Mobile

Buôn thần bán thánh
Thứ Sáu,  15/2/2019, 11:00 
Nguyễn Khắc Giang

Buôn thần bán thánh

Nguyễn Khắc Giang

(TBKTSG) - Cứ mỗi dịp xuân về, người dân lại nô nức đi đền chùa cầu phúc lộc. Phú quý sinh lễ nghĩa, nền kinh tế tăng trưởng nhanh 30 năm sau quá trình đổi mới khiến người dân có nhiều điều kiện hơn để thực hành niềm tin tín ngưỡng. Đây cũng là điều kiện quan trọng để hồi sinh nhiều nét văn hóa, lễ hội truyền thống từng bị bỏ rơi - thậm chí là tàn phá - một thời gian dài trong thời kỳ bao cấp.

Về tìm hoa gạo và ngôi chùa xưa

Di tích Chùa Hương, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Ảnh minh họa: myduc.hanoi.gov.vn.

Chưa có con số thống kê chính xác, nhưng với ước tính khoảng 9.000 lễ hội hàng năm - riêng thủ đô Hà Nội đã có hơn 1.000 lễ hội - có thể thấy quy mô khổng lồ của hoạt động tâm linh người Việt. Nếu tính cả việc thăm viếng chùa chiền đầu năm, những hoạt động này thu hút hàng triệu lượt người tham gia.

Nhưng sự hồi sinh nhanh chóng trong bối cảnh của một xã hội đang chuyển đổi, với rất nhiều giá trị đang được tái định hình, khiến cho việc thực hành tín ngưỡng đang có nhiều mặt tối. Đó là những chen lấn, xô đẩy, thậm chí là loạn đả để giành cho bằng được “lộc thánh, ấn quan”; là những lần vung tiền hầu đồng cả trăm triệu đồng; hay những sự cố dở khóc dở cười gây hỏa hoạn do đốt vàng mã. Những hành vi gây ít hậu quả hơn - nhưng không kém phần cười ra nước mắt - như xoa tiền vào bia đá hay sờ đầu tượng thánh lấy lộc có thể dễ dàng quan sát ở bất kì đâu.

Các cơ quan quản lý văn hóa từ nhiều năm đã rất trăn trở với việc quản lý lễ hội, hay cao hơn, là quản lý cách thực hành tín ngưỡng của người dân. Nhưng theo tôi, đây là trách nhiệm mà ngành văn hóa khó mà một vai gánh vác hết. Việc phân định đâu là lễ hội văn minh, đâu là hủ bại, cách thể hiện tâm linh nào là mê tín dị đoan, cách nào là nét đẹp truyền thống cần gìn giữ, là nhạy cảm và vô cùng khó khăn. Những quyết định cấm đoán hành chính vội vàng dễ tạo ra hiệu ứng ngược, khiến Nhà nước can thiệp quá sâu vào quyền tự do tín ngưỡng của người dân, gợi lại ám ảnh của một thời đập phá đền chùa.

Cần phải thấy cách thực hành tín ngưỡng không chỉ phản ánh niềm tin và giá trị của mỗi cá nhân, mà còn là hình ảnh của cả cộng đồng. Về bề mặt, đó là vấn đề văn hóa. Nhưng sâu xa hơn, đó là sự thiếu hụt của vốn xã hội - niềm tin vào sự công bằng, bình đẳng xã hội cũng như niềm tin giữa con người với nhau.

Người ta tranh giành sự ưu đãi tưởng tượng của thế lực siêu nhiên bởi không tin rằng chỉ với năng lực cá nhân, họ có thể đạt được thành công và thịnh vượng như mong muốn. Ai cũng muốn vay mượn sự may mắn của thần linh, bởi lo sợ những bất trắc không thể tính toán trong cuộc sống.

Đáng buồn là ngay cả những người cần niềm tin vào liêm chính và công bằng xã hội nhất - những công chức nhà nước - lại là một lực lượng tín ngưỡng đáng kể trong các lần thăm viếng đền chùa hay lễ hội. Gần như năm nào các cơ quan nhà nước cũng phải ra thông báo yêu cầu công chức hạn chế đi lễ, chùa chiền, và đặc biệt là không sử dụng xe công hay “du xuân” trong thời gian làm việc.

Nhưng rồi năm nào cũng có cán bộ bị kỷ luật về việc này. Những quy định hành chính quyết liệt trong thời gian qua đã hạn chế phần nào bề nổi của hiện tượng này, nhưng để họ toàn tâm toàn ý làm việc - mà không cần hỗ trợ của thần linh - thực sự là không đơn giản.

