Mobile

Động lực tăng trưởng mới
Thứ Năm,  31/1/2019, 09:09 
Vân Ly

Động lực tăng trưởng mới

Vân Ly

(TBVTSG) - Chính phủ đang định hướng phát triển nền kinh tế số thành động lực tăng trưởng mới của Việt Nam, mở ra cơ hội để nước ta có thể theo kịp các nước đang trong giai đoạn phát triển cao hơn.

Những vị đứng đầu của Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển nền kinh tế số trong những sự kiện được tổ chức mới đây. 

DN mòn mỏi chờ chính sách phát triển kinh tế số

Thời của kinh tế số

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm gian hàng giới thiệu sản phẩm của một công ty công nghệ trong nước tại cuộc triển lãm bên lề hội nghị triển khai kế hoạch của Bộ Thông tin và Truyền thông. Ảnh: Xuân Huy

Cơ hội phát triển kinh tế số

Phát biểu tại lễ bế mạc Diễn đàn kinh tế Việt Nam do Chính phủ và Ban Kinh tế Trung ương phối hợp tổ chức trong hai ngày 16 và 17-1 vừa qua tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) cùng với nền kinh tế số sẽ là một xu hướng lớn, mở ra cơ hội để Việt Nam đuổi kịp các nước phát triển. Việt Nam đang có nhiều lợi thế để bắt kịp với dòng chảy chính của nền kinh tế số. Hiện tại có 70% lượng khách thuê bao di động đang sử dụng mạng di động 3G và 4G, 72% dân số Việt Nam sử dụng điện thoại thông minh... Đây là một trong những cơ sở để Việt Nam tự tin về khả năng chuyển đổi thành công từ nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế số.

Cũng trong khuôn khổ của diễn đàn nói trên, tham gia tham luận tại hội thảo chuyên đề “Định hướng phát triển nền kinh tế số trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0: Cơ hội và thách thức cho Việt Nam” diễn ra ngày 17-1, ông Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục Tin học hóa thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, nói Việt Nam phù hợp cho phát triển kinh tế số vì có nhiều người giỏi công nghệ, có hạ tầng viễn thông, Internet phủ rộng…

Trong khi đó, phát biểu tại phiên tổng thể và đối thoại chính sách cấp cao với chủ đề “Kinh tế Việt Nam năm 2018 và triển vọng năm 2019 - Củng cố nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững” trong khuôn khổ diễn đàn kinh tế Việt Nam hôm 17-1, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, nhận định công nghệ số, chuyển đổi số, kinh tế số, kỷ nguyên số là một tiến trình không thể đảo ngược trên thế giới. Đây là một xu thế toàn cầu, ông Hùng nói khi tham gia tham luận với tựa đề “Định hướng phát triển nền kinh tế số thành động lực tăng trưởng mới của Việt Nam”.

“Kinh tế số giúp tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng này là bền vững vì sử dụng tri thức nhiều hơn tài nguyên. Chi phí tham gia kinh tế số thấp hơn nên tạo ra cơ hội cho nhiều người tham gia hơn. Công nghệ số không có biên giới nên sẽ góp phần làm giảm khoảng cách nông thôn và thành thị. Công nghệ số đem lại những cách tiếp cận mới, giải pháp mới để giải quyết hữu hiệu những vấn đề tồn tại lâu dài như ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng”, ông Hùng nói.

Theo Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, kinh tế số đã bắt đầu nhen nhóm hình thành ở Việt Nam từ cuối những năm 1980 với sự xuất hiện của máy tính cá nhân. Nó bắt đầu phát triển mạnh mẽ khi có Internet vào cuối những năm 1990 và trở nên phổ cập khi mật độ điện thoại thông minh đạt trên 50% vào cuối những năm 2000.

Đặc biệt, nền kinh tế số tại Việt Nam được thúc đẩy mạnh mẽ khi làm sóng CMCN 4.0 bắt đầu vào cuối những năm 2010. Ông Hùng cho rằng nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế số chính là các doanh nghiệp số Việt Nam. Dùng công nghệ để giải quyết vấn đề Việt Nam, bài toán Việt Nam và từ cái nôi Việt Nam, các doanh nghiệp công nghệ này sẽ đi ra toàn cầu. Cuộc cách mạng toàn dân khởi nghiệp công nghệ số, phổ cập công nghệ số sẽ giúp Việt Nam số hóa nền kinh tế rất nhanh.

