Mobile

Xử lý xỉ than và tro bay: Cái gốc là quy hoạch và phát triển các nguồn năng lượng
Thứ Năm,  31/1/2019, 22:36 
Tô Văn Trường

Xử lý xỉ than và tro bay: Cái gốc là quy hoạch và phát triển các nguồn năng lượng

Tô Văn Trường

(TBKTSG Online) - Lâu nay công luận nói nhiều về xử lý xỉ than và tro bay của các nhà máy nhiệt điện, thực ra nó chỉ là “phần ngọn” của bài toán gốc liên quan đến quy hoạch các nhà máy nhiệt điện than nói riêng và phát triển năng lượng tái tại nói chung. Rà soát quy hoạch tổng sơ đồ điện, phải giảm tỷ lệ điện than trên tổng cung, tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo và đầu tư đồng bộ với hệ thống mạng dẫn điện là việc làm tất yếu.

Đức sẽ đóng cửa 84 nhà máy nhiệt điện than

Theo chân dòng tiền vào nhiệt điện than

Các nhà máy nhiệt điện than gây ô nhiễm khủng khiếp đến mức nào?

“Chê” điện than, Long An muốn đầu tư nhiệt điện khí hóa lỏng

Doanh nghiệp đua nhau xin “nhận chìm vật chất” xuống biển

Các nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân, Bình Thuận nhìn từ đảo Hòn Cau. Ảnh: Lekima Hùng.

Mới đây, khi thấy Đức loại bỏ nhiều nhà máy nhiệt điện, cũng có ý kiến khuyên Việt Nam nên học tập Đức loại bỏ sớm nhiệt điện than nhưng có người nói so sánh như thế là khập khiễng vì hoàn cảnh khác nhau.

Không thể phủ nhận, Đức là một trong những nước đi đầu về phát triển năng lượng tái tạo. Năng lượng tái tạo chiếm khoảng 30% sản lượng điện năm 2015 của nước này. Năng lượng gió chiếm phần lớn nhất, 46% các loại năng lượng tái tạo. Năng lượng sinh khối chiếm 26%, và năng lượng mặt trời chiếm 20%, trong khi thủy điện chiếm khoảng 10% sản lượng.

Từ 2005 đến 2015, năng lượng gió tăng gấp đôi, năng lượng mặt trời tăng gấp 3 lần. Trong khi đó, năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch đang giảm dần tỷ trọng. Năm 1965 có đến 99% năng lượng sử dụng của Đức là từ nhiên liệu hóa thạch. Năm 2015, đến 79,7% năng lượng sử dụng vẫn từ nhiên liệu hóa thạch. Tổng công suất điện than hiện nay là 49 GW, đáp ứng 46% nhu cầu tiêu thụ điện của nước này.

Sản lượng điện hạt nhân năm 2015 cao hơn tổng sản lượng từ 39 GW điện mặt trời và 7GW điện sinh khối cộng lại, thậm chí cao hơn sản lượng của 45GW điện gió. Như vậy, có thể thấy để thay thế hoàn toàn điện hạt nhân thì cần phải bổ sung công suất điện năng lượng tái tạo lớn tới mức nào.

Theo thông tin mới cập nhật của một chuyên gia môi trường cho biết đối với nước Đức, việc loại bỏ dần nhà máy nhiệt điện than không khó, vì phụ tải đỉnh của họ chỉ có 80 GW trong khi các nguồn ổn định ngoài than đã có điện khí 29,6 GW, điện hạt nhân 9,5 GW, thủy điện 5,5 GW (trong đó có 31 nhà máy pumped storage, VN chưa có nhà máy nào), điện sinh khối 7,7 GW. Tổng cộng họ có 52,3 GW, tức là 65% phụ tải. Điện gió và mặt trời 100 GW

Vậy tổng công suất lắp đặt không kể điện than đã vượt phụ tải đỉnh 200%. Phụ tải của họ không tăng, giống như tất cả các nước đã phát triển khác. Và trên hết, giá điện bán lẻ của họ là 29,5 cent euro/kWh, tương đương 7.720 đồng/kWh. Và trên nữa, họ sẽ chi cho 19 năm đó khoảng 60 tỉ euro để làm chuyện ấy.

Vậy câu hỏi khi nào Việt Nam phát dư công suất 200% và nguồn đáp ứng chiếm 40% phụ tải đỉnh thì cũng hoàn toàn có thể chấm dứt điện than.

Đây là bài toán “trade-off” về kinh tế xã hội và môi trường cần có giải pháp trước mắt và lâu dài cho phù hợp với thực tế ở Việt Nam tỷ lệ nhiệt điện than bao nhiêu là thích hợp trong bài toán an ninh năng lượng, chứ không phải là cứ chờ 100 năm nữa đằng nào than và dầu cũng cạn.

