Mobile

Từ E-Gov đến D-Gov và O-Gov
Thứ Sáu,  1/2/2019, 15:13 
Hiệu Minh

Từ E-Gov đến D-Gov và O-Gov

Hiệu Minh

(TBKTSG) - Ai cũng nghĩ E-Government (E-Gov - chính phủ điện tử) là tin học hóa và coi như đã số hóa nhưng E-Gov chỉ là bước đệm cho Digital Government (D-Gov - chính phủ số) và tiến tới O-Gov (Open Government - chính phủ mở).

Chính phủ được coi là E-Gov nếu các hoạt động được ứng dụng ICT (công nghệ thông tin - truyền thông) cho công việc vận hành nhà nước hiệu quả hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp cũng như người dân cùng tham gia quản lý nhà nước. E-Gov giúp cho chính phủ tới gần dân và ngược lại, thông qua những hoạt động được minh bạch từ kế hoạch đến chi tiêu, đạt hiệu quả trong quản lý và phục vụ dân.

Các chính phủ trên thế giới đều đương đầu với các thách thức làm sao nâng cao chất lượng phục vụ cao nhất trong hành chính công nhưng tiết kiệm ngân sách một cách tối đa. E-Gov giúp thực hiện mục tiêu này một cách hiệu quả.

Các quốc gia như Anh, Hàn Quốc, Singapore đã có E-Gov hàng thập kỷ và nay đang bàn về D-Gov được dựng trên nền tảng E-Gov. Từ chữ “E” đến chữ “D” là một bước tiến khác - là mọi kênh dịch vụ công phải được số hóa một cách ngầm định “digital by default”.

Ai từng xin visa đi EU hay Mỹ sẽ có cảm nhận về các dịch vụ được số hóa như thế nào; từ bước khai hồ sơ, cung cấp bản sao hộ chiếu, ảnh, chứng minh khả năng tài chính, nộp phí, đến hẹn ngày phỏng vấn... đều được làm trên mạng, trừ việc đến phỏng vấn thì bắt buộc phải gặp nhân viên của lãnh sự để đảm bảo người khai và người xin đi là một.

Các D-Gov dẫn đầu đang lập kế hoạch số hóa hoàn toàn các dịch vụ như kiểu cấp visa nói trên thông qua việc từ nâng cấp hạ tầng ICT đến coi người dùng dịch vụ là trung tâm.

Các công ty thành công do coi khách hàng là thượng đế nên luôn cải tiến dịch vụ tiện lợi trong giao dịch. Chính phủ coi dân đóng thuế là thượng đế sẽ cố làm như các công ty, tạo thuận lợi thông qua số hóa dịch vụ sẽ làm dân hài lòng vì tiền thuế của họ được dùng đúng mục đích.

D-Gov Việt Nam

Ngày 17-1-2019, Văn phòng Chính phủ phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức sáng kiến Việt Nam tổ chức Hội thảo chia sẻ kết quả đánh giá mức độ sẵn sàng về D-Gov và dữ liệu mở. Đánh giá này nằm trong khuôn khổ hỗ trợ kỹ thuật của WB và Úc để thúc đẩy tiến trình E-Gov ở Việt Nam một cách hiệu quả và thiết thực.

Báo cáo của WB đánh giá những thuận lợi, thách thức của từng lĩnh vực và chỉ ra một khuôn khổ hành động giúp cho E-Gov, D-Gov và tiến tới O-Gov dựa trên nền tảng dữ liệu mở.

Theo khảo sát E-Gov index của Liên hiệp quốc năm 2018, Việt Nam hiện đứng thứ 88 về E-Gov trong tổng số hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ, chỉ tăng một hạng (89) so với năm 2016, như vậy chỉ là trung bình.

Trong khi đó, báo cáo của WB tại hội thảo đánh giá mức độ sẵn sàng của Việt Nam từ 1 (thấp nhất) đến 5 (cao nhất) trong bảy lĩnh vực. Theo đó, chỉ số “Lãnh đạo và quản trị”, “Lấy người dùng làm trung tâm”, “Sử dụng dữ liệu để hoạch định và thực hiện chính sách”, “An ninh mạng, quyền riêng tư và khả năng phục hồi” cùng đạt 3 điểm, trong khi chỉ số “Thay đổi quy trình làm việc”, “Năng lực, tập quán văn hóa và kỹ năng”, “Cơ sở hạ tầng dùng chung” chỉ đạt 2 điểm. Đánh giá này khá nhất quán với thang điểm của Liên hiệp quốc về E-Gov.

