Mobile

FDI và bán lẻ “bù” sản xuất công nghiệp và xuất khẩu
Thứ Tư,  13/3/2019, 09:29 
Linh Trang

FDI và bán lẻ “bù” sản xuất công nghiệp và xuất khẩu

Linh Trang

(TBKTSG) - Vốn FDI và doanh số bán lẻ tăng tốt, phần nào bù đắp cho những lo ngại liên quan đến sản xuất công nghiệp và xuất khẩu.

Xem báo cáo của Công ty Chứng khoán Bảo Việt

Nguồn: BVSC

 

Tích cực vốn FDI và doanh số bán lẻ

Theo báo cáo mới nhất của Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), trong hai tháng đầu năm, điểm sáng nổi bật của kinh tế vĩ mô là mức gia tăng đột biến của dòng vốn FDI. Lũy kế hai tháng đầu năm 2019, vốn FDI đăng ký tăng 58% so với cùng kỳ trong khi vốn FDI thực hiện cũng tăng tới 52%. Bên cạnh đó, vốn góp mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty Việt Nam có mức tăng đột biến lên tới 312% so với cùng kỳ, trong đó nổi bật là dự án chuyển nợ thành vốn góp mua cổ phần của Beer co Limited (Hồng Kông) vào Công ty TNHH Vietnam Beverage với giá trị vốn góp là 3,85 tỉ đô la Mỹ tại Hà Nội (thực tế là thương vụ Sabeco trước đây).

Ngoài vốn FDI thì doanh số bán lẻ cũng là một điểm sáng. Mặc dù giảm nhẹ 3% so với tháng 1 nhưng lũy kế hai tháng đầu năm thì doanh số bán lẻ vẫn tăng 12,8% - mức cao nhất kể từ tháng 3-2018. Diễn biến này cho thấy cầu tiêu dùng trong nước vẫn tăng khá tốt, phần nào xóa đi những lo ngại liên quan đến cầu nước ngoài suy giảm.

Lạm phát không đáng ngại, lãi suất và tỷ giá ổn định

Do kỳ thống kê tháng 2 rơi vào Tết Nguyên đán nên chỉ số CPI có mức tăng khá mạnh so với tháng 1 (0,8%). Tuy nhiên, nếu tính từ mức đỉnh 4,5% vào tháng 7-2018 đến nay thì chỉ số CPI vẫn đang duy trì xu hướng giảm. Các nhóm hàng tiêu dùng trong dịp Tết đều tăng giá như hàng ăn và dịch vụ ăn uống (tăng 1,73%); đồ uống, thuốc lá (tăng 0,35%); nhà ở và vật liệu xây dựng (tăng 0,69%). Riêng nhóm hàng giao thông giảm 0,16%. Do tác động từ việc giá xăng dầu thế giới giảm, giao thông là nhóm hàng có mức giảm giá mạnh nhất kể từ giữa năm 2018 đến nay.

Dự báo trong tháng 3, chỉ số CPI sẽ có mức tăng thấp, thậm chí giảm, đặc biệt là tại nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống khi cao điểm mua sắm Tết Nguyên đán đã qua đi. Cũng từ cuối tháng 2 vừa qua, một số tỉnh thành, chủ yếu là phía Bắc đã phát hiện có dịch tả heo châu Phi. Đây có thể rủi ro tiềm ẩn với giá nhóm hàng thịt heo trong thời gian tới, tuy nhiên hiện rủi ro này được đánh giá chưa ở mức quá lớn và vẫn trong tầm kiểm soát.

Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng trong nửa cuối tháng 2 bắt đầu có xu hướng hạ nhiệt so với hai tháng trước đó. Lãi suất tại các kỳ hạn qua đêm, một tuần và hai tuần hiện dao động phổ biến quanh mức 4%/năm, giảm so với mức đỉnh 4,75-5%.

Nguyên nhân chủ yếu là do lượng tiền nhàn rỗi có xu hướng quay trở lại hệ thống sau Tết. Trên cơ sở đó, lãi suất liên ngân hàng nhiều khả năng sẽ tiếp tục hạ nhiệt trong tháng 3, về quanh mức 3%/năm. Ở chiều ngược lại, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng trong tháng 2 lại tăng ở hầu hết các ngân hàng, cả ở nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) gốc Nhà nước lẫn cổ phần.