Ngõ 18, tổ dân phố Linh Tiến, phường Thạch Linh, thành phố Hà Tĩnh sử dụng vật liệu tro xỉ của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 làm nền đường, giảm giá thành đầu tư xây dựng. Ảnh: Báo Hà Tĩnh

Trao đổi với các chuyên gia, chúng tôi có chung nhận xét khi điều hành nghiên cứu phương án thì nên chia Việt Nam ra từng khu vực và đặt câu hỏi: “khu này hiện nay cung điện và cầu điện là bao nhiêu, có gì thay được điện than và giảm cầu được không?". Thí dụ có thể dùng điện gió, điện khí hay điện mặt trời là bao nhiêu? Chi phí ra sao? Và từ đó tính lên.

Ngay cả cầu cho hộ gia đình thì cũng phải tính rõ lượng tối thiểu bán theo giá bù lỗ, còn lại là giá thị trường và giá thị trường là bao nhiêu để cân bằng cung cầu.

Việt Nam phải có cái nhìn xa và phải tính toán để giải quyết 2 vấn đề:

Thứ nhất là mức tiêu thụ điện để tạo ra 1 đồng GDP là quá cao (gần gấp đôi) so với các nước khu vực. Vấn đề này có thể tự nó sẽ giải quyết khi tiêu thụ điện trên đầu người tăng lên. Cả một vùng rộng lớn (ngoài Hà Nội và TPHCM) tiêu thụ điện quá thấp nên cứ tăng trưởng kinh tế là phần lớn người dân sắm đồ điện mới, chưa kể đồ cũ được thay bằng cái có công suất lớn hơn. Khi nào bình quân đầu người bằng các nước phát triển sẽ bão hòa, tỷ lệ ngành dịch vụ sẽ cao lên và đương nhiên tỷ lệ năng lượng/GDP sẽ giảm xuống.

Thứ hai là không thể nói điện than vẫn cần mà phải có phương án giảm điện than, tăng điện khí và điện mặt trời. Đưa rõ phương án lưới điện độc quyền nhà nước phải mua điện từ điện mặt trời và gió của các nhà sản xuất trong thời gian không sử dụng, bằng giá mà lưới điện bán ra.

Tuy nhiên, trong thực tế tăng điện khí và điện mặt trời sẽ làm tăng giá bán lẻ điện. Hiện nay giá điện quá thấp. Là người bán buôn, công ty truyền tải của EVN cũng không thể nhiệt tình mua điện gió và điện mặt trời với giá cao rồi bán giá thấp. Điện khí tuy đắt ngang điện gió nhưng nó có ưu điểm tuyệt đối là sạch và huy động công suất nhanh để đáp ứng yêu cầu (nguồn đáp ứng). Nếu "lệnh trên" vẫn là "không được tăng giá điện" thì làm sao loại bỏ được điện than.

Như vậy, cần lên phương án kết hợp giữa vấn đề 1 và 2, giá tăng làm giảm cầu đồng thời tăng nguồn cung không phải điện than.

Theo tôi tìm hiểu được biết trung tâm điện lực Vĩnh Tân gồm 5 nhà máy nhiệt điện than: Vĩnh Tân 1, Vĩnh Tân 2, Vĩnh Tân 3, Vĩnh Tân 4 & Vĩnh Tân 4 MR. Trong đó, Vĩnh Tân 1 đang vận hành thử nghiệm (chưa vận hành thương mại), thiết kế với 1 bãi thải xỉ riêng; Vĩnh Tân 3 chưa vận hành, thiết kế với 1 bãi thải xỉ riêng; Vĩnh Tân 2 & Vĩnh Tân 4 đang vận hành thương mại, Vĩnh Tân 4 MR chưa vận hành; Vĩnh Tân 2, Vĩnh Tân 4 & Vĩnh Tân 4 MR thiết kế dùng chung 1 bãi thải xỉ (dung lượng cho vận hành khoảng 3 năm).

Tất cả 5 nhà máy tại Trung tâm điện lực Vĩnh Tân đều sử dụng công nghệ thải xỉ khô nên khả năng ảnh hưởng đến môi trường là khó tránh khỏi. Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm như thế nào thì cần có số liệu tin cậy để các giới chuyên môn phân tích, đánh giá, đề xuất.

Về việc này, cần xem xét, thuê 1 cơ quan độc lập có năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu, khảo sát, thu thập số liệu, phân tích đánh giá kết quả và đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài  kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền xem xét & có những hành động thích hợp.

