Mobile

Giữ đặc trưng di sản văn hóa trong du lịch
Thứ Hai,  11/3/2019, 13:35 
Lê Hải Đăng

Giữ đặc trưng di sản văn hóa trong du lịch

Lê Hải Đăng

(TBKTSG) - Theo số liệu của Tổng cục Du lịch, năm 2018, Việt Nam đón khoảng 15,6 triệu khách quốc tế, 80 triệu khách nội địa.

Những con số này cho thấy kết quả đáng khích lệ của ngành du lịch, nhưng chúng không phản ánh được nhiều khía cạnh về chất lượng của hoạt động du lịch khi những vấn đề then chốt vẫn chưa được giải quyết, như tư duy làm du lịch; hàm lượng giá trị văn hóa bên trong và bên ngoài các sản phẩm, dịch vụ; công tác bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, môi trường nhân văn cho du lịch...

Trong khuôn khổ bài viết này, người viết xin đề cập khía cạnh gắn kết du lịch với di sản văn hóa để làm rõ mối quan hệ của chúng trong tổng thể hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn.

Du lịch chuyển mình với công nghệ 4.0

Cơ cấu lại nguồn khách du lịch

Lễ hội đua voi ở Tây Nguyên. Ảnh: Huỳnh Công Bá

Sự đa dạng văn hóa là tài sản quý giá

Di sản văn hóa là những giá trị mang tính lịch sử, kết tinh từ đời sống cộng đồng. Di sản văn hóa có di sản dạng vật thể như quần thể di tích cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Hoàng thành Thăng Long; di sản văn hóa phi vật thể như nhã nhạc, ca trù, đờn ca tài tử, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, thực hành nghi lễ tín ngưỡng thờ Mẫu...; và di sản thiên nhiên như vịnh Hạ Long, hang Sơn Đoòng...

Nước ta có nhiều di sản văn hóa cùng hàng loạt dạng thức tín ngưỡng, công trình kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên, ngôn ngữ, văn học nghệ thuật... Sự phong phú, đa dạng về di sản góp phần làm giàu nền văn hóa nước nhà, đồng thời tạo tiền đề phát triển du lịch.

Di sản văn hóa cần được hiểu rộng hơn là di tích hay phế tích, ở chỗ chúng là những thực thể sống động hiện hữu trong lòng cộng đồng. Nói cách khác, di sản được biểu hiện thông qua nhiều hoạt động văn hóa đa dạng trong đời sống. Việt Nam với 54 dân tộc cùng chung sống trên một dải đất trải dài từ Bắc tới Nam, từ miền núi đến đồng bằng, duyên hải, do vậy du khách đến Việt Nam có cơ hội đi qua nhiều vùng văn hóa, tộc người, có sự đa dạng về cảnh quan, môi trường, ngôn ngữ, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán...

Điều kiện địa lý, văn hóa, thổ nhưỡng khác nhau đã góp phần tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hóa đa sắc. Đây vừa là đặc trưng, vừa là tài sản quý giá của đất nước.

Cần hiểu làng văn hóa dân tộc là những ngôi làng có bề dày lịch sử, văn hóa gắn kết chặt chẽ với cuộc sống của đồng bào các dân tộc chứ không phải những ngôi làng được phục dựng một cách giả tạo

Nhiều địa phương đã có những dự án quy hoạch làng văn hóa dân tộc để phục vụ khách du lịch. Điều này rất cần thiết nhưng cách làm trên thực tế ở một số nơi đã bộc lộ những vấn đề cần tư duy lại. Cần hiểu làng văn hóa dân tộc là những ngôi làng có bề dày lịch sử, văn hóa gắn kết chặt chẽ với cuộc sống của đồng bào các dân tộc chứ không phải những ngôi làng được phục dựng một cách giả tạo hay theo phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới.

Trong khi đó, chính quyền một số địa phương lại giải tỏa, di dời cư dân bản địa tới nơi tái định cư để tái cấu trúc làng văn hóa dân tộc từ thật thành giả!? Cách làm này vừa tốn kém vừa sai trong tư duy lẫn phương pháp, khiến văn hóa bị méo mó, biến dạng, tạo sự ngộ nhận cho du khách. Thiết nghĩ, việc phục dựng chỉ nên áp dụng một cách hạn chế cho những trường hợp bị mai một hay đã biến mất khỏi đời sống.

Đưa du khách đến với di sản

Trong hoạt động du lịch, cần phân biệt hai kiểu tư duy: một là đưa di sản đến với du khách, và ngược lại - đưa du khách đến với di sản. Kiểu tư duy đưa di sản đến với du khách tiềm ẩn nhiều nguy cơ và rủi ro. Theo cách nào đó, sự dịch chuyển di sản văn hóa ra khỏi đời sống xã hội dễ dẫn tới sự ngộ nhận ý nghĩa di sản. Còn khi đưa du khách đến với di sản đang hiện hữu trong lòng cộng đồng, các yếu tố trong hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn sẽ cung cấp cho du khách nhiều chỉ báo, dữ kiện phong phú về đời sống, giúp người quan sát hiểu, lý giải được tính hợp lý bên trong và bên ngoài hiện tượng văn hóa.

