Mobile

Ly hôn và bài toán phân chia tài sản kinh doanh
Thứ Hai,  15/4/2019, 08:07 
Luật sư Nguyễn Tiến Lập

Ly hôn và bài toán phân chia tài sản kinh doanh

Luật sư Nguyễn Tiến Lập

(TBKTSG) - Vụ án ly hôn của vợ chồng chủ doanh nghiệp Cà phê Trung Nguyên sẽ để lại một dấu ấn, xét cả hai khía cạnh rất hệ trọng của đời sống hiện đại: Mối quan hệ giữa gia đình và kinh doanh cũng như giữa ly hôn và phân chia tài sản. Bài viết này chỉ đi sâu vào một phạm trù có tính học thuật và ở bình diện nguyên lý. Đó là cần giải bài toán phân chia tài sản chung trong kinh doanh của vợ chồng như thế nào trong tình huống ly hôn?

Luật Doanh nghiệp ở đâu trong vụ phân chia tài sản tại Trung Nguyên?

Ảnh: MINH DUY

Vấn đề này được đặt ra không đơn giản xuất phát từ sự e ngại chung của nhiều cặp vợ chồng có kinh doanh gia đình, đặc biệt là các ông chủ doanh nghiệp, mà chủ yếu đến từ mối quan tâm chung của xã hội rằng: Số phận các doanh nghiệp hay cả các đại công ty với hàng trăm, ngàn tỉ đồng doanh thu và hàng vạn lao động sẽ thế nào nếu chẳng may vào một “ngày đẹp trời” nào đó, vợ chồng ông chủ đưa nhau ra tòa?

Từ góc độ pháp luật, ai cũng biết bên cạnh Luật Hôn nhân và Gia đình như là một phần không tách rời của pháp luật Dân sự và là nền tảng từ bao đời của đời sống dân sự, Luật Doanh nghiệp cũng là hạ tầng đồ sộ và có tính thiết yếu không kém đối với đời sống kinh tế của con người. Vậy, sự giao thoa giữa hai luật này, cả va chạm và xung đột của nó, cần được xử lý thế nào trong từng vụ việc cụ thể để đạt đến một trạng thái hài hòa giữa các chiều khác nhau của các lợi ích chung, riêng và không đi ngược với lẽ công bằng của tự nhiên? Ngay trong khía cạnh này, hoàn toàn không ngạc nhiên khi bản án sơ thẩm về vụ ly hôn Diệp Thảo - Nguyên Vũ đã đưa ra các quyết định chưa có tiền lệ và gây nhiều tranh luận, ít nhất từ góc độ pháp luật, như tại sao các quyền sở hữu cổ phần của bà Diệp Thảo với tư cách cổ đông lại có thể bị tòa án tước bỏ, qua đó trao toàn quyền quản lý doanh nghiệp cho ông Nguyên Vũ?

Gần như đại đa số các bản án đều tuyên cho một bên vợ, hay chồng là người can dự vào quản trị công ty một cách sâu rộng nhất, quyền sở hữu cổ phần và quyền quản lý công ty, trong khi bên còn lại chỉ có quyền hưởng sự đền bù bằng tiền.

Tuy nhiên, cũng có thể sẽ là điều bất ngờ đối với phía quan điểm cho rằng bản án đã không công bằng đối với bà Diệp Thảo. Đó là theo thống kê của các luật sư hôn nhân - gia đình trên thế giới, các phương án chủ yếu để phân chia tài sản chung trong kinh doanh khi ly hôn được xếp hạng như sau:

Phổ biến nhất, gần như đại đa số các bản án đều tuyên cho một bên vợ, hay chồng là người can dự vào quản trị công ty một cách sâu rộng nhất, quyền sở hữu cổ phần và quyền quản lý công ty, trong khi bên còn lại chỉ có quyền hưởng sự đền bù bằng tiền.

Xếp tiếp theo là nhiều bản án yêu cầu cả hai bên bán doanh nghiệp để sau đó phân chia tài sản bằng tiền theo tỷ lệ đóng góp.

Cuối cùng và rất hiếm, đó là tòa án cho phép cả hai bên sau khi phân chia sở hữu cổ phần cùng tiếp tục được điều hành công ty.