Bên cạnh việc đem lại những vận hội mới, công nghệ số sẽ hình thành những mô hình kinh doanh mới, thay thế mô hình kinh doanh cũ và tạo ra những thách thức mới. Uber đang thách thức taxi truyền thống, fintech thách thức ngân hàng truyền thống. Việc cho phép dùng tài khoản viễn thông di động thanh toán hàng hóa giá trị nhỏ sẽ giải quyết bài toán thanh toán không dùng tiền mặt đến 100% người dân nhưng lại thách thức ngành ngân hàng.

Ông Hùng nói: “Vấn đề của Chính phủ là có chấp nhận những mô hình kinh doanh mới này hay không. Do vậy, nhiều người nói rằng số hóa nền kinh tế là một cuộc cách mạng về chính sách nhiều hơn là cuộc cách mạng về công nghệ”.

Theo Bộ trưởng, những yếu tố mang tính nền tảng để hỗ trợ kinh tế số Việt Nam bao gồm hạ tầng viễn thông, băng thông rộng, tốc độ cao, mỗi người dân có một điện thoại thông minh. Công nghệ di động thế hệ thứ 5 (5G) sẽ xuất hiện ở Việt Nam cùng với thời gian các nước phát triển triển khai nó.

Các chính sách liên quan đến kinh tế số, công nghệ số, Internet phải có tính cạnh tranh toàn cầu để người Việt Nam không phải ra nước ngoài khởi nghiệp công nghệ số, mà còn để người nước ngoài, tài năng toàn cầu về Việt Nam phát triển công nghệ. Cần hình thành thị trường ban đầu của nền kinh tế số cho các doanh nghiệp công nghệ thông qua việc Chính phủ chi tiêu nhiều cho sản phẩm công nghệ số và xây dựng chính phủ điện tử. Điều không kém phần quan trọng là đào tạo nguồn nhân lực.

Song song với việc đào tạo tiếng Anh, công nghệ thông tin từ bậc phổ thông thì phải thực hiện đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng số, năng lực số cho người lao động. Các trường đại học, cao đẳng nên có các khóa chính thức đào tạo lại, đào tạo nâng cao kéo dài từ 6-12 tháng. Đây là cách tốt nhất để giải quyết việc thiếu trầm trọng nhân lực số.

Các mục tiêu cho những năm tới

Trong phần phát biểu tại Hội nghị triển khai kế hoạch năm 2019 của Bộ Thông tin và Truyền thông hôm15-1 vừa qua, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng đang có cơ hội rất lớn cho ngành công nghệ thông tin viễn thông phát triển hơn nữa và Việt Nam cần phải tận dụng được cơ hội đó. “2018 là một năm mà vận nước rất tốt và đây là cơ hội cho Việt Nam. Tất cả các nước thành con hổ đều là do cơ hội đến thì tận dụng được. Vậy đây là lúc mà chúng ta nên tư duy để xác định các vấn đề lớn mang tính nền tảng, chiến lược, tạo nền tảng để phát triển cho cả giai đoạn tới”.

Lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin có tính quốc tế rất cao, thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức quốc tế chuyên về đo lường và xếp hạng. Trong 10 năm qua, thứ hạng của viễn thông công nghệ thông tin của Việt Nam đã tụt dần xuống thứ trên 100, đứng dưới mức trung bình của thế giới. Đã có những mục tiêu được đề ra cho ngành này, trong đó có mục tiêu chậm nhất đến 2022 phải đưa Việt Nam về thứ hạng 30-50.