Nguyên nhân có thể do các ngân hàng đang gấp rút huy động vốn nhằm đáp ứng hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên quan đến việc giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn xuống 40%. Tuy nhiên, sang tháng 3, khi thanh khoản hệ thống tích cực dần lên, động thái điều chỉnh lãi suất huy động có thể sẽ diễn ra tại một số ngân hàng có quy mô lớn.

Ở phương diện tỷ giá, so với tháng 1, tỷ giá trung tâm trong tháng 2 tăng nhẹ 0,2% trong khi tỷ giá giao dịch tại các NHTM gần như không thay đổi. Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ tăng mạnh trong nửa đầu tháng 2 nhưng đã giảm trở lại trong nửa cuối tháng 2. Sự chuyển hướng trong chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed): từ thắt chặt quyết liệt sang xem xét không tăng lãi suất nữa nhiều khả năng sẽ khiến đồng đô la Mỹ khó tăng giá mạnh trong năm 2019. Kể từ đầu năm 2019 đến nay, hầu hết đồng tiền của các nước mới nổi tại châu Á đều hồi phục trở lại so với đô la Mỹ, trong đó mạnh nhất là rupiah của Indonesia (2,7%), tiếp đến là nhân dân tệ Trung Quốc (2,5%) và baht của Thái Lan (2,3%). Tiền đồng là một trong số ít các đồng tiền có mức mất giá thấp nhất so với đô la Mỹ trong năm 2018 nên bước sang đầu năm 2019, khi đồng đô la Mỹ suy yếu bớt thì cũng không khiến tiền đồng bật mạnh trở lại.

Lo ngại về sản xuất công nghiệp và xuất khẩu

Ngoài những diễn biến tích cực nêu trên thì điểm đáng lo ngại trong hai tháng đầu năm của kinh tế vĩ mô chính là đà tăng trưởng chậm lại của khu vực sản xuất và xuất khẩu. Do ảnh hưởng của kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 2 đã giảm mạnh so với tháng 1. Lũy kế hai tháng đầu năm 2019, sản xuất công nghiệp chỉ tăng 9,2%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 15% của cùng kỳ năm 2018. Một tham chiếu khác là chỉ số PMI tháng 2 do Nikkei công bố cũng giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 3-2016 (chỉ còn 51,2 điểm), cho thấy khu vực sản xuất đang tăng trưởng chậm lại.

Cũng theo Công ty Chứng khoán Bảo Việt, hoạt động sản xuất công nghiệp tăng thấp hơn do chịu ảnh hưởng tiêu cực của nhóm hàng điện tử, máy vi tính và quang học (chỉ tăng 5,2% trong khi cùng kỳ tăng 38%); nhóm sản xuất thuốc và hóa dược (giảm 12,4% trong khi cùng kỳ tăng 12,7%).

Ở phương diện ngoại thương, cả xuất và nhập khẩu trong tháng 2 đều giảm mạnh (hơn 20%) so với tháng 1. Lũy kế hai tháng đầu năm, so với cùng kỳ năm 2018 thì cả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam đều có mức tăng thấp hơn rất nhiều (lần lượt tăng 7,5% và 13% so với mức 23% và 18% của cùng kỳ năm 2018).

Có thể nói, đây là tín hiệu đáng lo ngại cho tăng trưởng GDP trong cả quí 1-2019. Xuất khẩu nhóm hàng điện tử, điện thoại di động chỉ tăng 5% trong hai tháng đầu năm, thấp hơn mức 28% của cùng kỳ. Xuất khẩu các nhóm hàng nông sản chính như thủy sản, rau quả, gạo, cà phê cũng tăng thấp hơn hẳn. Bù lại, xuất khẩu một số mặt hàng công nghiệp chế biến được đánh giá hưởng lợi từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) như da giày, túi xách lại tăng khá tốt. Do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, cán cân thương mại đã chuyển sang trạng thái thâm hụt trong hai tháng đầu năm (-800 triệu đô la Mỹ). 