Điều đó cho thấy bản án sơ thẩm đã tuyên của Tòa án TPHCM dường như thuộc vào hàng phổ biến thứ nhất của các phương án phân chia tài sản theo thông lệ chung. Mặc dù vậy, rất có thể Tòa phúc thẩm sau đó, nếu một trong hai bên kháng cáo, sẽ xét xử lại với kết quả khác đi. Hoặc, mỗi tòa án của các địa phương khác nhau sẽ ban hành các bản án khác nhau cho các vụ việc tương tự. Và như vậy, e rằng một “đường lối chung” hay tiền lệ án khó có thể được xác lập cho loại hình tranh chấp quan trọng và nhạy cảm này, và nếu thế, các nỗi lo hay băn khoăn của nhiều cặp vợ chồng là chủ doanh nghiệp sẽ vẫn không được giải tỏa.

Để giải “bài toán” khó này, trước hết cần đạt được một nhận thức căn bản chung trong giới luật và lý tưởng là cả xã hội về một số vấn đề liên quan, trong đó tôi xin tạm nêu bốn vấn đề sau đây:

Lấy vụ án ly hôn Diệp Thảo - Nguyên Vũ nổi tiếng làm một nghiên cứu tình huống (case study), tác giả bài viết hy vọng các nhà làm luật và thực thi pháp luật ở Việt Nam cũng coi đó là một khởi đầu cho chặng đường phát triển pháp luật tiếp theo của nước ta trong lĩnh vực ly hôn và phân chia tài sản trong kinh doanh.

Thứ nhất, cần quan niệm rằng phân chia tài sản chung của vợ chồng trong kinh doanh một khi có thành lập doanh nghiệp, dù với một hoặc cả hai bên làm chủ sở hữu, là tình huống đặc biệt, không giống với phân chia tài sản chung khác.

Một khi doanh nghiệp là pháp nhân độc lập, chủ sở hữu doanh nghiệp thực chất không còn là người chủ của những gì doanh nghiệp có mà chỉ còn làm chủ đối với các quyền và lợi ích có liên quan, bao gồm quyền quản lý và quyền được phân chia lợi nhuận. Hai quyền này rất quan trọng nhưng giá trị thực của nó lại không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu hay vị thế sở hữu của họ. Chẳng hạn, anh có thể là cổ đông lớn nhưng không nhất thiết tham gia điều hành chủ chốt, hay doanh nghiệp có thể có tài sản và doanh số rất lớn nhưng lại không có lợi nhuận để chia. Trong khi đó, tình huống ly hôn của chủ doanh nghiệp không nhất thiết dẫn đến chấm dứt hay thanh lý doanh nghiệp để theo đó, tài sản của doanh nghiệp có thể bán đi để lấy tiền chia cho hai vợ chồng. Nói một cách khác, cái giá trị tài sản chung là doanh nghiệp này là một đại lượng biến thiên theo hoàn cảnh. Nó có thể rất cao khi doanh nghiệp được kỳ vọng phát triển tốt và sinh lời hoặc ngược lại nếu doanh nghiệp rơi vào khó khăn, khủng hoảng, bao gồm cả xung đột và tranh chấp về hôn nhân của chủ sở hữu.

Như vậy, rõ ràng việc phân chia loại tài sản này không hề đơn giản để tuân theo một công thức chung, mặc dù quyết định pháp lý bao giờ cũng hướng tới bảo vệ cái gọi là “lợi ích hợp pháp”của các bên liên quan.

Thứ hai, một doanh nghiệp đang hoạt động không bao giờ chỉ là tài sản có ý nghĩa riêng của hai vợ chồng mà gắn liền với các yếu tố xã hội và công cộng.

Lịch sử phát triển của Luật Công ty và pháp luật liên quan đã đi từ bảo vệ quyền riêng của chủ sở hữu hay cổ đông đến bảo vệ cả quyền làm chủ nói chung (là quyền tham gia quản lý và hưởng lợi vật chất) của cả người lao động, thậm chí cả đối tác kinh doanh, khách hàng và người tiêu dùng. Do đó, một phán quyết của tòa án khi xét xử tranh chấp về tài sản hôn nhân không thể không xem xét đến các yếu tố thuộc lợi ích chung này, theo đó dù trong tình huống nào thì sự tồn tại và phát triển ổn định của doanh nghiệp như một pháp nhân độc lập cũng cần được bảo vệ.

Thứ ba, nếu xây dựng và ban hành pháp luật cần dựa trên nền tảng lý thuyết thì khi giải thích và áp dụng pháp luật, những nguyên tắc lý thuyết nhất định cũng cần được tôn trọng.

