Mobile

Giải pháp blockchain cho chuỗi cung ứng
Thứ Hai,  4/2/2019, 07:11 
Thùy Dung

Giải pháp blockchain cho chuỗi cung ứng

Thùy Dung

(TBVTSG) - Sự phức tạp, nhiều tầng nấc trong chuỗi cung ứng và dịch vụ hậu cần đang buộc các doanh nghiệp trong ngành này đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ blockchain để giải quyết những sự bất hợp lý, giảm chi phí hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh.

Những động thái gần đây của các tập đoàn toàn cầu cho thấy xu hướng dịch chuyển mới, trong đó có việc ứng dụng blockchain trong chuỗi cung ứng (supply chain) và dịch vụ hậu cần (logistics) để hoạt động hiệu quả hơn.

Các đại công ty nhập cuộc

Công nghệ blockchain đang được ứng dụng ngày càng nhiều trong chuỗi cung ứng và dịch vụ hậu cần. Ảnh: Thùy Dung

Nhằm đơn giản hóa cũng như kiểm soát chính xác được chuỗi cung ứng sản phẩm, tập đoàn điện tử hàng đầu thế giới Samsung mới đây đã thông báo kế hoạch chuyển đổi sang mô hình blockchain trong chuỗi logistics.

Theo trang digiday.com, dự kiến dự án mới của Samsung, do Samsung SDS - công ty con của tập đoàn thực hiện, sẽ ra mắt trong tháng 1 này. Theo đó, việc sử dụng blockchain trong logistics giúp tập đoàn này chủ động kiểm soát được chuỗi cung ứng, cũng như sớm phát hiện và giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình vận chuyển sản phẩm. Samsung hiện đang hợp tác với 29 công ty khác nhau nhằm xử lý hậu cần việc vận chuyển một container đồng hồ thông minh Samsung G3 từ châu Á đến châu Âu. Samsung hy vọng blockchain sẽ giúp tập đoàn này cắt giảm số lượng các đối tác logistics thông qua số hóa danh sách hàng hóa được vận chuyển.

Theo digiday.com, sau khi có kết quả thử nghiệm vào khoảng tháng 2 tới đây, tập đoàn này sẽ quyết định liệu có mở rộng việc ứng dụng blockchain trong chuỗi logistics của mình hay không. Nếu thành công, Samsung có thể trở thành một trong những doanh nghiệp tiên phong ứng dụng công nghệ này.

Không chỉ Samsung, nhiều tập đoàn toàn cầu khác cũng đang từng bước ứng dụng blockchain trong chuỗi dịch vụ hậu cần của họ. Gần đây, IBM đã giới thiệu dịch vụ blockchain Food Trust nhằm theo dõi quá trình vận chuyển thực phẩm từ trang trại đến cửa hàng và hợp tác với Walmart để đảm bảo chất lượng sản phẩm của công ty. Thông thường, Walmart sẽ mất khoảng sáu ngày để xác định một lô xoài bị hỏng nhưng giờ đây thời gian đã giảm xuống chỉ còn 2,2 giây nhờ công nghệ blockchain, theo IBM.

Trước đây, công việc quản lý chuỗi cung ứng thường khá đơn giản vì thương mại thường chỉ có tính chất địa phương, trong mỗi quốc gia. Nhưng từ khi có các chính sách toàn cầu hóa, thương mại toàn cầu đã thay đổi, kéo theo sự thay đổi của dịch vụ hậu cần. Ví dụ, để sản xuất các sản phẩm, các nhà máy đặt tại Việt Nam phải nhập khẩu các linh kiện và nguyên vật liệu của các nhà cung cấp từ các nước khác. Sau khi sản xuất, các sản phẩm lại được phân phối đến người tiêu dùng trên toàn cầu. Do đó, quản lý chuỗi cung ứng ngày càng trở nên phức tạp và khó khăn.

Tùy thuộc vào từng loại hình sản phẩm, việc thực hiện mỗi chuỗi cung ứng có thể cần đến hàng trăm bước, qua những vị trí địa lý và quốc gia khác nhau, nhiều khâu thanh toán, chứng từ và giấy tờ hải quan. Hơn nữa, trách nhiệm quản lý chuỗi cung ứng này liên quan tới nhiều tổ chức và cá nhân khác nhau. Vì thế, quy trình logistics của một sản phẩm có thể kéo dài đến hàng tháng, làm tăng chi phí và thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.