Vị trí đặt bình chọn
TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

FDI và bán lẻ “bù” sản xuất công nghiệp và xuất khẩu

Linh Trang
Thứ Tư,  13/3/2019, 09:29 

FDI và bán lẻ “bù” sản xuất công nghiệp và xuất khẩu

Linh Trang

(TBKTSG) - Vốn FDI và doanh số bán lẻ tăng tốt, phần nào bù đắp cho những lo ngại liên quan đến sản xuất công nghiệp và xuất khẩu.

Xem báo cáo của Công ty Chứng khoán Bảo Việt

Nguồn: BVSC

 

Tích cực vốn FDI và doanh số bán lẻ

Theo báo cáo mới nhất của Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), trong hai tháng đầu năm, điểm sáng nổi bật của kinh tế vĩ mô là mức gia tăng đột biến của dòng vốn FDI. Lũy kế hai tháng đầu năm 2019, vốn FDI đăng ký tăng 58% so với cùng kỳ trong khi vốn FDI thực hiện cũng tăng tới 52%. Bên cạnh đó, vốn góp mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty Việt Nam có mức tăng đột biến lên tới 312% so với cùng kỳ, trong đó nổi bật là dự án chuyển nợ thành vốn góp mua cổ phần của Beer co Limited (Hồng Kông) vào Công ty TNHH Vietnam Beverage với giá trị vốn góp là 3,85 tỉ đô la Mỹ tại Hà Nội (thực tế là thương vụ Sabeco trước đây).

Ngoài vốn FDI thì doanh số bán lẻ cũng là một điểm sáng. Mặc dù giảm nhẹ 3% so với tháng 1 nhưng lũy kế hai tháng đầu năm thì doanh số bán lẻ vẫn tăng 12,8% - mức cao nhất kể từ tháng 3-2018. Diễn biến này cho thấy cầu tiêu dùng trong nước vẫn tăng khá tốt, phần nào xóa đi những lo ngại liên quan đến cầu nước ngoài suy giảm.

Lạm phát không đáng ngại, lãi suất và tỷ giá ổn định

Do kỳ thống kê tháng 2 rơi vào Tết Nguyên đán nên chỉ số CPI có mức tăng khá mạnh so với tháng 1 (0,8%). Tuy nhiên, nếu tính từ mức đỉnh 4,5% vào tháng 7-2018 đến nay thì chỉ số CPI vẫn đang duy trì xu hướng giảm. Các nhóm hàng tiêu dùng trong dịp Tết đều tăng giá như hàng ăn và dịch vụ ăn uống (tăng 1,73%); đồ uống, thuốc lá (tăng 0,35%); nhà ở và vật liệu xây dựng (tăng 0,69%). Riêng nhóm hàng giao thông giảm 0,16%. Do tác động từ việc giá xăng dầu thế giới giảm, giao thông là nhóm hàng có mức giảm giá mạnh nhất kể từ giữa năm 2018 đến nay.

Dự báo trong tháng 3, chỉ số CPI sẽ có mức tăng thấp, thậm chí giảm, đặc biệt là tại nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống khi cao điểm mua sắm Tết Nguyên đán đã qua đi. Cũng từ cuối tháng 2 vừa qua, một số tỉnh thành, chủ yếu là phía Bắc đã phát hiện có dịch tả heo châu Phi. Đây có thể rủi ro tiềm ẩn với giá nhóm hàng thịt heo trong thời gian tới, tuy nhiên hiện rủi ro này được đánh giá chưa ở mức quá lớn và vẫn trong tầm kiểm soát.

Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng trong nửa cuối tháng 2 bắt đầu có xu hướng hạ nhiệt so với hai tháng trước đó. Lãi suất tại các kỳ hạn qua đêm, một tuần và hai tuần hiện dao động phổ biến quanh mức 4%/năm, giảm so với mức đỉnh 4,75-5%.

Nguyên nhân chủ yếu là do lượng tiền nhàn rỗi có xu hướng quay trở lại hệ thống sau Tết. Trên cơ sở đó, lãi suất liên ngân hàng nhiều khả năng sẽ tiếp tục hạ nhiệt trong tháng 3, về quanh mức 3%/năm. Ở chiều ngược lại, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng trong tháng 2 lại tăng ở hầu hết các ngân hàng, cả ở nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) gốc Nhà nước lẫn cổ phần.