Để đạt được điều này, trong thời gian tới ông Hùng đặt ra mục tiêu sẽ tập trung cho các lĩnh vực lớn của ngành gồm: Phải phát triển mạng lưới chuyển phát, dịch vụ hậu cần (logistics) để phát triển thương mại điện tử; duy trì tốc độ tăng trưởng hằng năm từ 30-40% để sau năm năm nữa, doanh thu bưu chính Việt Nam sẽ tăng 3-4 lần và đạt 3-4 tỉ đô la Mỹ; các công ty bưu chính lớn, có bộ máy đến cấp huyện, xã có cơ hội tham gia cung cấp dịch vụ công cho các địa phương, giúp các tỉnh nâng cao chất lượng dịch vụ công và giảm biên chế.

Ông Hùng cho rằng hạ tầng viễn thông không chỉ là hạ tầng thông tin liên lạc, mà còn là hạ tầng của kinh tế số, xã hội số, hạ tầng của CMCN 4.0, hạ tầng kết nối vạn vật. Do đó, cần phổ cập điện thoại thông minh và dịch vụ di động băng rộng (4G, 5G) sẽ thay cho phổ cập điện thoại. Phổ cập điện thoại thông minh là nền tảng để đưa các ứng dụng đến mọi người dân.

Việc triển khai dịch vụ 5G là nhằm tăng dung lượng, chất lượng mạng di động băng rộng. Trong thời gian tới, sẽ thí điểm dịch vụ thanh toán di động, cho phép chuyển tiền, mua sắm thông qua tài khoản viễn thông, giúp thanh toán điện tử đến được mọi người dân, dù ở bất kỳ đâu, sẽ kích thích kinh tế tăng trưởng.

“Các lĩnh vực chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số chính phủ điện tử, thành phố thông minh sẽ là những câu chuyện lớn của năm 2019 và bao trùm trong nhiều thập kỷ tới. Cần xây dựng chiến lược, đề án trong năm 2019, làm rõ kinh tế số, CMCN 4.0 trong từng lĩnh vực thì phải làm gì”, ông Hùng nhấn mạnh. Ông cũng cho biết trong ASEAN thì Việt Nam đang đi chậm nhất về phát triển kinh tế số.

Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, việc đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong Chính phủ, từ các cơ quan Trung ương tới địa phương, đòi hỏi trong phân bổ ngân sách phải có hạng mục chi cho lĩnh vực này. Ngoài ra, cần sửa đổi các quy định về dự án, thuê dịch vụ công nghệ thông tin. Các doanh nghiệp CNTT lớn có thể đầu tư vào các dự án CNTT nền tảng và Chính phủ thuê lại dịch vụ và khi có ngân sách đầu tư thì có thể mua lại.

Ông Hùng cho rằng, Việt Nam đang có cơ hội trở thành nhà sản xuất thiết bị điện tử viễn thông lớn. Bởi vì thế giới về cơ bản chỉ còn bốn công ty sản xuất thiết bị hạ tầng viễn thông, gồm: Ericsson, Nokia, Huawei và ZTE.

Trung Quốc chiếm tới trên 60% thị trường, nhưng lại đang gặp khó khăn với Mỹ. Việt Nam hiện nay đã sản xuất được 70% các loại thiết bị viễn thông và với sự quyết tâm Việt Nam có thể sẽ trở thành nước thứ 4 trên thế giới sản xuất và xuất khẩu được tất cả thiết bị viễn thông, và mục tiêu này cần phải đạt được trong năm 2019-2020. Các nhà mạng Việt Nam cần phải dùng thiết bị made in Vietnam nếu giá và chất lượng tương đương. Đây là việc có ý nghĩa rất lớn vì hạ tầng của kinh tế số là mạng lưới viễn thông.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý với phương hướng, mục tiêu phát triển cho Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin và cho rằng đây là nhiệm vụ nặng nề. Đó cũng là sự đặt hàng, yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng đối với ngành này. Trước hết, Việt Nam phải có thứ hạng cao về lĩnh vực công nghệ thông tin viễn thông trên thế giới bởi đây là nền tảng của các lĩnh vực khác, nền tảng của kinh tế số. Thứ hai là Bộ Thông tin và Truyền thông phải dẫn dắt việc phát triển các doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam. Thủ tướng nói bộ này cần đề xuất chính sách tạo điều kiện cho khởi nghiệp, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin để phục vụ cho phát triển kinh tế số.