Chẳng hạn, Luật Hôn nhân và Gia đình cho phép thẩm phán chỉ được “suy đoán công bằng” rằng mọi tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng để phân chia theo nguyên tắc 50/50, nếu không có thỏa thuận riêng hay có sự phản đối của một bên. Như vậy, khi có sự giao thoa giữa các luật khác nhau liên quan đến phân chia tài sản chung thì phải chăng nguyên tắc “luật riêng đè luật chung” phải được áp dụng? Có nghĩa rằng đối với tài sản là doanh nghiệp, bởi Luật Doanh nghiệp như là “luật riêng” đã yêu cầu kê khai rõ tên và tỷ lệ nắm giữ cổ phần của người chủ khi thành lập doanh nghiệp, trong trường hợp đăng ký doanh nghiệp có ghi (hoặc không) tên vợ hay chồng, thì tình trạng sở hữu cụ thể đó phải được tôn trọng. Trên thực tế, khác với trường hợp bán bất động sản là tài sản trong hôn nhân mà theo Bộ luật Dân sự bắt buộc phải có ý kiến của bên kia là vợ hoặc chồng, khi chuyển nhượng cổ phần công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp, chỉ cần quyết định duy nhất của chủ sở hữu cổ phần có tên trên đăng ký doanh nghiệp là đủ. Tuy nhiên, bởi Luật Hôn nhân và Gia đình ra đời nhằm mục đích hiện thực hóa các ý tưởng cao quý và nhân đạo về tôn trọng quyền của phụ nữ, tại nhiều nước đã có sự tách bạch giữa quyền quản lý, định đoạt cổ phần công ty (vốn chỉ dành cho người nắm giữ cổ phần công ty) và quyền hưởng lợi nhuận được chia từ công ty. Bởi vì, người vợ dù không tham gia kinh doanh nhưng lại đảm nhiệm chức năng chăm sóc con và gia đình thay cho chồng, pháp luật cho họ quyền được hưởng thành quả, được chia sẻ tiền cổ tức hay đồng sở hữu các tài sản được tạo lập từ kết quả kinh doanh do người chồng làm chủ.

Cuối cùng, dù một hệ thống luật được phát triển theo khuynh hướng nào thì cũng phải đối mặt với hai mâu thuẫn phát sinh từ thực tiễn. Một là, cần thiết bảo vệ lợi ích của từng cá nhân trong hôn nhân - gia đình nhưng đồng thời cũng không gây tổn hại đến lợi ích chung của nền kinh tế thông qua duy trì sự ổn định của các quan hệ kinh doanh bị tác động bởi sự tan vỡ gia đình. Hai là, với thực tế tuyệt đại đa số các chủ doanh nghiệp là đàn ông, cũng là người tạo lập nền tảng kinh tế của gia đình, làm sao để việc áp dụng các nguyên tắc bình đẳng hay bảo vệ quyền của phụ nữ khi phân chia tài sản ly hôn không dẫn đến hay tránh được những lạm dụng và tổn hại không đáng có. Chẳng hạn, người vợ ít có sự đóng góp công sức nhưng lại được chia rất nhiều tài sản nên chủ động tìm cách kiếm lợi thông qua ly hôn; hay người vợ được trao quyền sở hữu nhiều tài sản là doanh nghiệp nhưng lại không có năng lực điều hành.

Pháp luật ở nhiều nước, do đó, không tập trung quy định chi tiết việc phân chia tài sản mà chú trọng vào nghĩa vụ cấp dưỡng đối với bên yếu thế hơn sau khi ly hôn. Phương án này được coi là có ý nghĩa thực tế trong khi vẫn đề cao được các giá trị đạo đức trong hôn nhân và gia đình.

Tóm lại, lấy vụ án ly hôn Diệp Thảo - Nguyên Vũ nổi tiếng làm một nghiên cứu tình huống (case study), tác giả bài viết hy vọng các nhà làm luật và thực thi pháp luật ở Việt Nam cũng coi đó là một khởi đầu cho chặng đường phát triển pháp luật tiếp theo của nước ta trong lĩnh vực ly hôn và phân chia tài sản trong kinh doanh. Sự phát triển ấy cần đổi mới bằng hai cách tiếp cận: Vừa trao quyền và khuyến khích các thẩm phán tạo nên án lệ, vừa tổng kết để quy định từ các tình huống cụ thể và sinh động của đời sống, hơn là chỉ dựa vào các lý thuyết trừu tượng, chung chung hay thậm chí đã lỗi thời. 

