Mobile

Chuyển biến mới của dòng vốn đầu tư Nhật Bản
Thứ Tư,  8/5/2019, 08:39 
Quốc Hùng

Chuyển biến mới của dòng vốn đầu tư Nhật Bản

Quốc Hùng

(TBKTSG) - Nhiều doanh nghiệp Nhật Bản gần đây rót mạnh vốn trở lại vào lĩnh vực chế biến, chế tạo sau năm năm sụt giảm đầu tư vào lĩnh vực này. Mặt khác, họ cũng nhắm đến thị trường nội địa của nước sở tại nhiều hơn thay vì chỉ tập trung xuất khẩu ra thị trường các nước khác.

Vốn đầu tư của Nhật vào lĩnh vực chế tạo đã tăng mạnh trở lại. Ảnh: Quốc Hùng

Công nghiệp chế biến, chế tạo “nóng” trở lại

Tập đoàn Nhật Bản Marubeni gần đây quyết định rót thêm 115 triệu đô la Mỹ vào tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu để xây nhà máy cà phê sau khi vừa cho khởi công xây dựng nhà máy giấy bao bì Kraft of Asia với mức vốn đầu tư hơn 4.800 tỉ đồng tại địa phương này.

Ở khu vực miền Trung, tập đoàn Hoya cũng đã động thổ xây nhà máy sản xuất thiết bị y tế thứ hai với công suất khoảng 130 triệu sản phẩm/năm, đặt tại khu công nghiệp VSIP Quảng Ngãi, sau hơn 10 năm phát triển nhà máy đầu tiên tại Bình Dương.

Marubeni và Hoya là hai trong số nhiều doanh nghiệp Nhật đang tăng cường rót vốn vào công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam, lĩnh vực ghi nhận sự sụt giảm đầu tư khá mạnh trong những năm qua. Trước đó, từ năm 2012, các lĩnh vực khác như dịch vụ, thương mại, bất động sản nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các doanh nghiệp nước này.

Ông Takimoto Koji, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TPHCM, cho biết vốn đầu tư doanh nghiệp Nhật vào ngành sản xuất, chế tạo ở Việt Nam liên tục bị sụt giảm trong năm năm liền (2012-2017), nhưng bắt đầu tăng mạnh trở lại vào năm ngoái. “Vốn đầu tư Nhật cam kết vào ngành chế biến ở Việt Nam năm 2018 cao gấp 3,6 lần so với năm trước đó, cho thấy sự trở lại của doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản”, ông Koji chia sẻ. Nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực chế tạo của Nhật năm 2018 chiếm đến 77% tổng vốn cam kết, đạt gần 1,68 tỉ đô la; trong khi năm 2017 chỉ đạt 426 triệu đô la; năm 2016 là 516 triệu đô la...

Đáng chú ý, những dự án sản xuất có quy mô lớn đã “vắng bóng” hoặc suy giảm trong những năm qua nay đã quay trở lại. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, năm 2018, xứ mặt trời mọc có đến 6 dự án trong lĩnh vực này với vốn cam kết trên 100 triệu đô la/dự án, như dự án xây dựng nhà máy sản xuất bìa carton, nhà máy sản xuất phanh xe hơi hay nhà máy sản xuất mô tơ cho máy điều hòa... Ngoài ra, những doanh nghiệp chế tạo của Nhật đã có nhà máy ở Việt Nam trong năm qua tiếp tục mở rộng sản xuất và điểm đến là các tỉnh, địa phương còn nhiều đất đai, thay vì tập trung ở TPHCM và Hà Nội như trước đây.

Báo cáo của JETRO cho thấy có đến 69,8% số doanh nghiệp Nhật đầu tư tại Việt Nam có phương châm “mở rộng kinh doanh”, tỷ lệ cao nhất so với các doanh nghiệp nước này đang đầu tư ở 19 quốc gia khác. Năm 2018, có 65,3% doanh nghiệp Nhật trả lời kinh doanh có lợi nhuận, tăng 0,2% so với năm trước đó. Dự báo lợi nhuận kinh doanh năm 2019, có 58,7% doanh nghiệp Nhật ước tính lợi nhuận kinh doanh sẽ được cải thiện.

