Mobile

GDP càng tăng, luồng tiền chảy ra nước ngoài càng nhiều
Chủ Nhật,  17/3/2019, 17:05 
Bùi Trinh

GDP càng tăng, luồng tiền chảy ra nước ngoài càng nhiều

Bùi Trinh

(TBKTSG) - Tăng trưởng GDP bình quân theo giá hiện hành giai đoạn 2007-2017 là 22%, trong khi luồng tiền chảy ra nước ngoài thuần là 32%. Đây là lý do mà một số chuyên gia cho rằng càng tăng trưởng GDP, nguồn lực của đất nước càng bị suy giảm khi tăng trưởng dựa vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Nên bỏ chỉ tiêu GDP bình quân đầu người theo đô la Mỹ

Chuyện GDP bình quân đầu người Việt Nam thua... Lào

Xét về cấu trúc sở hữu, đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam cơ bản là từ khu vực kinh tế cá thể. Trong giai đoạn từ 2010-2017 tỷ trọng này giảm được 2,7 điểm phần trăm, từ mức 32,07% trong năm 2010 xuống 29,34% năm 2017. Tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước cũng chỉ giảm nhẹ khoảng 0,7 điểm phần trăm, từ mức 29,34% trong năm 2010 xuống 28,63% năm 2017.

Trong khi đó, khu vực kinh tế tư nhân (doanh nghiệp) tăng chưa được 2 điểm phần trăm, từ mức 6,9% trong năm 2010 lên 8,64% năm 2017; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng hơn 4 điểm phần trăm, từ mức 15,15% trong năm 2010 lên 19,63% năm 2017.

Cấu trúc về sở hữu cho thấy, nền kinh tế Việt Nam rất manh mún và hầu như không có sự thay đổi đáng kể về cấu trúc. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn không thể phát triển, tỷ trọng giá trị gia tăng của khu vực này trong GDP rất thấp (dưới 10%) và hầu như không thay đổi trong suốt tám năm (2010-2017).

Điều này cho thấy khi số lượng doanh nghiệp trong nước tăng lên hay mất đi chỉ là sự thay đổi về số lượng, còn giá trị dường như không thay đổi. Đóng góp vào GDP lớn nhất vẫn là khu vực kinh tế cá thể. Tuy nhiên nếu xét về tốc độ tăng trưởng thì khu vực FDI và khu vực kinh tế tư nhân (doanh nghiệp) có tốc độ tăng ổn định nhất.

Theo nguyên tắc về thường trú của Hệ thống các tài khoản quốc gia (SNA), phần giá trị tăng thêm của khu vực có vốn nước ngoài được tính vào GDP, sau đó các doanh nghiệp trong khu vực này có thể giữ phần lợi nhuận lại để tái đầu tư và cũng có thể chuyển tiền về nước “mẹ”.

Như vậy, tuy khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp cao vào tăng trưởng GDP nhưng lại góp phần không nhỏ làm luồng tiền chảy ra nước ngoài thuần túy càng tăng nhanh hơn. Cụ thể, tăng trưởng GDP bình quân theo giá hiện hành giai đoạn 2007-2017 là 22% trong khi luồng tiền chảy ra nước ngoài thuần là 32%, từ đó làm tỷ lệ tổng thu nhập quốc gia (GNI) so với GDP giảm từ 97,2% năm 2000 xuống 95,2% năm 2017.

Đây là lý do mà một số chuyên gia cho rằng càng tăng trưởng GDP, nguồn lực của đất nước càng bị suy giảm khi tăng trưởng dựa vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hoặc tiêu dùng đầu tư như trên. Nguồn lực thực sự của nền kinh tế là tiết kiệm (saving). Tiết kiệm bắt đầu hình thành từ GDP cộng (+) phần thu được từ sở hữu trừ (-) phần chi trả sở hữu cộng (+) chuyển nhượng thuần túy trừ (-) tiêu dùng cuối cùng. Nếu “thu được từ sở hữu trừ (-) chi trả sở hữu - chi trả sở hữu thuần” là một số âm và số âm này ngày càng lớn, sẽ dẫn đến tiết kiệm ngày càng nhỏ lại.

Tiết kiệm là nguồn cơ bản để đầu tư, nếu tiết kiệm luôn nhỏ hơn khoản cần đầu tư thì nhu cầu vay sẽ càng lớn. Đấy phải chăng là lý do tại sao GDP tăng cao mà nợ phải trả ngày một nhiều. 