Theo TS. Nguyễn Văn Tăng, thuộc Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, chính vì sự phức tạp và thiếu tính minh bạch trong hệ thống quản lý chuỗi cung ứng, công nghệ blockchain đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu và ứng dụng trong dịch vụ hậu cần thời gian gần đây.

Dùng blockchain cho việc lưu trữ và thực thi hợp đồng

Blockchain có thể được ứng dụng trong chuỗi logistics như sau:

• Tính đồng thuận (consensus): Tất cả các thực thể (cơ quan, doanh nghiệp) trong chuỗi đồng ý với nhau rằng, mỗi giao dịch đều là hợp lệ và có giá trị. Với chuỗi cung ứng, mỗi giao dịch có thể là thanh toán (payment), dịch vụ kho vận (warehousing), vận tải (transport) hoặc giao hàng (delivery).
• Tính minh chứng được (provenance): Các thực thể trong chuỗi biết được mỗi tài sản số có nguồn gốc từ đâu. Họ cũng biết được ai đã sở hữu nó trong quá khứ và ai đang sở hữu tài sản đó ở thời điểm hiện tại. Với chuỗi cung ứng, tài sản số có thể là bất cứ thứ gì trong quá trình vận chuyển, từ các mỏ quặng sắt, lúa mì, máy móc thiết bị...
• Tính không thể thay đổi được (immutability): Không có thực thể nào có thể giả mạo một nội dung trong cuốn sổ cái phân tán. Các thanh toán cho chuỗi cung ứng không thể bị làm giả, cũng như không ai có thể làm giả báo cáo về tồn kho, điều kiện của kho lưu trữ, thời gian và ngày tháng giao nhận hàng…
• Tính chung cuộc (finality): Các bản sao của cuốn sổ cái chung có cùng phiên bản chứa đựng các nội dung và sự thật giống nhau.

Blockchain là công nghệ đã tạo ra đồng tiền bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác như ethereum, ripple… Tuy nhiên, những ứng dụng của blockchain không chỉ dừng lại ở các ứng dụng lưu trữ và trao đổi giao dịch tiền tệ mà còn được ứng dụng cho nhiều loại giao dịch, thỏa thuận, truy xuất và giám sát khác. Blockchain có thể được hiểu như một cuốn sổ cái kỹ thuật số được lưu trữ phân tán. Cuốn sổ cái này lưu trữ các giao dịch trong một chuỗi các khối (block). Nó được nhân bản và phát tán vào nhiều máy tính và mỗi máy tính như vậy được gọi là một node. Cuốn sổ cái này bảo đảm sự an toàn (secure) bởi mỗi block các giao dịch mới sẽ được xâu chuỗi kết nối trực tiếp với block trước đó nên việc thay đổi hay giả mạo là bất khả thi.

Theo vị đại diện Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia, ứng dụng blockchain trong lĩnh vực chuỗi cung ứng không đơn thuần chỉ thực hiện các giao dịch thanh toán. Phần lớn blockchain được ứng dụng trong dịch vụ logistics thông qua thực hiện các hợp đồng thông minh (smart contracts), tức sử dụng blockchain để lưu trữ và thực thi hợp đồng. Một khi hợp đồng loại này được lưu trữ bằng công nghệ blockchain, các nội dung sẽ không thể tự ý thay đổi theo ý muốn của bất kỳ một bên nào.

Vì thế, hợp đồng thông minh sẽ thực thi các chức năng chính xác như nó đã được lập trình. Không có sự giả mạo hay can thiệp nào có thể tác động đến hợp đồng thông minh. Một hợp đồng thông minh có thể nhận thông tin đầu vào từ sổ cái và tự động thực thi các điều khoản của hợp đồng. Ví dụ, nếu việc chi trả được thực hiện, hợp đồng thông minh sẽ kích hoạt để xúc tiến giao hàng.

Hoặc nếu một điều kiện của hợp đồng bị vi phạm (ví dụ, như thời gian giao hàng hoặc điều kiện về bảo quản không tốt), hợp đồng thông minh có thể kích hoạt việc xử phạt.