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Động lực tăng trưởng mới

Vân Ly
Thứ Năm,  31/1/2019, 09:09 

Động lực tăng trưởng mới

Vân Ly

(TBVTSG) - Chính phủ đang định hướng phát triển nền kinh tế số thành động lực tăng trưởng mới của Việt Nam, mở ra cơ hội để nước ta có thể theo kịp các nước đang trong giai đoạn phát triển cao hơn.

Những vị đứng đầu của Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển nền kinh tế số trong những sự kiện được tổ chức mới đây. 

DN mòn mỏi chờ chính sách phát triển kinh tế số

Thời của kinh tế số

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm gian hàng giới thiệu sản phẩm của một công ty công nghệ trong nước tại cuộc triển lãm bên lề hội nghị triển khai kế hoạch của Bộ Thông tin và Truyền thông. Ảnh: Xuân Huy

Cơ hội phát triển kinh tế số

Phát biểu tại lễ bế mạc Diễn đàn kinh tế Việt Nam do Chính phủ và Ban Kinh tế Trung ương phối hợp tổ chức trong hai ngày 16 và 17-1 vừa qua tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) cùng với nền kinh tế số sẽ là một xu hướng lớn, mở ra cơ hội để Việt Nam đuổi kịp các nước phát triển. Việt Nam đang có nhiều lợi thế để bắt kịp với dòng chảy chính của nền kinh tế số. Hiện tại có 70% lượng khách thuê bao di động đang sử dụng mạng di động 3G và 4G, 72% dân số Việt Nam sử dụng điện thoại thông minh... Đây là một trong những cơ sở để Việt Nam tự tin về khả năng chuyển đổi thành công từ nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế số.

Cũng trong khuôn khổ của diễn đàn nói trên, tham gia tham luận tại hội thảo chuyên đề “Định hướng phát triển nền kinh tế số trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0: Cơ hội và thách thức cho Việt Nam” diễn ra ngày 17-1, ông Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục Tin học hóa thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, nói Việt Nam phù hợp cho phát triển kinh tế số vì có nhiều người giỏi công nghệ, có hạ tầng viễn thông, Internet phủ rộng…

Trong khi đó, phát biểu tại phiên tổng thể và đối thoại chính sách cấp cao với chủ đề “Kinh tế Việt Nam năm 2018 và triển vọng năm 2019 - Củng cố nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững” trong khuôn khổ diễn đàn kinh tế Việt Nam hôm 17-1, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, nhận định công nghệ số, chuyển đổi số, kinh tế số, kỷ nguyên số là một tiến trình không thể đảo ngược trên thế giới. Đây là một xu thế toàn cầu, ông Hùng nói khi tham gia tham luận với tựa đề “Định hướng phát triển nền kinh tế số thành động lực tăng trưởng mới của Việt Nam”.

“Kinh tế số giúp tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng này là bền vững vì sử dụng tri thức nhiều hơn tài nguyên. Chi phí tham gia kinh tế số thấp hơn nên tạo ra cơ hội cho nhiều người tham gia hơn. Công nghệ số không có biên giới nên sẽ góp phần làm giảm khoảng cách nông thôn và thành thị. Công nghệ số đem lại những cách tiếp cận mới, giải pháp mới để giải quyết hữu hiệu những vấn đề tồn tại lâu dài như ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng”, ông Hùng nói.

Theo Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, kinh tế số đã bắt đầu nhen nhóm hình thành ở Việt Nam từ cuối những năm 1980 với sự xuất hiện của máy tính cá nhân. Nó bắt đầu phát triển mạnh mẽ khi có Internet vào cuối những năm 1990 và trở nên phổ cập khi mật độ điện thoại thông minh đạt trên 50% vào cuối những năm 2000.

Đặc biệt, nền kinh tế số tại Việt Nam được thúc đẩy mạnh mẽ khi làm sóng CMCN 4.0 bắt đầu vào cuối những năm 2010. Ông Hùng cho rằng nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế số chính là các doanh nghiệp số Việt Nam. Dùng công nghệ để giải quyết vấn đề Việt Nam, bài toán Việt Nam và từ cái nôi Việt Nam, các doanh nghiệp công nghệ này sẽ đi ra toàn cầu. Cuộc cách mạng toàn dân khởi nghiệp công nghệ số, phổ cập công nghệ số sẽ giúp Việt Nam số hóa nền kinh tế rất nhanh.