Hướng vào thị trường nội địa nước sở tại

Các nguyên nhân khiến Việt Nam có thể “thuyết phục” các doanh nghiệp chế biến chế tạo Nhật đầu tư vốn nhiều trở lại, theo người đứng đầu JETRO tại TPHCM, đầu tiên là do giá nhân công của Việt Nam dù có tăng lên, song so với nhiều nước khác thì vẫn còn rẻ. Thứ hai là bởi khả năng của các nhà cung ứng trong nước ngày càng được nâng cao, giúp nhà sản xuất tăng tỷ lệ nội địa hóa, đáp ứng nguyên liệu tức thì cho việc sản xuất và phần nào giảm được giá thành sản phẩm.

Theo khảo sát của JETRO về thực trạng của các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại châu Á, châu Đại dương năm tài chính 2018, tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam tăng dần, đạt mức tăng cao nhất trong số 20 quốc gia và vùng lãnh thổ là đối tượng khảo sát. Việt Nam đạt tỷ lệ nội địa hóa 36,3%, lần đầu tiên vượt Malaysia (36,1%).

Theo ông Koji, doanh nghiệp Nhật trước đây đầu tư các dự án chế tạo ở Việt Nam chủ yếu để xuất khẩu nhưng gần đây lại có xu hướng chuyển sang cung ứng nội địa. Khi được hỏi lý do mở rộng kinh doanh tại Việt Nam, 64,9% doanh nghiệp được khảo sát cho là do doanh thu tại thị trường nội địa tăng, cao hơn số doanh nghiệp (45%) cho là do tăng doanh thu xuất khẩu. “Doanh nghiệp Nhật đánh giá làm ăn ở Việt Nam ngày càng có lãi hơn và thị trường có khả năng tiếp tục tăng trưởng cao”, ông Koji lưu ý.

Theo vị này, ngành công nghiệp chế biến chế tạo của Nhật đang mất dần đi theo xu hướng dịch chuyển sang các quốc gia khác. Tuy nhiên đây vẫn là những ngành thế mạnh và tạo ra giá trị gia tăng cao. Vấn đề là Việt Nam cần lựa chọn ngành nào là ưu việt và có ích để thu hút. “Việt Nam cần thu hút vốn Nhật theo cách có trọng điểm, có chiến lược”, ông nói, và cho biết mỗi năm JETRO tại TPHCM tiếp nhận khoảng 6.000 lượt doanh nghiệp Nhật đến tìm kiếm cơ hội đầu tư, cho thấy làn sóng đầu tư Nhật vào Việt Nam không ngừng tăng cao.

Đẩy mạnh M&A

Bên cạnh đầu tư trực tiếp, giới đầu tư Nhật cũng đang gia tăng đầu tư gián tiếp thông qua hình thức mua lại cổ phần, thâu tóm doanh nghiệp trong nước. Chẳng hạn mới đây, Taisho Pharmaceutical công khai kế hoạch dự chi hơn 3.400 tỉ đồng mua cổ phiếu Dược Hậu Giang (DHG) để nâng tỷ tệ nắm giữ tại DHG lên 74,12 triệu cổ phiếu, tương đương 56,7% vốn điều lệ.

Không riêng Taisho, nhiều nhà đầu tư Nhật khác đang “săn lùng” doanh nghiệp trong nước để mua lại một lượng lớn cổ phần chi phối hoặc thâu tóm hoàn toàn để được nắm quyền điều hành. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, riêng năm ngoái, số thương vụ góp vốn/mua cổ phần doanh nghiệp trong nước do doanh nghiệp Nhật thực hiện lên đến 585, trong khi đầu tư trực tiếp chỉ gần 430 dự án.