“Các bên trung gian thứ ba sẽ không còn cần thiết. Việc kiểm tra thủ công các điều kiện có thể được loại bỏ”, ông Tăng nói. Ông cho biết thêm, chi phí và thời gian sẽ được cắt giảm bởi một phần mềm chạy tự động, sử dụng thông tin đầu vào được đảm bảo đúng đắn và chính xác bởi blockchain.

Giải pháp hữu hiệu từ blockchain

Nằm ở trung tâm khu vực châu Á–Thái Bình Dương, trên tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, Việt Nam là quốc gia có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý rất thuận lợi để phát triển dịch vụ logistics. Cùng với tiến trình mở cửa và hội nhập, lượng hàng hoá sản xuất, lưu thông trong nước và xuất nhập khẩu trong những năm qua tăng trưởng mạnh mẽ. Đây là tiền đề và động lực thúc đẩy phát triển dịch vụ logistics.

Theo bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về chỉ số hoạt động logistics, công bố tháng 7-2018, Việt Nam đứng thứ 39 trong 160 quốc gia tham gia nghiên cứu, tăng 25 bậc so với năm 2016, đứng thứ 3 trong số các nước ASEAN. Thứ trưởng Bộ Công Thương, ông Cao Quốc Hùng, cho hay hiện cả nước có khoảng 3.000 doanh nghiệp dịch vụ logistics. Đây là con số khá lớn, song các doanh nghiệp này chủ yếu có quy mô nhỏ, tới 90% số doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 10 tỉ đồng, 5% có mức vốn từ 10 đến 20 tỉ đồng, còn lại 5% có vốn từ 20 tỉ đồng trở lên. Trong khi đó, số doanh nghiệp logistics tham gia Hiệp hội Doanh nghiệp logistics trong nước mới chỉ có trên 360 doanh nghiệp. “Điều đó cho thấy tính liên kết của doanh nghiệp Việt Nam còn thấp, đa số vẫn hoạt động một cách đơn lẻ”, ông Hùng nói.

Chính vì thiếu tính liên kết nên chi phí logistics của Việt Nam còn cao, chưa hình thành được nhà cung cấp dịch vụ logistics tích hợp 4PL (Fourth Party Logistics), tức là sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp đơn lẻ để tạo nên một dịch vụ chung, khép kín hầu hết các khâu trong chuỗi cung ứng. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), tổng chi phí logistics của Việt Nam năm 2016 là 40,3 tỉ đô la Mỹ, tương đương 20% tổng sản phẩm nội địa (GDP). Chi phí vận tải cao cũng là một yếu tố tác động đến chi phí logistics trong nước, chiếm 30-40% giá thành sản phẩm, trong khi tỷ lệ này ở các quốc gia khác chỉ là khoảng 15%. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước đang phải chịu chi phí cao, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Còn doanh nghiệp logistics thì tăng trưởng chậm, khó vươn xa ra thị trường quốc tế.

Theo kết quả đánh giá của Ngân hàng Thế giới, ngành logistics của Việt Nam vẫn nằm trong số quốc gia có cước phí vận tải đắt so với khu vực và thế giới. Ngân hàng Thế giới cho rằng “Chi phí vận chuyển logistics tính theo tỷ trọng GDP là khoảng 18-20%, gần gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và cao hơn 4% mức bình quân toàn cầu”.

Do đó, ứng dụng công nghệ được cho là một giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, song nền tảng công nghệ của doanh nghiệp logistics hiện đang ở trình độ rất thấp. Theo Bộ Công Thương, đa phần các doanh nghiệp logistics Việt Nam là những doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ, vốn ít.

Trong khi đó, các sản phẩm công nghệ, phần mềm trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp logistics của nước ngoài thường có chi phí rất cao, trung bình cần tối thiểu 100.000 đô la Mỹ để triển khai phần mềm quản trị doanh nghiệp SAP. Điều này dẫn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và phát triển thị trường của doanh nghiệp nội chưa được cao, khó cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài.     

