Mobile

Tường thuật trực tiếp Diễn đàn toàn cảnh ngân hàng năm 2019: "Để ngân hàng Việt vươn xa"
Thứ Tư,  8/5/2019, 09:44 
Nhóm phóng viên

Tường thuật trực tiếp Diễn đàn toàn cảnh ngân hàng năm 2019: "Để ngân hàng Việt vươn xa"

Nhóm phóng viên

(TBKTSG Online) - Bàn bạc những chiến lược, giải pháp, và chính sách phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng, tăng cường vị thế ngân hàng Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như góp phần nâng hạng tín nhiệm quốc gia là nội dung chính của diễn đàn toàn cảnh ngân hàng 2019 do Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng hành cùng Ngân hàng Nhà nước tổ chức tại Hà Nội ngày 8-5-2019. Sự kiện được tường thuật trực tiếp trên Thời báo Kinh tế sài Gòn Online.

Diễn đàn sẽ tập trung thảo luận vào ba mảng chính của thị trường tài chính, ngân hàng đó là bức tranh tổng quan về điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2018 và những nét chính trong 2019, củng cố nội lực hệ thống ngân hàng, và tương lai phát triển của hệ thống ngân hàng với những xu hướng lớn như tín dụng xanh, ngân hàng số...

Phát biểu khai mạc tại sự kiện, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng khẳng định NHNN sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trong đó, tín dụng tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Bà Nguyễn Thị Hồng, Phó Thống đốc NHNN Việt Nam, phát biểu khai mạc diễn đàn.

Với tham vọng ngân hàng Việt có thể lớn mạnh hơn về quy mô vốn, về công nghệ, đội ngũ nhân lực… xứng tầm cùng các ngân hàng trong khu vực Châu Á, tiếp nối thành công của Diễn đàn Toàn cảnh ngân hàng 2018, Thời báo Kinh tế Sài Gòn tiếp tục tổ chức “Diễn đàn toàn cảnh ngân hàng 2019”, với chủ đề “Để ngân hàng Việt vươn xa”.

Đây cũng là dịp để chúng ta nhìn lại bức tranh ngành Ngân hàng năm 2018 với những điểm sáng trong điều hành lãi suất, tỷ giá, tín dụng, diễn biến tích cực trong tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu, những khởi sắc trong hoạt động thanh toán đồng thời phân tích những cơ hội và thách thức đối với hoạt động ngân hàng trong năm 2019, từ đó đề ra các chiến lược và chương trình hành động của ngành Ngân hàng trong năm 2019 và những năm tiếp theo với tham vọng ngân hàng Việt có thể vươn xa sánh vai cùng các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới.

Năm 2018, trong môi trường quốc tế đầy biến động, Chính phủ đã hoàn thành toàn diện 12/12 chỉ tiêu Quốc hội giao, trong đó có 9 chỉ tiêu vượt kế hoạch. Để có được những kết quả này, trước hết là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành sát sao của Đảng, Quốc hội và Chính phủ; sự vào cuộc quyết liệt của các bộ, ngành, địa phương và sự hưởng ứng của cả nền kinh tế.

Năm 2018 tiếp tục là một năm thành công của ngành Ngân hàng, với các thành tựu được Đảng, Nhà nước, các thành phần trong nền kinh tế, cũng như các tổ chức và các nhà đầu tư quốc tế ghi nhận. Việc điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) đã góp phần tích cực đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, tạo nền tảng quan trọng hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020. Trên cơ sở bám sát chủ trương của Quốc hội và Chính phủ, NHNN đã điều hành CSTT chủ động, linh hoạt và đồng bộ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế:

Về lạm phát: NHNN đã điều hành đồng bộ các công cụ CSTT để kiểm soát lạm phát cơ bản ổn định ở mức thấp (bình quân năm 2016: 1,83%; 2017: 1,41%; 2018: 1,48%), tạo dư địa cho việc điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý, đảm bảo kiểm soát lạm phát chung theo đúng mục tiêu, năm 2018 ở mức 3,54%. NHNN thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành về điều hành CSTT, giá hàng hóa dịch vụ, dự báo lạm phát, làm cơ sở để điều hành giá các mặt hàng Nhà nước quản lý phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát chung.

Về lãi suất: Trong bối cảnh lãi suất trên thế giới tăng ở cả nhóm các nước phát triển như Mỹ (4 lần) và nhóm các nước mới nổi (Argentina tăng 6 lần, Thổ Nhĩ Kỳ tăng 3 lần, Ấn Độ tăng 2 lần, Philippines tăng 4 lần, Indonesia tăng 6 lần) thì lãi suất trong nước được NHNN điều hành khá ổn định, thậm chí giảm lãi suất điều hành ngay từ đầu năm (giảm từ 5%/năm xuống còn 4,75%/năm), nhằm hỗ trợ thanh khoản và góp phần giảm chi phí vốn cho TCTD; mặt bằng lãi suất thị trường liên ngân hàng được duy trì ở mức phù hợp, lãi suất cho vay khá ổn định phổ biến trong khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn, trung-dài hạn khoảng 9-11%/năm.