(*) Thành viên NHQuang & Cộng sự, trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam

Vị trí đặt bình chọn

 

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Ly hôn và bài toán phân chia tài sản kinh doanh

Luật sư Nguyễn Tiến Lập
Thứ Hai,  15/4/2019, 08:07 

Ly hôn và bài toán phân chia tài sản kinh doanh

Luật sư Nguyễn Tiến Lập

(TBKTSG) - Vụ án ly hôn của vợ chồng chủ doanh nghiệp Cà phê Trung Nguyên sẽ để lại một dấu ấn, xét cả hai khía cạnh rất hệ trọng của đời sống hiện đại: Mối quan hệ giữa gia đình và kinh doanh cũng như giữa ly hôn và phân chia tài sản. Bài viết này chỉ đi sâu vào một phạm trù có tính học thuật và ở bình diện nguyên lý. Đó là cần giải bài toán phân chia tài sản chung trong kinh doanh của vợ chồng như thế nào trong tình huống ly hôn?

Luật Doanh nghiệp ở đâu trong vụ phân chia tài sản tại Trung Nguyên?

Ảnh: MINH DUY

Vấn đề này được đặt ra không đơn giản xuất phát từ sự e ngại chung của nhiều cặp vợ chồng có kinh doanh gia đình, đặc biệt là các ông chủ doanh nghiệp, mà chủ yếu đến từ mối quan tâm chung của xã hội rằng: Số phận các doanh nghiệp hay cả các đại công ty với hàng trăm, ngàn tỉ đồng doanh thu và hàng vạn lao động sẽ thế nào nếu chẳng may vào một “ngày đẹp trời” nào đó, vợ chồng ông chủ đưa nhau ra tòa?

Từ góc độ pháp luật, ai cũng biết bên cạnh Luật Hôn nhân và Gia đình như là một phần không tách rời của pháp luật Dân sự và là nền tảng từ bao đời của đời sống dân sự, Luật Doanh nghiệp cũng là hạ tầng đồ sộ và có tính thiết yếu không kém đối với đời sống kinh tế của con người. Vậy, sự giao thoa giữa hai luật này, cả va chạm và xung đột của nó, cần được xử lý thế nào trong từng vụ việc cụ thể để đạt đến một trạng thái hài hòa giữa các chiều khác nhau của các lợi ích chung, riêng và không đi ngược với lẽ công bằng của tự nhiên? Ngay trong khía cạnh này, hoàn toàn không ngạc nhiên khi bản án sơ thẩm về vụ ly hôn Diệp Thảo - Nguyên Vũ đã đưa ra các quyết định chưa có tiền lệ và gây nhiều tranh luận, ít nhất từ góc độ pháp luật, như tại sao các quyền sở hữu cổ phần của bà Diệp Thảo với tư cách cổ đông lại có thể bị tòa án tước bỏ, qua đó trao toàn quyền quản lý doanh nghiệp cho ông Nguyên Vũ?

Gần như đại đa số các bản án đều tuyên cho một bên vợ, hay chồng là người can dự vào quản trị công ty một cách sâu rộng nhất, quyền sở hữu cổ phần và quyền quản lý công ty, trong khi bên còn lại chỉ có quyền hưởng sự đền bù bằng tiền.

Tuy nhiên, cũng có thể sẽ là điều bất ngờ đối với phía quan điểm cho rằng bản án đã không công bằng đối với bà Diệp Thảo. Đó là theo thống kê của các luật sư hôn nhân - gia đình trên thế giới, các phương án chủ yếu để phân chia tài sản chung trong kinh doanh khi ly hôn được xếp hạng như sau:

Phổ biến nhất, gần như đại đa số các bản án đều tuyên cho một bên vợ, hay chồng là người can dự vào quản trị công ty một cách sâu rộng nhất, quyền sở hữu cổ phần và quyền quản lý công ty, trong khi bên còn lại chỉ có quyền hưởng sự đền bù bằng tiền.

Xếp tiếp theo là nhiều bản án yêu cầu cả hai bên bán doanh nghiệp để sau đó phân chia tài sản bằng tiền theo tỷ lệ đóng góp.

Cuối cùng và rất hiếm, đó là tòa án cho phép cả hai bên sau khi phân chia sở hữu cổ phần cùng tiếp tục được điều hành công ty.