Theo các chuyên gia tư vấn M&A, khác với tính cẩn trọng vốn có, trong những năm gần đây, các nhà đầu tư Nhật đã ra quyết định nhanh hơn trong việc rót vốn vào các doanh nghiệp đã niêm yết hoặc mua lại những doanh nghiệp có thương hiệu tốt, những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực còn nhiều tiềm năng để có thể thâm nhập thị trường ngay. Hoạt động này diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau như bán lẻ, thực phẩm, dược phẩm, làm đẹp, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, cùng bất động sản và cung ứng dịch vụ khác.

Vẫn còn quan ngại

Kết quả khảo sát cũng chỉ ra một số vấn đề quan ngại của doanh nghiệp Nhật Bản khi đầu tư kinh doanh ở Việt Nam. Đó là hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vận hành không rõ ràng, cơ chế thủ tục thuế phức tạp, thường xuyên có sự thay đổi. Ngoài ra, chi phí nhân công trong ngành công nghiệp chế tạo tại Việt Nam đang tăng nhiều, rút ngắn khoảng cách so với các nước tiên tiến. Hay tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam đã đạt 36,5%, nhưng nếu so với Trung Quốc, Thái Lan... vẫn còn ở mức thấp.

Theo JETRO, để có thể tận dụng được làn sóng đầu tư Nhật, Chính phủ và doanh nghiệp cần chú trọng vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Vì trong tương lai, việc ứng dụng robot vào sản xuất là tất yếu, khi đó các nhà máy sẽ cần nguồn nhân lực chất lượng cao có thể điều khiển robot thay thế lao động phổ thông. Trên thực tế, do nhìn thấy chi phí lao động đang tăng, một số doanh nghiệp Nhật cũng đã đầu tư nhiều vào công nghệ và robot để thay thế.

Các chuyên gia nhận định thêm, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), trong đó Việt Nam và Nhật Bản cùng là thành viên, sẽ là lực đẩy hơn nữa cho vốn Nhật tăng cao vào Việt Nam. Tuy vậy, để tận dụng được lợi thế này đòi hỏi Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, cải cách bộ máy hành chính. 

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Chuyển biến mới của dòng vốn đầu tư Nhật Bản

Quốc Hùng
Thứ Tư,  8/5/2019, 08:39 

Chuyển biến mới của dòng vốn đầu tư Nhật Bản

Quốc Hùng

(TBKTSG) - Nhiều doanh nghiệp Nhật Bản gần đây rót mạnh vốn trở lại vào lĩnh vực chế biến, chế tạo sau năm năm sụt giảm đầu tư vào lĩnh vực này. Mặt khác, họ cũng nhắm đến thị trường nội địa của nước sở tại nhiều hơn thay vì chỉ tập trung xuất khẩu ra thị trường các nước khác.

Vốn đầu tư của Nhật vào lĩnh vực chế tạo đã tăng mạnh trở lại. Ảnh: Quốc Hùng

Công nghiệp chế biến, chế tạo “nóng” trở lại

Tập đoàn Nhật Bản Marubeni gần đây quyết định rót thêm 115 triệu đô la Mỹ vào tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu để xây nhà máy cà phê sau khi vừa cho khởi công xây dựng nhà máy giấy bao bì Kraft of Asia với mức vốn đầu tư hơn 4.800 tỉ đồng tại địa phương này.

Ở khu vực miền Trung, tập đoàn Hoya cũng đã động thổ xây nhà máy sản xuất thiết bị y tế thứ hai với công suất khoảng 130 triệu sản phẩm/năm, đặt tại khu công nghiệp VSIP Quảng Ngãi, sau hơn 10 năm phát triển nhà máy đầu tiên tại Bình Dương.

Marubeni và Hoya là hai trong số nhiều doanh nghiệp Nhật đang tăng cường rót vốn vào công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam, lĩnh vực ghi nhận sự sụt giảm đầu tư khá mạnh trong những năm qua. Trước đó, từ năm 2012, các lĩnh vực khác như dịch vụ, thương mại, bất động sản nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các doanh nghiệp nước này.