 

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Xử lý xỉ than và tro bay: Cái gốc là quy hoạch và phát triển các nguồn năng lượng

Tô Văn Trường
Thứ Năm,  31/1/2019, 22:36 

Xử lý xỉ than và tro bay: Cái gốc là quy hoạch và phát triển các nguồn năng lượng

Tô Văn Trường

(TBKTSG Online) - Lâu nay công luận nói nhiều về xử lý xỉ than và tro bay của các nhà máy nhiệt điện, thực ra nó chỉ là “phần ngọn” của bài toán gốc liên quan đến quy hoạch các nhà máy nhiệt điện than nói riêng và phát triển năng lượng tái tại nói chung. Rà soát quy hoạch tổng sơ đồ điện, phải giảm tỷ lệ điện than trên tổng cung, tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo và đầu tư đồng bộ với hệ thống mạng dẫn điện là việc làm tất yếu.

Đức sẽ đóng cửa 84 nhà máy nhiệt điện than

Theo chân dòng tiền vào nhiệt điện than

Các nhà máy nhiệt điện than gây ô nhiễm khủng khiếp đến mức nào?

“Chê” điện than, Long An muốn đầu tư nhiệt điện khí hóa lỏng

Doanh nghiệp đua nhau xin “nhận chìm vật chất” xuống biển

Các nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân, Bình Thuận nhìn từ đảo Hòn Cau. Ảnh: Lekima Hùng.

Mới đây, khi thấy Đức loại bỏ nhiều nhà máy nhiệt điện, cũng có ý kiến khuyên Việt Nam nên học tập Đức loại bỏ sớm nhiệt điện than nhưng có người nói so sánh như thế là khập khiễng vì hoàn cảnh khác nhau.

Không thể phủ nhận, Đức là một trong những nước đi đầu về phát triển năng lượng tái tạo. Năng lượng tái tạo chiếm khoảng 30% sản lượng điện năm 2015 của nước này. Năng lượng gió chiếm phần lớn nhất, 46% các loại năng lượng tái tạo. Năng lượng sinh khối chiếm 26%, và năng lượng mặt trời chiếm 20%, trong khi thủy điện chiếm khoảng 10% sản lượng.

Từ 2005 đến 2015, năng lượng gió tăng gấp đôi, năng lượng mặt trời tăng gấp 3 lần. Trong khi đó, năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch đang giảm dần tỷ trọng. Năm 1965 có đến 99% năng lượng sử dụng của Đức là từ nhiên liệu hóa thạch. Năm 2015, đến 79,7% năng lượng sử dụng vẫn từ nhiên liệu hóa thạch. Tổng công suất điện than hiện nay là 49 GW, đáp ứng 46% nhu cầu tiêu thụ điện của nước này.

Sản lượng điện hạt nhân năm 2015 cao hơn tổng sản lượng từ 39 GW điện mặt trời và 7GW điện sinh khối cộng lại, thậm chí cao hơn sản lượng của 45GW điện gió. Như vậy, có thể thấy để thay thế hoàn toàn điện hạt nhân thì cần phải bổ sung công suất điện năng lượng tái tạo lớn tới mức nào.

Theo thông tin mới cập nhật của một chuyên gia môi trường cho biết đối với nước Đức, việc loại bỏ dần nhà máy nhiệt điện than không khó, vì phụ tải đỉnh của họ chỉ có 80 GW trong khi các nguồn ổn định ngoài than đã có điện khí 29,6 GW, điện hạt nhân 9,5 GW, thủy điện 5,5 GW (trong đó có 31 nhà máy pumped storage, VN chưa có nhà máy nào), điện sinh khối 7,7 GW. Tổng cộng họ có 52,3 GW, tức là 65% phụ tải. Điện gió và mặt trời 100 GW

Vậy tổng công suất lắp đặt không kể điện than đã vượt phụ tải đỉnh 200%. Phụ tải của họ không tăng, giống như tất cả các nước đã phát triển khác. Và trên hết, giá điện bán lẻ của họ là 29,5 cent euro/kWh, tương đương 7.720 đồng/kWh. Và trên nữa, họ sẽ chi cho 19 năm đó khoảng 60 tỉ euro để làm chuyện ấy.

Vậy câu hỏi khi nào Việt Nam phát dư công suất 200% và nguồn đáp ứng chiếm 40% phụ tải đỉnh thì cũng hoàn toàn có thể chấm dứt điện than.

Đây là bài toán “trade-off” về kinh tế xã hội và môi trường cần có giải pháp trước mắt và lâu dài cho phù hợp với thực tế ở Việt Nam tỷ lệ nhiệt điện than bao nhiêu là thích hợp trong bài toán an ninh năng lượng, chứ không phải là cứ chờ 100 năm nữa đằng nào than và dầu cũng cạn.