Điều đó cho thấy bản án sơ thẩm đã tuyên của Tòa án TPHCM dường như thuộc vào hàng phổ biến thứ nhất của các phương án phân chia tài sản theo thông lệ chung. Mặc dù vậy, rất có thể Tòa phúc thẩm sau đó, nếu một trong hai bên kháng cáo, sẽ xét xử lại với kết quả khác đi. Hoặc, mỗi tòa án của các địa phương khác nhau sẽ ban hành các bản án khác nhau cho các vụ việc tương tự. Và như vậy, e rằng một “đường lối chung” hay tiền lệ án khó có thể được xác lập cho loại hình tranh chấp quan trọng và nhạy cảm này, và nếu thế, các nỗi lo hay băn khoăn của nhiều cặp vợ chồng là chủ doanh nghiệp sẽ vẫn không được giải tỏa.

Để giải “bài toán” khó này, trước hết cần đạt được một nhận thức căn bản chung trong giới luật và lý tưởng là cả xã hội về một số vấn đề liên quan, trong đó tôi xin tạm nêu bốn vấn đề sau đây:

Lấy vụ án ly hôn Diệp Thảo - Nguyên Vũ nổi tiếng làm một nghiên cứu tình huống (case study), tác giả bài viết hy vọng các nhà làm luật và thực thi pháp luật ở Việt Nam cũng coi đó là một khởi đầu cho chặng đường phát triển pháp luật tiếp theo của nước ta trong lĩnh vực ly hôn và phân chia tài sản trong kinh doanh.

Thứ nhất, cần quan niệm rằng phân chia tài sản chung của vợ chồng trong kinh doanh một khi có thành lập doanh nghiệp, dù với một hoặc cả hai bên làm chủ sở hữu, là tình huống đặc biệt, không giống với phân chia tài sản chung khác.

Một khi doanh nghiệp là pháp nhân độc lập, chủ sở hữu doanh nghiệp thực chất không còn là người chủ của những gì doanh nghiệp có mà chỉ còn làm chủ đối với các quyền và lợi ích có liên quan, bao gồm quyền quản lý và quyền được phân chia lợi nhuận. Hai quyền này rất quan trọng nhưng giá trị thực của nó lại không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu hay vị thế sở hữu của họ. Chẳng hạn, anh có thể là cổ đông lớn nhưng không nhất thiết tham gia điều hành chủ chốt, hay doanh nghiệp có thể có tài sản và doanh số rất lớn nhưng lại không có lợi nhuận để chia. Trong khi đó, tình huống ly hôn của chủ doanh nghiệp không nhất thiết dẫn đến chấm dứt hay thanh lý doanh nghiệp để theo đó, tài sản của doanh nghiệp có thể bán đi để lấy tiền chia cho hai vợ chồng. Nói một cách khác, cái giá trị tài sản chung là doanh nghiệp này là một đại lượng biến thiên theo hoàn cảnh. Nó có thể rất cao khi doanh nghiệp được kỳ vọng phát triển tốt và sinh lời hoặc ngược lại nếu doanh nghiệp rơi vào khó khăn, khủng hoảng, bao gồm cả xung đột và tranh chấp về hôn nhân của chủ sở hữu.

Như vậy, rõ ràng việc phân chia loại tài sản này không hề đơn giản để tuân theo một công thức chung, mặc dù quyết định pháp lý bao giờ cũng hướng tới bảo vệ cái gọi là “lợi ích hợp pháp”của các bên liên quan.

Thứ hai, một doanh nghiệp đang hoạt động không bao giờ chỉ là tài sản có ý nghĩa riêng của hai vợ chồng mà gắn liền với các yếu tố xã hội và công cộng.

Lịch sử phát triển của Luật Công ty và pháp luật liên quan đã đi từ bảo vệ quyền riêng của chủ sở hữu hay cổ đông đến bảo vệ cả quyền làm chủ nói chung (là quyền tham gia quản lý và hưởng lợi vật chất) của cả người lao động, thậm chí cả đối tác kinh doanh, khách hàng và người tiêu dùng. Do đó, một phán quyết của tòa án khi xét xử tranh chấp về tài sản hôn nhân không thể không xem xét đến các yếu tố thuộc lợi ích chung này, theo đó dù trong tình huống nào thì sự tồn tại và phát triển ổn định của doanh nghiệp như một pháp nhân độc lập cũng cần được bảo vệ.

Thứ ba, nếu xây dựng và ban hành pháp luật cần dựa trên nền tảng lý thuyết thì khi giải thích và áp dụng pháp luật, những nguyên tắc lý thuyết nhất định cũng cần được tôn trọng.