Đánh giá của WB cũng nhìn nhận, ở tầm vĩ mô, lãnh đạo quốc gia luôn thể hiện cam kết chính sách mạnh mẽ đối với xu hướng chuyển dịch toàn cầu sang cuộc cách mạng công nghệ 4.0, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật có tính nền tảng để phát triển chính phủ số.

Thách thức chính trong phát triển D-Gov là việc thiếu khuôn khổ điều phối và phối hợp giữa các cơ quan và các sáng kiến khác nhau, dù đã có các hội đồng giám đốc công nghệ thông tin của cơ quan nhà nước ở cả cấp trung ương và địa phương, nhưng không có vị trí giám đốc công nghệ thông tin cho toàn chính phủ, một vị trí mà các quốc gia có E-Gov thường có.

Ngoài ra, sự thiếu hụt về khả năng tài chính cũng như kỹ năng trong khu vực nhà nước là những thách thức khác. Chưa kể các tài năng hàng đầu đang chủ yếu làm việc trong khu vực tư nhân với mức lương cao hơn, khiến cho việc thu hút và giữ chân họ trong các cơ quan của chính phủ là rất khó khăn, báo cáo chỉ rõ.

Dữ liệu mở cho O-Gov

Dữ liệu mở là khái niệm không mới, đã được những chính phủ có E-Gov như Anh và Singapore đưa ra từ cuối thập niên 2000. Đó là chính sách mà chính phủ cho phép công khai dữ liệu, với rất ít hạn chế truy cập, một số dữ liệu còn ở định dạng cho phép con người và phần mềm có thể dễ dàng đọc và sử dụng cho bất kỳ mục đích nào.

Dữ liệu mở là bước đầu tiên cho D-Gov. Muốn có D-Gov thì dữ liệu không thể đóng như quan niệm là chính phủ thì phải đóng mà chính phủ nên mở và chỉ đóng những dữ liệu được coi là bí mật và nhạy cảm.

Báo cáo của WB cũng đánh giá mức độ sẵn sàng về dữ liệu mở của Việt Nam nhằm hỗ trợ Chính phủ xác định các hành động cần thiết để xây dựng sáng kiến dữ liệu mở. Phạm vi phân tích tập trung vào tám lĩnh vực, bao gồm (1) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (2) Khung chính sách/pháp lý; (3) Cấu trúc thể chế; (4) Chính sách quản lý dữ liệu; (5) Nhu cầu về dữ liệu mở và yêu cầu của công dân; (6) Sự tham gia của cộng đồng; (7) Nguồn lực tài chính; và (8) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và kỹ năng quốc gia.

Cùng thang điểm từ 1-5 thì lĩnh vực 1, 3, 4, và 5 được đánh giá ở mức trung bình (3 điểm), lĩnh vực “Khung chính sách/pháp lý” ở dưới mức trung bình (3 điểm), trong khi lĩnh vực 6 và 7 đạt điểm 4 và điều bất ngờ nhất là lĩnh vực 8 - nền tảng công nghệ - đạt cao nhất (5 điểm), báo cáo WB cho hay.

Có thể nói ở tầm vĩ mô, các lãnh đạo có cam kết khá rõ ràng về dữ liệu mở, sự am hiểu của dân chúng, công nghệ (hạ tầng) đã sẵn sàng nhưng có gì đó ở phần trung gian chưa được chuyển dịch như tiềm năng của quốc gia.

Một đất nước năm 2000 chỉ có khoảng 200.000 tài khoản Internet thì nay đã có hơn một nửa trong tổng dân số khoảng 95 triệu người đang dùng Internet.

Thêm vào đó, hơn 50 triệu tài khoản Facebook có tại Việt Nam là một con số minh chứng cho nhu cầu dữ liệu mở và D-Gov. Xu hướng dữ liệu mở và chính phủ số cho nền kinh tế số là không thể đảo chiều. Vấn đề chỉ là thời gian nào mà thôi.

Nhiều nhà kinh tế và cả báo cáo WB cho hay, đơn giá của dịch vụ số rẻ hơn đáng kể, nếu tương tác trực tiếp có đơn giá là 50 thì qua thư tín đơn giá còn 30, dùng điện thoại là 20 nhưng phương tiện số chỉ còn 1. Chọn đơn giá 50 hay đơn giá 1 thì có lẽ từ dân tới quan ai cũng biết đâu là giải pháp.

Lãnh đạo quốc gia, báo chí nói nhiều đến cách mạng công nghiệp 4.0, chính phủ thông minh, quốc gia khởi nghiệp. Tất cả những điều đó chỉ xảy ra nếu có E-Gov, D-Gov và O-Gov được kiểm soát và phát triển có lộ trình, có chất lượng dịch vụ công cao hơn mà giá thành lại giảm nhờ vào những con số bit và byte biết nói. 