Dung lượng thị trường logistics toàn cầu là rất lớn. Trong năm 2017, giá trị thị trường logistics ước đạt khoảng 9.000 tỉ đô la Mỹ, trong đó bốn công ty lớn nhất thế giới là Ceva Logistics, DHL, FedEx, và UPS chiếm 15% tổng doanh thu toàn cầu. Sự tăng trưởng nhanh chóng của thương mại điện tử và ngành công nghiệp tự động hóa là những yếu tố chính thúc đẩy thị trường logistics toàn cầu trong năm 2017. Các lĩnh vực sử dụng dịch vụ logistics trên quy mô lớn trên toàn cầu bao gồm: bán lẻ, vận tải, sản xuất, truyền thông, giải trí, ngân hàng và tài chính, viễn thông và hoạt động của chính phủ (các tiện ích công cộng). Xu hướng liên kết chéo giữa các ngành công nghiệp trong lĩnh vực logistics đã hình thành trong những năm gần đây. Theo các chuyên gia, lĩnh vực logistics thế giới sẽ chuyển dịch trọng tâm về các thị trường đang phát triển tại châu Á. Đầu tư vào công nghệ, trong đó có công nghệ blockchain, sẽ trở thành xu hướng chính trong ngành logistics trong thời gian tới.

Theo ông Nguyễn Văn Tăng, gần đây, một số doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ của Việt Nam như Công ty TomoChain , Kambaria, Kyber Network… đã xây dựng những nền tảng blockchain hoạt động hiệu quả, thu hút được sự quan tâm và đầu tư lớn của cộng đồng blockchain trên toàn thế giới. Vì thế, đây là một cơ hội cho Việt Nam đón đầu ứng dụng công nghệ blockchain cho các dịch vụ cung ứng và hậu cần nhằm cắt giảm các chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, giúp các doanh nghiệp logistics Việt Nam cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Để làm được việc này, vị đại diện Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia cho rằng Chính phủ cần hỗ trợ cả về chính sách và nguồn lực để nghiên cứu, phát triển các phần mềm, hệ thống thông tin phục vụ lĩnh vực cung ứng và hậu cần dựa trên các công nghệ mới như công nghệ blockchain, công nghệ nhận dạng và xử lý hình ảnh, trí tuệ nhân tạo.

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Giải pháp blockchain cho chuỗi cung ứng

Thùy Dung
Thứ Hai,  4/2/2019, 07:11 

Giải pháp blockchain cho chuỗi cung ứng

Thùy Dung

(TBVTSG) - Sự phức tạp, nhiều tầng nấc trong chuỗi cung ứng và dịch vụ hậu cần đang buộc các doanh nghiệp trong ngành này đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ blockchain để giải quyết những sự bất hợp lý, giảm chi phí hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh.

Những động thái gần đây của các tập đoàn toàn cầu cho thấy xu hướng dịch chuyển mới, trong đó có việc ứng dụng blockchain trong chuỗi cung ứng (supply chain) và dịch vụ hậu cần (logistics) để hoạt động hiệu quả hơn.

Các đại công ty nhập cuộc

Công nghệ blockchain đang được ứng dụng ngày càng nhiều trong chuỗi cung ứng và dịch vụ hậu cần. Ảnh: Thùy Dung

Nhằm đơn giản hóa cũng như kiểm soát chính xác được chuỗi cung ứng sản phẩm, tập đoàn điện tử hàng đầu thế giới Samsung mới đây đã thông báo kế hoạch chuyển đổi sang mô hình blockchain trong chuỗi logistics.

Theo trang digiday.com, dự kiến dự án mới của Samsung, do Samsung SDS - công ty con của tập đoàn thực hiện, sẽ ra mắt trong tháng 1 này. Theo đó, việc sử dụng blockchain trong logistics giúp tập đoàn này chủ động kiểm soát được chuỗi cung ứng, cũng như sớm phát hiện và giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình vận chuyển sản phẩm. Samsung hiện đang hợp tác với 29 công ty khác nhau nhằm xử lý hậu cần việc vận chuyển một container đồng hồ thông minh Samsung G3 từ châu Á đến châu Âu. Samsung hy vọng blockchain sẽ giúp tập đoàn này cắt giảm số lượng các đối tác logistics thông qua số hóa danh sách hàng hóa được vận chuyển.