Ông Takimoto Koji, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TPHCM, cho biết vốn đầu tư doanh nghiệp Nhật vào ngành sản xuất, chế tạo ở Việt Nam liên tục bị sụt giảm trong năm năm liền (2012-2017), nhưng bắt đầu tăng mạnh trở lại vào năm ngoái. “Vốn đầu tư Nhật cam kết vào ngành chế biến ở Việt Nam năm 2018 cao gấp 3,6 lần so với năm trước đó, cho thấy sự trở lại của doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản”, ông Koji chia sẻ. Nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực chế tạo của Nhật năm 2018 chiếm đến 77% tổng vốn cam kết, đạt gần 1,68 tỉ đô la; trong khi năm 2017 chỉ đạt 426 triệu đô la; năm 2016 là 516 triệu đô la...

Đáng chú ý, những dự án sản xuất có quy mô lớn đã “vắng bóng” hoặc suy giảm trong những năm qua nay đã quay trở lại. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, năm 2018, xứ mặt trời mọc có đến 6 dự án trong lĩnh vực này với vốn cam kết trên 100 triệu đô la/dự án, như dự án xây dựng nhà máy sản xuất bìa carton, nhà máy sản xuất phanh xe hơi hay nhà máy sản xuất mô tơ cho máy điều hòa... Ngoài ra, những doanh nghiệp chế tạo của Nhật đã có nhà máy ở Việt Nam trong năm qua tiếp tục mở rộng sản xuất và điểm đến là các tỉnh, địa phương còn nhiều đất đai, thay vì tập trung ở TPHCM và Hà Nội như trước đây.

Báo cáo của JETRO cho thấy có đến 69,8% số doanh nghiệp Nhật đầu tư tại Việt Nam có phương châm “mở rộng kinh doanh”, tỷ lệ cao nhất so với các doanh nghiệp nước này đang đầu tư ở 19 quốc gia khác. Năm 2018, có 65,3% doanh nghiệp Nhật trả lời kinh doanh có lợi nhuận, tăng 0,2% so với năm trước đó. Dự báo lợi nhuận kinh doanh năm 2019, có 58,7% doanh nghiệp Nhật ước tính lợi nhuận kinh doanh sẽ được cải thiện.

Hướng vào thị trường nội địa nước sở tại

Các nguyên nhân khiến Việt Nam có thể “thuyết phục” các doanh nghiệp chế biến chế tạo Nhật đầu tư vốn nhiều trở lại, theo người đứng đầu JETRO tại TPHCM, đầu tiên là do giá nhân công của Việt Nam dù có tăng lên, song so với nhiều nước khác thì vẫn còn rẻ. Thứ hai là bởi khả năng của các nhà cung ứng trong nước ngày càng được nâng cao, giúp nhà sản xuất tăng tỷ lệ nội địa hóa, đáp ứng nguyên liệu tức thì cho việc sản xuất và phần nào giảm được giá thành sản phẩm.

Theo khảo sát của JETRO về thực trạng của các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại châu Á, châu Đại dương năm tài chính 2018, tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam tăng dần, đạt mức tăng cao nhất trong số 20 quốc gia và vùng lãnh thổ là đối tượng khảo sát. Việt Nam đạt tỷ lệ nội địa hóa 36,3%, lần đầu tiên vượt Malaysia (36,1%).

Theo ông Koji, doanh nghiệp Nhật trước đây đầu tư các dự án chế tạo ở Việt Nam chủ yếu để xuất khẩu nhưng gần đây lại có xu hướng chuyển sang cung ứng nội địa. Khi được hỏi lý do mở rộng kinh doanh tại Việt Nam, 64,9% doanh nghiệp được khảo sát cho là do doanh thu tại thị trường nội địa tăng, cao hơn số doanh nghiệp (45%) cho là do tăng doanh thu xuất khẩu. “Doanh nghiệp Nhật đánh giá làm ăn ở Việt Nam ngày càng có lãi hơn và thị trường có khả năng tiếp tục tăng trưởng cao”, ông Koji lưu ý.