Ví dụ như ngôi nhà dài của người Ê Đê vốn là không gian cư trú của nhiều thế hệ trong một gia đình. Nay đã có những nhà dài Ê Đê được lợp ngói, hay những nhà rông Ba Na được đúc bê tông và người ta thiết kế, trang trí nội thất ở bên trong không khác mấy những hội trường hay những phòng trưng bày truyền thống để giới thiệu với du khách. Rõ ràng là bản sắc văn hóa địa phương đã bị làm cho lu mờ, khó nhận diện.

Bản Đôn ở Daklak hay xã Lát (huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng) là những địa bàn đang trong quá trình chuyển hóa và có nhiều dấu hiệu làm sai lệch đặc trưng di sản. Nơi đây từng có cư dân bản địa cư trú tập trung, lâu đời, nhưng các dự án xây dựng làng văn hóa mới đã làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên, nhân văn vốn có. Làng văn hóa dân tộc bị biến thành bảo tàng kiến trúc lộ thiên thiếu vắng sức sống.

Từ cuối thế kỷ 20, Liên hiệp quốc đã phát đi thông điệp gìn giữ sự đa dạng của văn hóa. Việt Nam cũng đã cho triển khai nhiều công trình bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Sau mấy chục năm nhìn lại, bên cạnh sự hồi sinh của nhiều di sản văn hóa cũng có không ít sự “cách tân” làm cho văn hóa bị biến dạng. Yếu tố khác biệt giữa các vùng miền ngày càng mờ nhạt, thiếu bản sắc.

Đồng bào dân tộc thiểu số ở nhiều địa phương bị Kinh hóa một cách nhanh chóng. Lối tư duy, sự phối hợp thiếu nhịp nhàng, thậm chí là không ăn khớp giữa trung ương và địa phương, hay của đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa cũng như những người làm công tác bảo tồn di sản đã tạo nên một sự lệch pha, ảnh hưởng tới các hoạt động trong thực tiễn.

Để khai thác tốt tiềm năng du lịch, di sản văn hóa phải trở thành đối tượng được gìn giữ, bảo tồn theo hướng tôn trọng đặc trưng văn hóa trong tổng thể hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn. Có như vậy, ngành du lịch mới có cơ sở phát triển bền vững, đồng thời phát huy được giá trị di sản trên con đường hướng tới tương lai. 

Vị trí đặt bình chọn

 

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Giữ đặc trưng di sản văn hóa trong du lịch

Lê Hải Đăng
Thứ Hai,  11/3/2019, 13:35 

Giữ đặc trưng di sản văn hóa trong du lịch

Lê Hải Đăng

(TBKTSG) - Theo số liệu của Tổng cục Du lịch, năm 2018, Việt Nam đón khoảng 15,6 triệu khách quốc tế, 80 triệu khách nội địa.

Những con số này cho thấy kết quả đáng khích lệ của ngành du lịch, nhưng chúng không phản ánh được nhiều khía cạnh về chất lượng của hoạt động du lịch khi những vấn đề then chốt vẫn chưa được giải quyết, như tư duy làm du lịch; hàm lượng giá trị văn hóa bên trong và bên ngoài các sản phẩm, dịch vụ; công tác bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, môi trường nhân văn cho du lịch...

Trong khuôn khổ bài viết này, người viết xin đề cập khía cạnh gắn kết du lịch với di sản văn hóa để làm rõ mối quan hệ của chúng trong tổng thể hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn.

Du lịch chuyển mình với công nghệ 4.0

Cơ cấu lại nguồn khách du lịch

Lễ hội đua voi ở Tây Nguyên. Ảnh: Huỳnh Công Bá

Sự đa dạng văn hóa là tài sản quý giá

Di sản văn hóa là những giá trị mang tính lịch sử, kết tinh từ đời sống cộng đồng. Di sản văn hóa có di sản dạng vật thể như quần thể di tích cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Hoàng thành Thăng Long; di sản văn hóa phi vật thể như nhã nhạc, ca trù, đờn ca tài tử, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, thực hành nghi lễ tín ngưỡng thờ Mẫu...; và di sản thiên nhiên như vịnh Hạ Long, hang Sơn Đoòng...

Nước ta có nhiều di sản văn hóa cùng hàng loạt dạng thức tín ngưỡng, công trình kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên, ngôn ngữ, văn học nghệ thuật... Sự phong phú, đa dạng về di sản góp phần làm giàu nền văn hóa nước nhà, đồng thời tạo tiền đề phát triển du lịch.

Di sản văn hóa cần được hiểu rộng hơn là di tích hay phế tích, ở chỗ chúng là những thực thể sống động hiện hữu trong lòng cộng đồng. Nói cách khác, di sản được biểu hiện thông qua nhiều hoạt động văn hóa đa dạng trong đời sống. Việt Nam với 54 dân tộc cùng chung sống trên một dải đất trải dài từ Bắc tới Nam, từ miền núi đến đồng bằng, duyên hải, do vậy du khách đến Việt Nam có cơ hội đi qua nhiều vùng văn hóa, tộc người, có sự đa dạng về cảnh quan, môi trường, ngôn ngữ, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán...