Theo digiday.com, sau khi có kết quả thử nghiệm vào khoảng tháng 2 tới đây, tập đoàn này sẽ quyết định liệu có mở rộng việc ứng dụng blockchain trong chuỗi logistics của mình hay không. Nếu thành công, Samsung có thể trở thành một trong những doanh nghiệp tiên phong ứng dụng công nghệ này.

Không chỉ Samsung, nhiều tập đoàn toàn cầu khác cũng đang từng bước ứng dụng blockchain trong chuỗi dịch vụ hậu cần của họ. Gần đây, IBM đã giới thiệu dịch vụ blockchain Food Trust nhằm theo dõi quá trình vận chuyển thực phẩm từ trang trại đến cửa hàng và hợp tác với Walmart để đảm bảo chất lượng sản phẩm của công ty. Thông thường, Walmart sẽ mất khoảng sáu ngày để xác định một lô xoài bị hỏng nhưng giờ đây thời gian đã giảm xuống chỉ còn 2,2 giây nhờ công nghệ blockchain, theo IBM.

Trước đây, công việc quản lý chuỗi cung ứng thường khá đơn giản vì thương mại thường chỉ có tính chất địa phương, trong mỗi quốc gia. Nhưng từ khi có các chính sách toàn cầu hóa, thương mại toàn cầu đã thay đổi, kéo theo sự thay đổi của dịch vụ hậu cần. Ví dụ, để sản xuất các sản phẩm, các nhà máy đặt tại Việt Nam phải nhập khẩu các linh kiện và nguyên vật liệu của các nhà cung cấp từ các nước khác. Sau khi sản xuất, các sản phẩm lại được phân phối đến người tiêu dùng trên toàn cầu. Do đó, quản lý chuỗi cung ứng ngày càng trở nên phức tạp và khó khăn.

Tùy thuộc vào từng loại hình sản phẩm, việc thực hiện mỗi chuỗi cung ứng có thể cần đến hàng trăm bước, qua những vị trí địa lý và quốc gia khác nhau, nhiều khâu thanh toán, chứng từ và giấy tờ hải quan. Hơn nữa, trách nhiệm quản lý chuỗi cung ứng này liên quan tới nhiều tổ chức và cá nhân khác nhau. Vì thế, quy trình logistics của một sản phẩm có thể kéo dài đến hàng tháng, làm tăng chi phí và thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.

Theo TS. Nguyễn Văn Tăng, thuộc Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, chính vì sự phức tạp và thiếu tính minh bạch trong hệ thống quản lý chuỗi cung ứng, công nghệ blockchain đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu và ứng dụng trong dịch vụ hậu cần thời gian gần đây.

Dùng blockchain cho việc lưu trữ và thực thi hợp đồng

Blockchain có thể được ứng dụng trong chuỗi logistics như sau:

• Tính đồng thuận (consensus): Tất cả các thực thể (cơ quan, doanh nghiệp) trong chuỗi đồng ý với nhau rằng, mỗi giao dịch đều là hợp lệ và có giá trị. Với chuỗi cung ứng, mỗi giao dịch có thể là thanh toán (payment), dịch vụ kho vận (warehousing), vận tải (transport) hoặc giao hàng (delivery).
• Tính minh chứng được (provenance): Các thực thể trong chuỗi biết được mỗi tài sản số có nguồn gốc từ đâu. Họ cũng biết được ai đã sở hữu nó trong quá khứ và ai đang sở hữu tài sản đó ở thời điểm hiện tại. Với chuỗi cung ứng, tài sản số có thể là bất cứ thứ gì trong quá trình vận chuyển, từ các mỏ quặng sắt, lúa mì, máy móc thiết bị...
• Tính không thể thay đổi được (immutability): Không có thực thể nào có thể giả mạo một nội dung trong cuốn sổ cái phân tán. Các thanh toán cho chuỗi cung ứng không thể bị làm giả, cũng như không ai có thể làm giả báo cáo về tồn kho, điều kiện của kho lưu trữ, thời gian và ngày tháng giao nhận hàng…
• Tính chung cuộc (finality): Các bản sao của cuốn sổ cái chung có cùng phiên bản chứa đựng các nội dung và sự thật giống nhau.