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

GDP càng tăng, luồng tiền chảy ra nước ngoài càng nhiều

Bùi Trinh
Chủ Nhật,  17/3/2019, 17:05 

GDP càng tăng, luồng tiền chảy ra nước ngoài càng nhiều

Bùi Trinh

(TBKTSG) - Tăng trưởng GDP bình quân theo giá hiện hành giai đoạn 2007-2017 là 22%, trong khi luồng tiền chảy ra nước ngoài thuần là 32%. Đây là lý do mà một số chuyên gia cho rằng càng tăng trưởng GDP, nguồn lực của đất nước càng bị suy giảm khi tăng trưởng dựa vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Nên bỏ chỉ tiêu GDP bình quân đầu người theo đô la Mỹ

Chuyện GDP bình quân đầu người Việt Nam thua... Lào

Xét về cấu trúc sở hữu, đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam cơ bản là từ khu vực kinh tế cá thể. Trong giai đoạn từ 2010-2017 tỷ trọng này giảm được 2,7 điểm phần trăm, từ mức 32,07% trong năm 2010 xuống 29,34% năm 2017. Tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước cũng chỉ giảm nhẹ khoảng 0,7 điểm phần trăm, từ mức 29,34% trong năm 2010 xuống 28,63% năm 2017.

Trong khi đó, khu vực kinh tế tư nhân (doanh nghiệp) tăng chưa được 2 điểm phần trăm, từ mức 6,9% trong năm 2010 lên 8,64% năm 2017; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng hơn 4 điểm phần trăm, từ mức 15,15% trong năm 2010 lên 19,63% năm 2017.

Cấu trúc về sở hữu cho thấy, nền kinh tế Việt Nam rất manh mún và hầu như không có sự thay đổi đáng kể về cấu trúc. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn không thể phát triển, tỷ trọng giá trị gia tăng của khu vực này trong GDP rất thấp (dưới 10%) và hầu như không thay đổi trong suốt tám năm (2010-2017).

Điều này cho thấy khi số lượng doanh nghiệp trong nước tăng lên hay mất đi chỉ là sự thay đổi về số lượng, còn giá trị dường như không thay đổi. Đóng góp vào GDP lớn nhất vẫn là khu vực kinh tế cá thể. Tuy nhiên nếu xét về tốc độ tăng trưởng thì khu vực FDI và khu vực kinh tế tư nhân (doanh nghiệp) có tốc độ tăng ổn định nhất.

Theo nguyên tắc về thường trú của Hệ thống các tài khoản quốc gia (SNA), phần giá trị tăng thêm của khu vực có vốn nước ngoài được tính vào GDP, sau đó các doanh nghiệp trong khu vực này có thể giữ phần lợi nhuận lại để tái đầu tư và cũng có thể chuyển tiền về nước “mẹ”.

Như vậy, tuy khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp cao vào tăng trưởng GDP nhưng lại góp phần không nhỏ làm luồng tiền chảy ra nước ngoài thuần túy càng tăng nhanh hơn. Cụ thể, tăng trưởng GDP bình quân theo giá hiện hành giai đoạn 2007-2017 là 22% trong khi luồng tiền chảy ra nước ngoài thuần là 32%, từ đó làm tỷ lệ tổng thu nhập quốc gia (GNI) so với GDP giảm từ 97,2% năm 2000 xuống 95,2% năm 2017.

Đây là lý do mà một số chuyên gia cho rằng càng tăng trưởng GDP, nguồn lực của đất nước càng bị suy giảm khi tăng trưởng dựa vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hoặc tiêu dùng đầu tư như trên. Nguồn lực thực sự của nền kinh tế là tiết kiệm (saving). Tiết kiệm bắt đầu hình thành từ GDP cộng (+) phần thu được từ sở hữu trừ (-) phần chi trả sở hữu cộng (+) chuyển nhượng thuần túy trừ (-) tiêu dùng cuối cùng. Nếu “thu được từ sở hữu trừ (-) chi trả sở hữu - chi trả sở hữu thuần” là một số âm và số âm này ngày càng lớn, sẽ dẫn đến tiết kiệm ngày càng nhỏ lại.

Tiết kiệm là nguồn cơ bản để đầu tư, nếu tiết kiệm luôn nhỏ hơn khoản cần đầu tư thì nhu cầu vay sẽ càng lớn. Đấy phải chăng là lý do tại sao GDP tăng cao mà nợ phải trả ngày một nhiều. 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.