Bên cạnh việc đem lại những vận hội mới, công nghệ số sẽ hình thành những mô hình kinh doanh mới, thay thế mô hình kinh doanh cũ và tạo ra những thách thức mới. Uber đang thách thức taxi truyền thống, fintech thách thức ngân hàng truyền thống. Việc cho phép dùng tài khoản viễn thông di động thanh toán hàng hóa giá trị nhỏ sẽ giải quyết bài toán thanh toán không dùng tiền mặt đến 100% người dân nhưng lại thách thức ngành ngân hàng.

Ông Hùng nói: “Vấn đề của Chính phủ là có chấp nhận những mô hình kinh doanh mới này hay không. Do vậy, nhiều người nói rằng số hóa nền kinh tế là một cuộc cách mạng về chính sách nhiều hơn là cuộc cách mạng về công nghệ”.

Theo Bộ trưởng, những yếu tố mang tính nền tảng để hỗ trợ kinh tế số Việt Nam bao gồm hạ tầng viễn thông, băng thông rộng, tốc độ cao, mỗi người dân có một điện thoại thông minh. Công nghệ di động thế hệ thứ 5 (5G) sẽ xuất hiện ở Việt Nam cùng với thời gian các nước phát triển triển khai nó.

Các chính sách liên quan đến kinh tế số, công nghệ số, Internet phải có tính cạnh tranh toàn cầu để người Việt Nam không phải ra nước ngoài khởi nghiệp công nghệ số, mà còn để người nước ngoài, tài năng toàn cầu về Việt Nam phát triển công nghệ. Cần hình thành thị trường ban đầu của nền kinh tế số cho các doanh nghiệp công nghệ thông qua việc Chính phủ chi tiêu nhiều cho sản phẩm công nghệ số và xây dựng chính phủ điện tử. Điều không kém phần quan trọng là đào tạo nguồn nhân lực.

Song song với việc đào tạo tiếng Anh, công nghệ thông tin từ bậc phổ thông thì phải thực hiện đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng số, năng lực số cho người lao động. Các trường đại học, cao đẳng nên có các khóa chính thức đào tạo lại, đào tạo nâng cao kéo dài từ 6-12 tháng. Đây là cách tốt nhất để giải quyết việc thiếu trầm trọng nhân lực số.

Các mục tiêu cho những năm tới

Trong phần phát biểu tại Hội nghị triển khai kế hoạch năm 2019 của Bộ Thông tin và Truyền thông hôm15-1 vừa qua, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng đang có cơ hội rất lớn cho ngành công nghệ thông tin viễn thông phát triển hơn nữa và Việt Nam cần phải tận dụng được cơ hội đó. “2018 là một năm mà vận nước rất tốt và đây là cơ hội cho Việt Nam. Tất cả các nước thành con hổ đều là do cơ hội đến thì tận dụng được. Vậy đây là lúc mà chúng ta nên tư duy để xác định các vấn đề lớn mang tính nền tảng, chiến lược, tạo nền tảng để phát triển cho cả giai đoạn tới”.

Lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin có tính quốc tế rất cao, thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức quốc tế chuyên về đo lường và xếp hạng. Trong 10 năm qua, thứ hạng của viễn thông công nghệ thông tin của Việt Nam đã tụt dần xuống thứ trên 100, đứng dưới mức trung bình của thế giới. Đã có những mục tiêu được đề ra cho ngành này, trong đó có mục tiêu chậm nhất đến 2022 phải đưa Việt Nam về thứ hạng 30-50.