Chẳng hạn, Luật Hôn nhân và Gia đình cho phép thẩm phán chỉ được “suy đoán công bằng” rằng mọi tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng để phân chia theo nguyên tắc 50/50, nếu không có thỏa thuận riêng hay có sự phản đối của một bên. Như vậy, khi có sự giao thoa giữa các luật khác nhau liên quan đến phân chia tài sản chung thì phải chăng nguyên tắc “luật riêng đè luật chung” phải được áp dụng? Có nghĩa rằng đối với tài sản là doanh nghiệp, bởi Luật Doanh nghiệp như là “luật riêng” đã yêu cầu kê khai rõ tên và tỷ lệ nắm giữ cổ phần của người chủ khi thành lập doanh nghiệp, trong trường hợp đăng ký doanh nghiệp có ghi (hoặc không) tên vợ hay chồng, thì tình trạng sở hữu cụ thể đó phải được tôn trọng. Trên thực tế, khác với trường hợp bán bất động sản là tài sản trong hôn nhân mà theo Bộ luật Dân sự bắt buộc phải có ý kiến của bên kia là vợ hoặc chồng, khi chuyển nhượng cổ phần công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp, chỉ cần quyết định duy nhất của chủ sở hữu cổ phần có tên trên đăng ký doanh nghiệp là đủ. Tuy nhiên, bởi Luật Hôn nhân và Gia đình ra đời nhằm mục đích hiện thực hóa các ý tưởng cao quý và nhân đạo về tôn trọng quyền của phụ nữ, tại nhiều nước đã có sự tách bạch giữa quyền quản lý, định đoạt cổ phần công ty (vốn chỉ dành cho người nắm giữ cổ phần công ty) và quyền hưởng lợi nhuận được chia từ công ty. Bởi vì, người vợ dù không tham gia kinh doanh nhưng lại đảm nhiệm chức năng chăm sóc con và gia đình thay cho chồng, pháp luật cho họ quyền được hưởng thành quả, được chia sẻ tiền cổ tức hay đồng sở hữu các tài sản được tạo lập từ kết quả kinh doanh do người chồng làm chủ.

Cuối cùng, dù một hệ thống luật được phát triển theo khuynh hướng nào thì cũng phải đối mặt với hai mâu thuẫn phát sinh từ thực tiễn. Một là, cần thiết bảo vệ lợi ích của từng cá nhân trong hôn nhân - gia đình nhưng đồng thời cũng không gây tổn hại đến lợi ích chung của nền kinh tế thông qua duy trì sự ổn định của các quan hệ kinh doanh bị tác động bởi sự tan vỡ gia đình. Hai là, với thực tế tuyệt đại đa số các chủ doanh nghiệp là đàn ông, cũng là người tạo lập nền tảng kinh tế của gia đình, làm sao để việc áp dụng các nguyên tắc bình đẳng hay bảo vệ quyền của phụ nữ khi phân chia tài sản ly hôn không dẫn đến hay tránh được những lạm dụng và tổn hại không đáng có. Chẳng hạn, người vợ ít có sự đóng góp công sức nhưng lại được chia rất nhiều tài sản nên chủ động tìm cách kiếm lợi thông qua ly hôn; hay người vợ được trao quyền sở hữu nhiều tài sản là doanh nghiệp nhưng lại không có năng lực điều hành.

Pháp luật ở nhiều nước, do đó, không tập trung quy định chi tiết việc phân chia tài sản mà chú trọng vào nghĩa vụ cấp dưỡng đối với bên yếu thế hơn sau khi ly hôn. Phương án này được coi là có ý nghĩa thực tế trong khi vẫn đề cao được các giá trị đạo đức trong hôn nhân và gia đình.

Tóm lại, lấy vụ án ly hôn Diệp Thảo - Nguyên Vũ nổi tiếng làm một nghiên cứu tình huống (case study), tác giả bài viết hy vọng các nhà làm luật và thực thi pháp luật ở Việt Nam cũng coi đó là một khởi đầu cho chặng đường phát triển pháp luật tiếp theo của nước ta trong lĩnh vực ly hôn và phân chia tài sản trong kinh doanh. Sự phát triển ấy cần đổi mới bằng hai cách tiếp cận: Vừa trao quyền và khuyến khích các thẩm phán tạo nên án lệ, vừa tổng kết để quy định từ các tình huống cụ thể và sinh động của đời sống, hơn là chỉ dựa vào các lý thuyết trừu tượng, chung chung hay thậm chí đã lỗi thời. 

(*) Thành viên NHQuang & Cộng sự, trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam

 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.