Blockchain là công nghệ đã tạo ra đồng tiền bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác như ethereum, ripple… Tuy nhiên, những ứng dụng của blockchain không chỉ dừng lại ở các ứng dụng lưu trữ và trao đổi giao dịch tiền tệ mà còn được ứng dụng cho nhiều loại giao dịch, thỏa thuận, truy xuất và giám sát khác. Blockchain có thể được hiểu như một cuốn sổ cái kỹ thuật số được lưu trữ phân tán. Cuốn sổ cái này lưu trữ các giao dịch trong một chuỗi các khối (block). Nó được nhân bản và phát tán vào nhiều máy tính và mỗi máy tính như vậy được gọi là một node. Cuốn sổ cái này bảo đảm sự an toàn (secure) bởi mỗi block các giao dịch mới sẽ được xâu chuỗi kết nối trực tiếp với block trước đó nên việc thay đổi hay giả mạo là bất khả thi.

Theo vị đại diện Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia, ứng dụng blockchain trong lĩnh vực chuỗi cung ứng không đơn thuần chỉ thực hiện các giao dịch thanh toán. Phần lớn blockchain được ứng dụng trong dịch vụ logistics thông qua thực hiện các hợp đồng thông minh (smart contracts), tức sử dụng blockchain để lưu trữ và thực thi hợp đồng. Một khi hợp đồng loại này được lưu trữ bằng công nghệ blockchain, các nội dung sẽ không thể tự ý thay đổi theo ý muốn của bất kỳ một bên nào.

Vì thế, hợp đồng thông minh sẽ thực thi các chức năng chính xác như nó đã được lập trình. Không có sự giả mạo hay can thiệp nào có thể tác động đến hợp đồng thông minh. Một hợp đồng thông minh có thể nhận thông tin đầu vào từ sổ cái và tự động thực thi các điều khoản của hợp đồng. Ví dụ, nếu việc chi trả được thực hiện, hợp đồng thông minh sẽ kích hoạt để xúc tiến giao hàng.

Hoặc nếu một điều kiện của hợp đồng bị vi phạm (ví dụ, như thời gian giao hàng hoặc điều kiện về bảo quản không tốt), hợp đồng thông minh có thể kích hoạt việc xử phạt.

“Các bên trung gian thứ ba sẽ không còn cần thiết. Việc kiểm tra thủ công các điều kiện có thể được loại bỏ”, ông Tăng nói. Ông cho biết thêm, chi phí và thời gian sẽ được cắt giảm bởi một phần mềm chạy tự động, sử dụng thông tin đầu vào được đảm bảo đúng đắn và chính xác bởi blockchain.

Giải pháp hữu hiệu từ blockchain

Nằm ở trung tâm khu vực châu Á–Thái Bình Dương, trên tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, Việt Nam là quốc gia có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý rất thuận lợi để phát triển dịch vụ logistics. Cùng với tiến trình mở cửa và hội nhập, lượng hàng hoá sản xuất, lưu thông trong nước và xuất nhập khẩu trong những năm qua tăng trưởng mạnh mẽ. Đây là tiền đề và động lực thúc đẩy phát triển dịch vụ logistics.

Theo bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về chỉ số hoạt động logistics, công bố tháng 7-2018, Việt Nam đứng thứ 39 trong 160 quốc gia tham gia nghiên cứu, tăng 25 bậc so với năm 2016, đứng thứ 3 trong số các nước ASEAN. Thứ trưởng Bộ Công Thương, ông Cao Quốc Hùng, cho hay hiện cả nước có khoảng 3.000 doanh nghiệp dịch vụ logistics. Đây là con số khá lớn, song các doanh nghiệp này chủ yếu có quy mô nhỏ, tới 90% số doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 10 tỉ đồng, 5% có mức vốn từ 10 đến 20 tỉ đồng, còn lại 5% có vốn từ 20 tỉ đồng trở lên. Trong khi đó, số doanh nghiệp logistics tham gia Hiệp hội Doanh nghiệp logistics trong nước mới chỉ có trên 360 doanh nghiệp. “Điều đó cho thấy tính liên kết của doanh nghiệp Việt Nam còn thấp, đa số vẫn hoạt động một cách đơn lẻ”, ông Hùng nói.