Để đạt được điều này, trong thời gian tới ông Hùng đặt ra mục tiêu sẽ tập trung cho các lĩnh vực lớn của ngành gồm: Phải phát triển mạng lưới chuyển phát, dịch vụ hậu cần (logistics) để phát triển thương mại điện tử; duy trì tốc độ tăng trưởng hằng năm từ 30-40% để sau năm năm nữa, doanh thu bưu chính Việt Nam sẽ tăng 3-4 lần và đạt 3-4 tỉ đô la Mỹ; các công ty bưu chính lớn, có bộ máy đến cấp huyện, xã có cơ hội tham gia cung cấp dịch vụ công cho các địa phương, giúp các tỉnh nâng cao chất lượng dịch vụ công và giảm biên chế.

Ông Hùng cho rằng hạ tầng viễn thông không chỉ là hạ tầng thông tin liên lạc, mà còn là hạ tầng của kinh tế số, xã hội số, hạ tầng của CMCN 4.0, hạ tầng kết nối vạn vật. Do đó, cần phổ cập điện thoại thông minh và dịch vụ di động băng rộng (4G, 5G) sẽ thay cho phổ cập điện thoại. Phổ cập điện thoại thông minh là nền tảng để đưa các ứng dụng đến mọi người dân.

Việc triển khai dịch vụ 5G là nhằm tăng dung lượng, chất lượng mạng di động băng rộng. Trong thời gian tới, sẽ thí điểm dịch vụ thanh toán di động, cho phép chuyển tiền, mua sắm thông qua tài khoản viễn thông, giúp thanh toán điện tử đến được mọi người dân, dù ở bất kỳ đâu, sẽ kích thích kinh tế tăng trưởng.

“Các lĩnh vực chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số chính phủ điện tử, thành phố thông minh sẽ là những câu chuyện lớn của năm 2019 và bao trùm trong nhiều thập kỷ tới. Cần xây dựng chiến lược, đề án trong năm 2019, làm rõ kinh tế số, CMCN 4.0 trong từng lĩnh vực thì phải làm gì”, ông Hùng nhấn mạnh. Ông cũng cho biết trong ASEAN thì Việt Nam đang đi chậm nhất về phát triển kinh tế số.

Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, việc đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong Chính phủ, từ các cơ quan Trung ương tới địa phương, đòi hỏi trong phân bổ ngân sách phải có hạng mục chi cho lĩnh vực này. Ngoài ra, cần sửa đổi các quy định về dự án, thuê dịch vụ công nghệ thông tin. Các doanh nghiệp CNTT lớn có thể đầu tư vào các dự án CNTT nền tảng và Chính phủ thuê lại dịch vụ và khi có ngân sách đầu tư thì có thể mua lại.

Ông Hùng cho rằng, Việt Nam đang có cơ hội trở thành nhà sản xuất thiết bị điện tử viễn thông lớn. Bởi vì thế giới về cơ bản chỉ còn bốn công ty sản xuất thiết bị hạ tầng viễn thông, gồm: Ericsson, Nokia, Huawei và ZTE.

Trung Quốc chiếm tới trên 60% thị trường, nhưng lại đang gặp khó khăn với Mỹ. Việt Nam hiện nay đã sản xuất được 70% các loại thiết bị viễn thông và với sự quyết tâm Việt Nam có thể sẽ trở thành nước thứ 4 trên thế giới sản xuất và xuất khẩu được tất cả thiết bị viễn thông, và mục tiêu này cần phải đạt được trong năm 2019-2020. Các nhà mạng Việt Nam cần phải dùng thiết bị made in Vietnam nếu giá và chất lượng tương đương. Đây là việc có ý nghĩa rất lớn vì hạ tầng của kinh tế số là mạng lưới viễn thông.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý với phương hướng, mục tiêu phát triển cho Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin và cho rằng đây là nhiệm vụ nặng nề. Đó cũng là sự đặt hàng, yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng đối với ngành này. Trước hết, Việt Nam phải có thứ hạng cao về lĩnh vực công nghệ thông tin viễn thông trên thế giới bởi đây là nền tảng của các lĩnh vực khác, nền tảng của kinh tế số. Thứ hai là Bộ Thông tin và Truyền thông phải dẫn dắt việc phát triển các doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam. Thủ tướng nói bộ này cần đề xuất chính sách tạo điều kiện cho khởi nghiệp, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin để phục vụ cho phát triển kinh tế số.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.