Nhu cầu tâm linh ngày càng lớn thì theo đúng nguyên tắc thị trường, cung lại càng nhiều. Điều này khiến cho xu hướng đầu tư vào các “khu du lịch tâm linh” cũng như chùa chiền ngày càng nhiều. Ở một số địa phương, vãn cảnh chùa còn bị thu phí như trường hợp chùa Yên Tử ở Quảng Ninh. Thương mại hóa tràn lan làm giảm đi tính tôn nghiêm của tín ngưỡng, tạo ra một hiện tượng trớ trêu: nhiều lễ hội và chùa chiền những ngày đầu năm lại là những nơi xô bồ và nhộn nhạo, là điểm hội tụ của các thành phần bất hảo, tệ cờ bạc, nạn móc túi và lừa đảo du khách.

Tôi không cho rằng những vấn đề gặp phải trong cách thực hành tín ngưỡng là hệ quả của kinh tế thị trường. Tâm linh mang tính phi kinh tế, không thể đo lường được bằng các giá trị hữu hình. Những vấn đề về hoạt động tín ngưỡng hiện tại không phải vì người dân có quá nhiều niềm tin, mà thực chất là vì họ có quá ít niềm tin: liệu có ai thực sự có đức tin vào sự công minh của thánh thần lại nghĩ rằng tiền cúng dường càng nhiều, lễ lạt càng nặng, vàng mã đốt càng to, thì lại càng được ban phước? Liệu ai cả gan nghĩ rằng có thể mua chuộc được đấng siêu nhiên?

Điều chỉnh niềm tin gần như là không thể, bởi đó là hành vi tự nguyện. Nhưng trong khi chờ đợi hành vi tín ngưỡng tốt lên, giải pháp hữu hiện nhất hiện tại là tăng tính minh bạch của “thu nhập tín ngưỡng” để qua đó giảm thiểu việc buôn thần bán thánh và khiến việc thực hành tâm linh bớt lộn xộn hơn. Chẳng hạn, tiền công đức của các chùa lớn là một khoản thu khổng lồ, nhưng ít ai biết số tiền đó đi đâu về đâu, được sử dụng như thế nào cho mục đích “công đức”, trợ giúp những người yếu thế và cải tạo lại nhà chùa.

Câu chuyện tâm linh nằm trong bức tranh chung của nhiều vấn đề khác tại nước ta, khi có sự quan tâm và nhu cầu lớn, nhưng lại mập mờ về thông tin và hoàn toàn thiếu vắng chỗ dựa vững chắc về mặt niềm tin. Bóng tối luôn luôn là mảnh đất màu mỡ cho cái xấu nảy sinh, tín ngưỡng cũng không phải là ngoại lệ. 

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Buôn thần bán thánh

Nguyễn Khắc Giang
Thứ Sáu,  15/2/2019, 11:00 

Buôn thần bán thánh

Nguyễn Khắc Giang

(TBKTSG) - Cứ mỗi dịp xuân về, người dân lại nô nức đi đền chùa cầu phúc lộc. Phú quý sinh lễ nghĩa, nền kinh tế tăng trưởng nhanh 30 năm sau quá trình đổi mới khiến người dân có nhiều điều kiện hơn để thực hành niềm tin tín ngưỡng. Đây cũng là điều kiện quan trọng để hồi sinh nhiều nét văn hóa, lễ hội truyền thống từng bị bỏ rơi - thậm chí là tàn phá - một thời gian dài trong thời kỳ bao cấp.

Về tìm hoa gạo và ngôi chùa xưa

Di tích Chùa Hương, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Ảnh minh họa: myduc.hanoi.gov.vn.

Chưa có con số thống kê chính xác, nhưng với ước tính khoảng 9.000 lễ hội hàng năm - riêng thủ đô Hà Nội đã có hơn 1.000 lễ hội - có thể thấy quy mô khổng lồ của hoạt động tâm linh người Việt. Nếu tính cả việc thăm viếng chùa chiền đầu năm, những hoạt động này thu hút hàng triệu lượt người tham gia.

Nhưng sự hồi sinh nhanh chóng trong bối cảnh của một xã hội đang chuyển đổi, với rất nhiều giá trị đang được tái định hình, khiến cho việc thực hành tín ngưỡng đang có nhiều mặt tối. Đó là những chen lấn, xô đẩy, thậm chí là loạn đả để giành cho bằng được “lộc thánh, ấn quan”; là những lần vung tiền hầu đồng cả trăm triệu đồng; hay những sự cố dở khóc dở cười gây hỏa hoạn do đốt vàng mã. Những hành vi gây ít hậu quả hơn - nhưng không kém phần cười ra nước mắt - như xoa tiền vào bia đá hay sờ đầu tượng thánh lấy lộc có thể dễ dàng quan sát ở bất kì đâu.