Điều kiện địa lý, văn hóa, thổ nhưỡng khác nhau đã góp phần tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hóa đa sắc. Đây vừa là đặc trưng, vừa là tài sản quý giá của đất nước.

Cần hiểu làng văn hóa dân tộc là những ngôi làng có bề dày lịch sử, văn hóa gắn kết chặt chẽ với cuộc sống của đồng bào các dân tộc chứ không phải những ngôi làng được phục dựng một cách giả tạo

Nhiều địa phương đã có những dự án quy hoạch làng văn hóa dân tộc để phục vụ khách du lịch. Điều này rất cần thiết nhưng cách làm trên thực tế ở một số nơi đã bộc lộ những vấn đề cần tư duy lại. Cần hiểu làng văn hóa dân tộc là những ngôi làng có bề dày lịch sử, văn hóa gắn kết chặt chẽ với cuộc sống của đồng bào các dân tộc chứ không phải những ngôi làng được phục dựng một cách giả tạo hay theo phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới.

Trong khi đó, chính quyền một số địa phương lại giải tỏa, di dời cư dân bản địa tới nơi tái định cư để tái cấu trúc làng văn hóa dân tộc từ thật thành giả!? Cách làm này vừa tốn kém vừa sai trong tư duy lẫn phương pháp, khiến văn hóa bị méo mó, biến dạng, tạo sự ngộ nhận cho du khách. Thiết nghĩ, việc phục dựng chỉ nên áp dụng một cách hạn chế cho những trường hợp bị mai một hay đã biến mất khỏi đời sống.

Đưa du khách đến với di sản

Trong hoạt động du lịch, cần phân biệt hai kiểu tư duy: một là đưa di sản đến với du khách, và ngược lại - đưa du khách đến với di sản. Kiểu tư duy đưa di sản đến với du khách tiềm ẩn nhiều nguy cơ và rủi ro. Theo cách nào đó, sự dịch chuyển di sản văn hóa ra khỏi đời sống xã hội dễ dẫn tới sự ngộ nhận ý nghĩa di sản. Còn khi đưa du khách đến với di sản đang hiện hữu trong lòng cộng đồng, các yếu tố trong hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn sẽ cung cấp cho du khách nhiều chỉ báo, dữ kiện phong phú về đời sống, giúp người quan sát hiểu, lý giải được tính hợp lý bên trong và bên ngoài hiện tượng văn hóa.

Ví dụ như ngôi nhà dài của người Ê Đê vốn là không gian cư trú của nhiều thế hệ trong một gia đình. Nay đã có những nhà dài Ê Đê được lợp ngói, hay những nhà rông Ba Na được đúc bê tông và người ta thiết kế, trang trí nội thất ở bên trong không khác mấy những hội trường hay những phòng trưng bày truyền thống để giới thiệu với du khách. Rõ ràng là bản sắc văn hóa địa phương đã bị làm cho lu mờ, khó nhận diện.

Bản Đôn ở Daklak hay xã Lát (huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng) là những địa bàn đang trong quá trình chuyển hóa và có nhiều dấu hiệu làm sai lệch đặc trưng di sản. Nơi đây từng có cư dân bản địa cư trú tập trung, lâu đời, nhưng các dự án xây dựng làng văn hóa mới đã làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên, nhân văn vốn có. Làng văn hóa dân tộc bị biến thành bảo tàng kiến trúc lộ thiên thiếu vắng sức sống.

Từ cuối thế kỷ 20, Liên hiệp quốc đã phát đi thông điệp gìn giữ sự đa dạng của văn hóa. Việt Nam cũng đã cho triển khai nhiều công trình bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Sau mấy chục năm nhìn lại, bên cạnh sự hồi sinh của nhiều di sản văn hóa cũng có không ít sự “cách tân” làm cho văn hóa bị biến dạng. Yếu tố khác biệt giữa các vùng miền ngày càng mờ nhạt, thiếu bản sắc.

Đồng bào dân tộc thiểu số ở nhiều địa phương bị Kinh hóa một cách nhanh chóng. Lối tư duy, sự phối hợp thiếu nhịp nhàng, thậm chí là không ăn khớp giữa trung ương và địa phương, hay của đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa cũng như những người làm công tác bảo tồn di sản đã tạo nên một sự lệch pha, ảnh hưởng tới các hoạt động trong thực tiễn.

Để khai thác tốt tiềm năng du lịch, di sản văn hóa phải trở thành đối tượng được gìn giữ, bảo tồn theo hướng tôn trọng đặc trưng văn hóa trong tổng thể hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn. Có như vậy, ngành du lịch mới có cơ sở phát triển bền vững, đồng thời phát huy được giá trị di sản trên con đường hướng tới tương lai. 

 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.