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Từ E-Gov đến D-Gov và O-Gov

Hiệu Minh
Thứ Sáu,  1/2/2019, 15:13 

Từ E-Gov đến D-Gov và O-Gov

Hiệu Minh

(TBKTSG) - Ai cũng nghĩ E-Government (E-Gov - chính phủ điện tử) là tin học hóa và coi như đã số hóa nhưng E-Gov chỉ là bước đệm cho Digital Government (D-Gov - chính phủ số) và tiến tới O-Gov (Open Government - chính phủ mở).

Chính phủ được coi là E-Gov nếu các hoạt động được ứng dụng ICT (công nghệ thông tin - truyền thông) cho công việc vận hành nhà nước hiệu quả hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp cũng như người dân cùng tham gia quản lý nhà nước. E-Gov giúp cho chính phủ tới gần dân và ngược lại, thông qua những hoạt động được minh bạch từ kế hoạch đến chi tiêu, đạt hiệu quả trong quản lý và phục vụ dân.

Các chính phủ trên thế giới đều đương đầu với các thách thức làm sao nâng cao chất lượng phục vụ cao nhất trong hành chính công nhưng tiết kiệm ngân sách một cách tối đa. E-Gov giúp thực hiện mục tiêu này một cách hiệu quả.

Các quốc gia như Anh, Hàn Quốc, Singapore đã có E-Gov hàng thập kỷ và nay đang bàn về D-Gov được dựng trên nền tảng E-Gov. Từ chữ “E” đến chữ “D” là một bước tiến khác - là mọi kênh dịch vụ công phải được số hóa một cách ngầm định “digital by default”.

Ai từng xin visa đi EU hay Mỹ sẽ có cảm nhận về các dịch vụ được số hóa như thế nào; từ bước khai hồ sơ, cung cấp bản sao hộ chiếu, ảnh, chứng minh khả năng tài chính, nộp phí, đến hẹn ngày phỏng vấn... đều được làm trên mạng, trừ việc đến phỏng vấn thì bắt buộc phải gặp nhân viên của lãnh sự để đảm bảo người khai và người xin đi là một.

Các D-Gov dẫn đầu đang lập kế hoạch số hóa hoàn toàn các dịch vụ như kiểu cấp visa nói trên thông qua việc từ nâng cấp hạ tầng ICT đến coi người dùng dịch vụ là trung tâm.

Các công ty thành công do coi khách hàng là thượng đế nên luôn cải tiến dịch vụ tiện lợi trong giao dịch. Chính phủ coi dân đóng thuế là thượng đế sẽ cố làm như các công ty, tạo thuận lợi thông qua số hóa dịch vụ sẽ làm dân hài lòng vì tiền thuế của họ được dùng đúng mục đích.

D-Gov Việt Nam

Ngày 17-1-2019, Văn phòng Chính phủ phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức sáng kiến Việt Nam tổ chức Hội thảo chia sẻ kết quả đánh giá mức độ sẵn sàng về D-Gov và dữ liệu mở. Đánh giá này nằm trong khuôn khổ hỗ trợ kỹ thuật của WB và Úc để thúc đẩy tiến trình E-Gov ở Việt Nam một cách hiệu quả và thiết thực.

Báo cáo của WB đánh giá những thuận lợi, thách thức của từng lĩnh vực và chỉ ra một khuôn khổ hành động giúp cho E-Gov, D-Gov và tiến tới O-Gov dựa trên nền tảng dữ liệu mở.

Theo khảo sát E-Gov index của Liên hiệp quốc năm 2018, Việt Nam hiện đứng thứ 88 về E-Gov trong tổng số hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ, chỉ tăng một hạng (89) so với năm 2016, như vậy chỉ là trung bình.

Trong khi đó, báo cáo của WB tại hội thảo đánh giá mức độ sẵn sàng của Việt Nam từ 1 (thấp nhất) đến 5 (cao nhất) trong bảy lĩnh vực. Theo đó, chỉ số “Lãnh đạo và quản trị”, “Lấy người dùng làm trung tâm”, “Sử dụng dữ liệu để hoạch định và thực hiện chính sách”, “An ninh mạng, quyền riêng tư và khả năng phục hồi” cùng đạt 3 điểm, trong khi chỉ số “Thay đổi quy trình làm việc”, “Năng lực, tập quán văn hóa và kỹ năng”, “Cơ sở hạ tầng dùng chung” chỉ đạt 2 điểm. Đánh giá này khá nhất quán với thang điểm của Liên hiệp quốc về E-Gov.

Đánh giá của WB cũng nhìn nhận, ở tầm vĩ mô, lãnh đạo quốc gia luôn thể hiện cam kết chính sách mạnh mẽ đối với xu hướng chuyển dịch toàn cầu sang cuộc cách mạng công nghệ 4.0, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật có tính nền tảng để phát triển chính phủ số.