Chính vì thiếu tính liên kết nên chi phí logistics của Việt Nam còn cao, chưa hình thành được nhà cung cấp dịch vụ logistics tích hợp 4PL (Fourth Party Logistics), tức là sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp đơn lẻ để tạo nên một dịch vụ chung, khép kín hầu hết các khâu trong chuỗi cung ứng. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), tổng chi phí logistics của Việt Nam năm 2016 là 40,3 tỉ đô la Mỹ, tương đương 20% tổng sản phẩm nội địa (GDP). Chi phí vận tải cao cũng là một yếu tố tác động đến chi phí logistics trong nước, chiếm 30-40% giá thành sản phẩm, trong khi tỷ lệ này ở các quốc gia khác chỉ là khoảng 15%. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước đang phải chịu chi phí cao, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Còn doanh nghiệp logistics thì tăng trưởng chậm, khó vươn xa ra thị trường quốc tế.

Theo kết quả đánh giá của Ngân hàng Thế giới, ngành logistics của Việt Nam vẫn nằm trong số quốc gia có cước phí vận tải đắt so với khu vực và thế giới. Ngân hàng Thế giới cho rằng “Chi phí vận chuyển logistics tính theo tỷ trọng GDP là khoảng 18-20%, gần gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và cao hơn 4% mức bình quân toàn cầu”.

Do đó, ứng dụng công nghệ được cho là một giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, song nền tảng công nghệ của doanh nghiệp logistics hiện đang ở trình độ rất thấp. Theo Bộ Công Thương, đa phần các doanh nghiệp logistics Việt Nam là những doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ, vốn ít.

Trong khi đó, các sản phẩm công nghệ, phần mềm trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp logistics của nước ngoài thường có chi phí rất cao, trung bình cần tối thiểu 100.000 đô la Mỹ để triển khai phần mềm quản trị doanh nghiệp SAP. Điều này dẫn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và phát triển thị trường của doanh nghiệp nội chưa được cao, khó cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài.     

Dung lượng thị trường logistics toàn cầu là rất lớn. Trong năm 2017, giá trị thị trường logistics ước đạt khoảng 9.000 tỉ đô la Mỹ, trong đó bốn công ty lớn nhất thế giới là Ceva Logistics, DHL, FedEx, và UPS chiếm 15% tổng doanh thu toàn cầu. Sự tăng trưởng nhanh chóng của thương mại điện tử và ngành công nghiệp tự động hóa là những yếu tố chính thúc đẩy thị trường logistics toàn cầu trong năm 2017. Các lĩnh vực sử dụng dịch vụ logistics trên quy mô lớn trên toàn cầu bao gồm: bán lẻ, vận tải, sản xuất, truyền thông, giải trí, ngân hàng và tài chính, viễn thông và hoạt động của chính phủ (các tiện ích công cộng). Xu hướng liên kết chéo giữa các ngành công nghiệp trong lĩnh vực logistics đã hình thành trong những năm gần đây. Theo các chuyên gia, lĩnh vực logistics thế giới sẽ chuyển dịch trọng tâm về các thị trường đang phát triển tại châu Á. Đầu tư vào công nghệ, trong đó có công nghệ blockchain, sẽ trở thành xu hướng chính trong ngành logistics trong thời gian tới.

Theo ông Nguyễn Văn Tăng, gần đây, một số doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ của Việt Nam như Công ty TomoChain , Kambaria, Kyber Network… đã xây dựng những nền tảng blockchain hoạt động hiệu quả, thu hút được sự quan tâm và đầu tư lớn của cộng đồng blockchain trên toàn thế giới. Vì thế, đây là một cơ hội cho Việt Nam đón đầu ứng dụng công nghệ blockchain cho các dịch vụ cung ứng và hậu cần nhằm cắt giảm các chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, giúp các doanh nghiệp logistics Việt Nam cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Để làm được việc này, vị đại diện Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia cho rằng Chính phủ cần hỗ trợ cả về chính sách và nguồn lực để nghiên cứu, phát triển các phần mềm, hệ thống thông tin phục vụ lĩnh vực cung ứng và hậu cần dựa trên các công nghệ mới như công nghệ blockchain, công nghệ nhận dạng và xử lý hình ảnh, trí tuệ nhân tạo.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.