Các cơ quan quản lý văn hóa từ nhiều năm đã rất trăn trở với việc quản lý lễ hội, hay cao hơn, là quản lý cách thực hành tín ngưỡng của người dân. Nhưng theo tôi, đây là trách nhiệm mà ngành văn hóa khó mà một vai gánh vác hết. Việc phân định đâu là lễ hội văn minh, đâu là hủ bại, cách thể hiện tâm linh nào là mê tín dị đoan, cách nào là nét đẹp truyền thống cần gìn giữ, là nhạy cảm và vô cùng khó khăn. Những quyết định cấm đoán hành chính vội vàng dễ tạo ra hiệu ứng ngược, khiến Nhà nước can thiệp quá sâu vào quyền tự do tín ngưỡng của người dân, gợi lại ám ảnh của một thời đập phá đền chùa.

Cần phải thấy cách thực hành tín ngưỡng không chỉ phản ánh niềm tin và giá trị của mỗi cá nhân, mà còn là hình ảnh của cả cộng đồng. Về bề mặt, đó là vấn đề văn hóa. Nhưng sâu xa hơn, đó là sự thiếu hụt của vốn xã hội - niềm tin vào sự công bằng, bình đẳng xã hội cũng như niềm tin giữa con người với nhau.

Người ta tranh giành sự ưu đãi tưởng tượng của thế lực siêu nhiên bởi không tin rằng chỉ với năng lực cá nhân, họ có thể đạt được thành công và thịnh vượng như mong muốn. Ai cũng muốn vay mượn sự may mắn của thần linh, bởi lo sợ những bất trắc không thể tính toán trong cuộc sống.

Đáng buồn là ngay cả những người cần niềm tin vào liêm chính và công bằng xã hội nhất - những công chức nhà nước - lại là một lực lượng tín ngưỡng đáng kể trong các lần thăm viếng đền chùa hay lễ hội. Gần như năm nào các cơ quan nhà nước cũng phải ra thông báo yêu cầu công chức hạn chế đi lễ, chùa chiền, và đặc biệt là không sử dụng xe công hay “du xuân” trong thời gian làm việc.

Nhưng rồi năm nào cũng có cán bộ bị kỷ luật về việc này. Những quy định hành chính quyết liệt trong thời gian qua đã hạn chế phần nào bề nổi của hiện tượng này, nhưng để họ toàn tâm toàn ý làm việc - mà không cần hỗ trợ của thần linh - thực sự là không đơn giản.

Nhu cầu tâm linh ngày càng lớn thì theo đúng nguyên tắc thị trường, cung lại càng nhiều. Điều này khiến cho xu hướng đầu tư vào các “khu du lịch tâm linh” cũng như chùa chiền ngày càng nhiều. Ở một số địa phương, vãn cảnh chùa còn bị thu phí như trường hợp chùa Yên Tử ở Quảng Ninh. Thương mại hóa tràn lan làm giảm đi tính tôn nghiêm của tín ngưỡng, tạo ra một hiện tượng trớ trêu: nhiều lễ hội và chùa chiền những ngày đầu năm lại là những nơi xô bồ và nhộn nhạo, là điểm hội tụ của các thành phần bất hảo, tệ cờ bạc, nạn móc túi và lừa đảo du khách.

Tôi không cho rằng những vấn đề gặp phải trong cách thực hành tín ngưỡng là hệ quả của kinh tế thị trường. Tâm linh mang tính phi kinh tế, không thể đo lường được bằng các giá trị hữu hình. Những vấn đề về hoạt động tín ngưỡng hiện tại không phải vì người dân có quá nhiều niềm tin, mà thực chất là vì họ có quá ít niềm tin: liệu có ai thực sự có đức tin vào sự công minh của thánh thần lại nghĩ rằng tiền cúng dường càng nhiều, lễ lạt càng nặng, vàng mã đốt càng to, thì lại càng được ban phước? Liệu ai cả gan nghĩ rằng có thể mua chuộc được đấng siêu nhiên?

Điều chỉnh niềm tin gần như là không thể, bởi đó là hành vi tự nguyện. Nhưng trong khi chờ đợi hành vi tín ngưỡng tốt lên, giải pháp hữu hiện nhất hiện tại là tăng tính minh bạch của “thu nhập tín ngưỡng” để qua đó giảm thiểu việc buôn thần bán thánh và khiến việc thực hành tâm linh bớt lộn xộn hơn. Chẳng hạn, tiền công đức của các chùa lớn là một khoản thu khổng lồ, nhưng ít ai biết số tiền đó đi đâu về đâu, được sử dụng như thế nào cho mục đích “công đức”, trợ giúp những người yếu thế và cải tạo lại nhà chùa.

Câu chuyện tâm linh nằm trong bức tranh chung của nhiều vấn đề khác tại nước ta, khi có sự quan tâm và nhu cầu lớn, nhưng lại mập mờ về thông tin và hoàn toàn thiếu vắng chỗ dựa vững chắc về mặt niềm tin. Bóng tối luôn luôn là mảnh đất màu mỡ cho cái xấu nảy sinh, tín ngưỡng cũng không phải là ngoại lệ. 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.