Thách thức chính trong phát triển D-Gov là việc thiếu khuôn khổ điều phối và phối hợp giữa các cơ quan và các sáng kiến khác nhau, dù đã có các hội đồng giám đốc công nghệ thông tin của cơ quan nhà nước ở cả cấp trung ương và địa phương, nhưng không có vị trí giám đốc công nghệ thông tin cho toàn chính phủ, một vị trí mà các quốc gia có E-Gov thường có.

Ngoài ra, sự thiếu hụt về khả năng tài chính cũng như kỹ năng trong khu vực nhà nước là những thách thức khác. Chưa kể các tài năng hàng đầu đang chủ yếu làm việc trong khu vực tư nhân với mức lương cao hơn, khiến cho việc thu hút và giữ chân họ trong các cơ quan của chính phủ là rất khó khăn, báo cáo chỉ rõ.

Dữ liệu mở cho O-Gov

Dữ liệu mở là khái niệm không mới, đã được những chính phủ có E-Gov như Anh và Singapore đưa ra từ cuối thập niên 2000. Đó là chính sách mà chính phủ cho phép công khai dữ liệu, với rất ít hạn chế truy cập, một số dữ liệu còn ở định dạng cho phép con người và phần mềm có thể dễ dàng đọc và sử dụng cho bất kỳ mục đích nào.

Dữ liệu mở là bước đầu tiên cho D-Gov. Muốn có D-Gov thì dữ liệu không thể đóng như quan niệm là chính phủ thì phải đóng mà chính phủ nên mở và chỉ đóng những dữ liệu được coi là bí mật và nhạy cảm.

Báo cáo của WB cũng đánh giá mức độ sẵn sàng về dữ liệu mở của Việt Nam nhằm hỗ trợ Chính phủ xác định các hành động cần thiết để xây dựng sáng kiến dữ liệu mở. Phạm vi phân tích tập trung vào tám lĩnh vực, bao gồm (1) Cam kết của lãnh đạo cấp cao; (2) Khung chính sách/pháp lý; (3) Cấu trúc thể chế; (4) Chính sách quản lý dữ liệu; (5) Nhu cầu về dữ liệu mở và yêu cầu của công dân; (6) Sự tham gia của cộng đồng; (7) Nguồn lực tài chính; và (8) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và kỹ năng quốc gia.

Cùng thang điểm từ 1-5 thì lĩnh vực 1, 3, 4, và 5 được đánh giá ở mức trung bình (3 điểm), lĩnh vực “Khung chính sách/pháp lý” ở dưới mức trung bình (3 điểm), trong khi lĩnh vực 6 và 7 đạt điểm 4 và điều bất ngờ nhất là lĩnh vực 8 - nền tảng công nghệ - đạt cao nhất (5 điểm), báo cáo WB cho hay.

Có thể nói ở tầm vĩ mô, các lãnh đạo có cam kết khá rõ ràng về dữ liệu mở, sự am hiểu của dân chúng, công nghệ (hạ tầng) đã sẵn sàng nhưng có gì đó ở phần trung gian chưa được chuyển dịch như tiềm năng của quốc gia.

Một đất nước năm 2000 chỉ có khoảng 200.000 tài khoản Internet thì nay đã có hơn một nửa trong tổng dân số khoảng 95 triệu người đang dùng Internet.

Thêm vào đó, hơn 50 triệu tài khoản Facebook có tại Việt Nam là một con số minh chứng cho nhu cầu dữ liệu mở và D-Gov. Xu hướng dữ liệu mở và chính phủ số cho nền kinh tế số là không thể đảo chiều. Vấn đề chỉ là thời gian nào mà thôi.

Nhiều nhà kinh tế và cả báo cáo WB cho hay, đơn giá của dịch vụ số rẻ hơn đáng kể, nếu tương tác trực tiếp có đơn giá là 50 thì qua thư tín đơn giá còn 30, dùng điện thoại là 20 nhưng phương tiện số chỉ còn 1. Chọn đơn giá 50 hay đơn giá 1 thì có lẽ từ dân tới quan ai cũng biết đâu là giải pháp.

Lãnh đạo quốc gia, báo chí nói nhiều đến cách mạng công nghiệp 4.0, chính phủ thông minh, quốc gia khởi nghiệp. Tất cả những điều đó chỉ xảy ra nếu có E-Gov, D-Gov và O-Gov được kiểm soát và phát triển có lộ trình, có chất lượng dịch vụ công cao hơn mà giá thành lại giảm nhờ vào những con số bit và byte biết nói. 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.