Ngõ 18, tổ dân phố Linh Tiến, phường Thạch Linh, thành phố Hà Tĩnh sử dụng vật liệu tro xỉ của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 làm nền đường, giảm giá thành đầu tư xây dựng. Ảnh: Báo Hà Tĩnh

Trao đổi với các chuyên gia, chúng tôi có chung nhận xét khi điều hành nghiên cứu phương án thì nên chia Việt Nam ra từng khu vực và đặt câu hỏi: “khu này hiện nay cung điện và cầu điện là bao nhiêu, có gì thay được điện than và giảm cầu được không?". Thí dụ có thể dùng điện gió, điện khí hay điện mặt trời là bao nhiêu? Chi phí ra sao? Và từ đó tính lên.

Ngay cả cầu cho hộ gia đình thì cũng phải tính rõ lượng tối thiểu bán theo giá bù lỗ, còn lại là giá thị trường và giá thị trường là bao nhiêu để cân bằng cung cầu.

Việt Nam phải có cái nhìn xa và phải tính toán để giải quyết 2 vấn đề:

Thứ nhất là mức tiêu thụ điện để tạo ra 1 đồng GDP là quá cao (gần gấp đôi) so với các nước khu vực. Vấn đề này có thể tự nó sẽ giải quyết khi tiêu thụ điện trên đầu người tăng lên. Cả một vùng rộng lớn (ngoài Hà Nội và TPHCM) tiêu thụ điện quá thấp nên cứ tăng trưởng kinh tế là phần lớn người dân sắm đồ điện mới, chưa kể đồ cũ được thay bằng cái có công suất lớn hơn. Khi nào bình quân đầu người bằng các nước phát triển sẽ bão hòa, tỷ lệ ngành dịch vụ sẽ cao lên và đương nhiên tỷ lệ năng lượng/GDP sẽ giảm xuống.

Thứ hai là không thể nói điện than vẫn cần mà phải có phương án giảm điện than, tăng điện khí và điện mặt trời. Đưa rõ phương án lưới điện độc quyền nhà nước phải mua điện từ điện mặt trời và gió của các nhà sản xuất trong thời gian không sử dụng, bằng giá mà lưới điện bán ra.

Tuy nhiên, trong thực tế tăng điện khí và điện mặt trời sẽ làm tăng giá bán lẻ điện. Hiện nay giá điện quá thấp. Là người bán buôn, công ty truyền tải của EVN cũng không thể nhiệt tình mua điện gió và điện mặt trời với giá cao rồi bán giá thấp. Điện khí tuy đắt ngang điện gió nhưng nó có ưu điểm tuyệt đối là sạch và huy động công suất nhanh để đáp ứng yêu cầu (nguồn đáp ứng). Nếu "lệnh trên" vẫn là "không được tăng giá điện" thì làm sao loại bỏ được điện than.

Như vậy, cần lên phương án kết hợp giữa vấn đề 1 và 2, giá tăng làm giảm cầu đồng thời tăng nguồn cung không phải điện than.

Theo tôi tìm hiểu được biết trung tâm điện lực Vĩnh Tân gồm 5 nhà máy nhiệt điện than: Vĩnh Tân 1, Vĩnh Tân 2, Vĩnh Tân 3, Vĩnh Tân 4 & Vĩnh Tân 4 MR. Trong đó, Vĩnh Tân 1 đang vận hành thử nghiệm (chưa vận hành thương mại), thiết kế với 1 bãi thải xỉ riêng; Vĩnh Tân 3 chưa vận hành, thiết kế với 1 bãi thải xỉ riêng; Vĩnh Tân 2 & Vĩnh Tân 4 đang vận hành thương mại, Vĩnh Tân 4 MR chưa vận hành; Vĩnh Tân 2, Vĩnh Tân 4 & Vĩnh Tân 4 MR thiết kế dùng chung 1 bãi thải xỉ (dung lượng cho vận hành khoảng 3 năm).

Tất cả 5 nhà máy tại Trung tâm điện lực Vĩnh Tân đều sử dụng công nghệ thải xỉ khô nên khả năng ảnh hưởng đến môi trường là khó tránh khỏi. Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm như thế nào thì cần có số liệu tin cậy để các giới chuyên môn phân tích, đánh giá, đề xuất.

Về việc này, cần xem xét, thuê 1 cơ quan độc lập có năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu, khảo sát, thu thập số liệu, phân tích đánh giá kết quả và đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài  kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền xem xét & có những hành động thích hợp.

 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.