Nguyên nhân có thể do các ngân hàng đang gấp rút huy động vốn nhằm đáp ứng hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên quan đến việc giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn xuống 40%. Tuy nhiên, sang tháng 3, khi thanh khoản hệ thống tích cực dần lên, động thái điều chỉnh lãi suất huy động có thể sẽ diễn ra tại một số ngân hàng có quy mô lớn.

Ở phương diện tỷ giá, so với tháng 1, tỷ giá trung tâm trong tháng 2 tăng nhẹ 0,2% trong khi tỷ giá giao dịch tại các NHTM gần như không thay đổi. Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ tăng mạnh trong nửa đầu tháng 2 nhưng đã giảm trở lại trong nửa cuối tháng 2. Sự chuyển hướng trong chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed): từ thắt chặt quyết liệt sang xem xét không tăng lãi suất nữa nhiều khả năng sẽ khiến đồng đô la Mỹ khó tăng giá mạnh trong năm 2019. Kể từ đầu năm 2019 đến nay, hầu hết đồng tiền của các nước mới nổi tại châu Á đều hồi phục trở lại so với đô la Mỹ, trong đó mạnh nhất là rupiah của Indonesia (2,7%), tiếp đến là nhân dân tệ Trung Quốc (2,5%) và baht của Thái Lan (2,3%). Tiền đồng là một trong số ít các đồng tiền có mức mất giá thấp nhất so với đô la Mỹ trong năm 2018 nên bước sang đầu năm 2019, khi đồng đô la Mỹ suy yếu bớt thì cũng không khiến tiền đồng bật mạnh trở lại.

Lo ngại về sản xuất công nghiệp và xuất khẩu

Ngoài những diễn biến tích cực nêu trên thì điểm đáng lo ngại trong hai tháng đầu năm của kinh tế vĩ mô chính là đà tăng trưởng chậm lại của khu vực sản xuất và xuất khẩu. Do ảnh hưởng của kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 2 đã giảm mạnh so với tháng 1. Lũy kế hai tháng đầu năm 2019, sản xuất công nghiệp chỉ tăng 9,2%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 15% của cùng kỳ năm 2018. Một tham chiếu khác là chỉ số PMI tháng 2 do Nikkei công bố cũng giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 3-2016 (chỉ còn 51,2 điểm), cho thấy khu vực sản xuất đang tăng trưởng chậm lại.

Cũng theo Công ty Chứng khoán Bảo Việt, hoạt động sản xuất công nghiệp tăng thấp hơn do chịu ảnh hưởng tiêu cực của nhóm hàng điện tử, máy vi tính và quang học (chỉ tăng 5,2% trong khi cùng kỳ tăng 38%); nhóm sản xuất thuốc và hóa dược (giảm 12,4% trong khi cùng kỳ tăng 12,7%).

Ở phương diện ngoại thương, cả xuất và nhập khẩu trong tháng 2 đều giảm mạnh (hơn 20%) so với tháng 1. Lũy kế hai tháng đầu năm, so với cùng kỳ năm 2018 thì cả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam đều có mức tăng thấp hơn rất nhiều (lần lượt tăng 7,5% và 13% so với mức 23% và 18% của cùng kỳ năm 2018).

Có thể nói, đây là tín hiệu đáng lo ngại cho tăng trưởng GDP trong cả quí 1-2019. Xuất khẩu nhóm hàng điện tử, điện thoại di động chỉ tăng 5% trong hai tháng đầu năm, thấp hơn mức 28% của cùng kỳ. Xuất khẩu các nhóm hàng nông sản chính như thủy sản, rau quả, gạo, cà phê cũng tăng thấp hơn hẳn. Bù lại, xuất khẩu một số mặt hàng công nghiệp chế biến được đánh giá hưởng lợi từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) như da giày, túi xách lại tăng khá tốt. Do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, cán cân thương mại đã chuyển sang trạng thái thâm hụt trong hai tháng đầu năm (-800 triệu đô la Mỹ). 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.