âm lịch hàng tháng để cúng Bà Cậu thì có thể có những lý do liên quan đến dòng nước. Ở ĐBSCL mỗi tháng có hai con nước rong và hai con nước kém. Mỗi con nước kéo dài khoảng bảy ngày, nước rong là lúc nước lên, nước kém là lúc nước xuống. Hai con nước rong đạt đỉnh cao nhất là vào khoảng giữa và cuối tháng âm lịch, hai con nước kém tiếp theo sau hai con nước rong và là giai đoạn nước rút.

Cúng Bà Cậu vào ngày 16 Âm lịch, có thể là để “né” ngày rằm, nhiều người ăn chay, nhưng quan trọng lúc này là đỉnh con nước rong thứ nhất, sau đó là chu kỳ nước rút. Đây là “thời gian vàng” của dân thương hồ, vì trên trời có trăng sáng tỏ soi đường và nếu tính toán đúng thì cứ xuôi theo con nước lớn con nước ròng mà đi suốt cả ngày đêm, đỡ tốn công chèo chống.

Nhưng cúng Bà Cậu vào ngày 29 Âm lịch, sớm hơn đỉnh con nước rong thứ hai một ngày, lại mang tính nhắc nhở mọi người đây là “thời gian nguy hiểm”, vì không còn trăng nữa nên đường đi “tối như đêm 30”, lại bắt đầu chu kỳ nước rút, tại các ngã ba ngã tư sông, nước sẽ chảy rất siết và có nhiều xoáy nước nên rất nguy hiểm. Trong giai đoạn này khi đi ghe xuồng vào ban đêm rất dễ bị mắc cạn do các cồn cát nổi lên giữa sông, hay rướng vào các đống chà ven sông của người dân.

Du khách đến ĐBSCL thì thấy sông nước hiền hòa, người miền Tây thật thà chất phác. Đúng vậy, ở nơi đây con người và thiên nhiên là một. Thế nên cái gì có vẻ hiền hậu, quê mùa thì mọi người hay gán cho họ như “hai lúa”, “tư ếch”, hay tính nết thì “hiền như cục đất”, “khỏe như trâu cui”.

Ấy vậy mà trong cái vẻ hiền hòa của sông rạch, nơi mỗi ngày có nước lớn nước ròng và mỗi tháng có con nước rong con nước kém đó thì ít ai biết là nó đang chứa bên trong một nguồn năng lượng phi thường. Ai đã từng “chết hụt” trong các xoáy nước ở ngã ba sông, từng chứng kiến những trận nước lụt ngập sâu hàng chục mét và kéo dài hàng tháng trời nhấn chìm cả những cánh rừng tràm rậm rạp, thì mới hiểu được thế nào là sức mạnh của dòng nước ở nơi đây.

Chúng ta ai cũng biết là qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, cứ ngỡ như dân tộc Việt Nam đã bị đồng hóa mất tiêu rồi. Nhưng dân tộc Việt Nam luôn luôn tìm cách thoát ra khỏi cái vòng kìm kẹp đó. Nếu trên lĩnh vực quân sự còn có lúc thắng lúc thua, nhưng chúng ta lại luôn luôn thắng trong việc tìm tiếng Nôm thay tiếng Hán, tìm thuốc Nam thay thuốc Bắc, tìm phở thay cho mì, tìm nước mắm thay xì dầu, tìm áo dài thay cho áo xẩm, tìm nón lá thay nón chảo...

Vì vậy, biết đâu chừng việc người dân tìm một tên gọi khác như Bà Cậu để thay cho Hà Bá cũng mang cùng một ý nghĩa như trên? Nếu nói về việc thoát ly đó thì Hai Bà Trưng là dấu ấn sớm nhất trên con đường tách ra khỏi sự thống trị của phương Bắc. Tinh tế hơn là cha ông còn lưu truyền lại sự tích Trọng Thủy - Mỵ Châu, một câu chuyện ghi đậm dấu sự bội ước giữa sui gia và ẩn dụ một niềm tin chung thủy nhiều hơn cho “phái nữ”! Và như vậy, có thể việc đặt tên Bà Cậu cho một vị thần đáng kính của mình cũng hàm chứa cùng một ý nghĩa là muốn thoát ly và tôn vinh phái đẹp, chứ không phải chỉ là việc đơn giản ghép lại giữa hai từ Bà và Cậu!

Thách thức để có một xã hội “giàu có” thì ngoài các chỉ tiêu cân đong đo đếm được, còn tùy thuộc vào sự hiểu biết của mỗi chúng ta về những tinh hoa của chính cộng đồng mình. Bởi vì văn hóa dân gian là một thực thể sống, nó không ngừng dung nạp những cái mới và đào thải những cái lỗi thời, duy chỉ có những điều cốt lõi đặc trưng cho cộng đồng mình thì luôn luôn được giữ lại, không phải chỉ một thế hệ mà còn lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Chính nhờ văn hóa dân gian mà bản sắc dân tộc Việt Nam đã không bị “hòa tan” khi tiếp xúc với những nền văn hóa khác, trong đó đáng kể nhất là sau hàng ngàn năm Bắc thuộc. 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.