Theo vị này, ngành công nghiệp chế biến chế tạo của Nhật đang mất dần đi theo xu hướng dịch chuyển sang các quốc gia khác. Tuy nhiên đây vẫn là những ngành thế mạnh và tạo ra giá trị gia tăng cao. Vấn đề là Việt Nam cần lựa chọn ngành nào là ưu việt và có ích để thu hút. “Việt Nam cần thu hút vốn Nhật theo cách có trọng điểm, có chiến lược”, ông nói, và cho biết mỗi năm JETRO tại TPHCM tiếp nhận khoảng 6.000 lượt doanh nghiệp Nhật đến tìm kiếm cơ hội đầu tư, cho thấy làn sóng đầu tư Nhật vào Việt Nam không ngừng tăng cao.

Đẩy mạnh M&A

Bên cạnh đầu tư trực tiếp, giới đầu tư Nhật cũng đang gia tăng đầu tư gián tiếp thông qua hình thức mua lại cổ phần, thâu tóm doanh nghiệp trong nước. Chẳng hạn mới đây, Taisho Pharmaceutical công khai kế hoạch dự chi hơn 3.400 tỉ đồng mua cổ phiếu Dược Hậu Giang (DHG) để nâng tỷ tệ nắm giữ tại DHG lên 74,12 triệu cổ phiếu, tương đương 56,7% vốn điều lệ.

Không riêng Taisho, nhiều nhà đầu tư Nhật khác đang “săn lùng” doanh nghiệp trong nước để mua lại một lượng lớn cổ phần chi phối hoặc thâu tóm hoàn toàn để được nắm quyền điều hành. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, riêng năm ngoái, số thương vụ góp vốn/mua cổ phần doanh nghiệp trong nước do doanh nghiệp Nhật thực hiện lên đến 585, trong khi đầu tư trực tiếp chỉ gần 430 dự án.

Theo các chuyên gia tư vấn M&A, khác với tính cẩn trọng vốn có, trong những năm gần đây, các nhà đầu tư Nhật đã ra quyết định nhanh hơn trong việc rót vốn vào các doanh nghiệp đã niêm yết hoặc mua lại những doanh nghiệp có thương hiệu tốt, những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực còn nhiều tiềm năng để có thể thâm nhập thị trường ngay. Hoạt động này diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau như bán lẻ, thực phẩm, dược phẩm, làm đẹp, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, cùng bất động sản và cung ứng dịch vụ khác.

Vẫn còn quan ngại

Kết quả khảo sát cũng chỉ ra một số vấn đề quan ngại của doanh nghiệp Nhật Bản khi đầu tư kinh doanh ở Việt Nam. Đó là hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vận hành không rõ ràng, cơ chế thủ tục thuế phức tạp, thường xuyên có sự thay đổi. Ngoài ra, chi phí nhân công trong ngành công nghiệp chế tạo tại Việt Nam đang tăng nhiều, rút ngắn khoảng cách so với các nước tiên tiến. Hay tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam đã đạt 36,5%, nhưng nếu so với Trung Quốc, Thái Lan... vẫn còn ở mức thấp.

Theo JETRO, để có thể tận dụng được làn sóng đầu tư Nhật, Chính phủ và doanh nghiệp cần chú trọng vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Vì trong tương lai, việc ứng dụng robot vào sản xuất là tất yếu, khi đó các nhà máy sẽ cần nguồn nhân lực chất lượng cao có thể điều khiển robot thay thế lao động phổ thông. Trên thực tế, do nhìn thấy chi phí lao động đang tăng, một số doanh nghiệp Nhật cũng đã đầu tư nhiều vào công nghệ và robot để thay thế.

Các chuyên gia nhận định thêm, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), trong đó Việt Nam và Nhật Bản cùng là thành viên, sẽ là lực đẩy hơn nữa cho vốn Nhật tăng cao vào Việt Nam. Tuy vậy, để tận dụng được lợi thế này đòi hỏi Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, cải cách bộ máy hành chính. 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.