Về tỷ giá: Trong bối cảnh hầu hết các đồng tiền của các thị trường mới nổi đều mất giá mạnh so với đồng đô la Mỹ (USD), một số nước bị giảm dự trữ ngoại hối để can thiệp ổn định tỷ giá, thì tỷ giá trong nước diễn biến khá ổn định: tỷ giá thị trường tăng khoảng 2,2-2,3%, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thu hút vốn đầu tư (FDI thực hiện tăng 9,1%) và hỗ trợ xuất khẩu (xuất siêu năm 2018 đạt 6,8 tỉ USD); thị trường ngoại tệ ổn định, niềm tin vào đồng Việt Nam được củng cố; hệ thống các TCTD mua ròng ngoại tệ từ khách hàng; NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối; thị trường vàng trong nước diễn biến ổn định.

Trong điều hành tín dụng: Tốc độ tăng tín dụng được kiểm soát ở mức hợp lý. NHNN chú trọng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, hướng dòng vốn tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Đến cuối năm 2018, tín dụng tăng 13,89% so với cuối năm trước (năm 2017 tăng 18,28%); trong đó, tín dụng tiền đồng (VNĐ) tăng 15,49% (năm 2017 tăng 18,34%); tín dụng ngoại tệ giảm 5,06% (năm 2017 tăng 17,66%) phù hợp với chủ trương chống đô la hóa của Chính phủ. Tín dụng đối với hầu hết các lĩnh vực ưu tiên tăng khá. Ngoài ra, NHNN liên tục triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong tiếp cận vốn tín dụng, tổ chức trên 370 buổi gặp gỡ, đối thoại giữa ngân hàng và doanh nghiệp; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai các chương trình tín dụng ngành, lĩnh vực.

Bước sang năm 2019, NHNN sẽ điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2019 bình quân dưới 4%; duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối; định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13%, tín dụng tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Trong đó, tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và quốc tế, điều hành chủ động, linh hoạt, thận trọng và đồng bộ các công cụ CSTT nhằm ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, kiểm soát tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng theo định hướng đề ra. Điều hành nghiệp vụ thị trường mở nhằm điều tiết thanh khoản của các TCTD ở mức hợp lý để hỗ trợ ổn định thị trường tiền tệ, góp phần thực hiện mục tiêu CSTT. Điều hành công cụ dự trữ bắt buộc đồng bộ với các công cụ CSTT khác, phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ và mục tiêu CSTT. Tái cấp vốn cho TCTD đề hỗ trợ thanh khoản, cho vay theo các chương trình đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hỗ trợ cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu. Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến thị trường và mục tiêu CSTT; kết hợp đồng bộ các công cụ CSTT, biện pháp can thiệp thị trường ngoại tệ khi cần thiết để ổn định thị trường ngoại tệ.

Thứ hai, điều hành tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng. Thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với từng TCTD trên cơ sở đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tăng trưởng tín dụng lành mạnh; trong đó, ưu tiên chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn đối với TCTD thực hiện trước thời hạn các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tại Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016. Chỉ đạo các TCTD nâng cao chất lượng tín dụng; tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán,…; tăng cường quản lý rủi ro đối với các dự án BOT, BT giao thông, tín dụng tiêu dùng. Kiểm soát cho vay bằng ngoại tệ và có lộ trình phù hợp giảm dần cho vay bằng ngoại tệ.

Ngoài ra, trong công tác tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu: NHNN xác định mục tiêu: Tiếp tục triển khai và giám sát chặt chẽ việc thực hiện cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu. Đồng thời, kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng gắn với tăng cường xử lý nợ xấu theo nguyên tắc thị trường; hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các TCTD. Việc xử lý nợ xấu phải gắn với việc triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh và nâng cao chất lượng tín dụng của các TCTD; phát huy vai trò của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) trong việc xử lý nợ xấu để bảo đảm duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn, bền vững…

Trong hoạt động thanh toán, NHNN tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách phát triển TTKDTM, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng được yêu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán của người dân; Triển khai có hiệu quả Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020 đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016, và triển khai Đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với việc thu phí các dịch vụ công như điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 241/QĐ-TTg ngày 23/02/2018; Đẩy mạnh thanh toán thẻ qua các thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán (POS); áp dụng các công nghệ, phương thức thanh toán hiện đại như mã phản hồi nhanh (QR code), mã hóa thông tin thẻ, thanh toán di động, thanh toán phi tiếp xúc; Triển khai các mô hình thanh toán tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa gắn với việc xây dựng và triển khai Chiến lược Quốc gia về Tài chính Toàn diện tại Việt Nam; Thúc đẩy thanh toán điện tử trong khu vực Chính phủ...

Diễn đàn sẽ mang lại những thông tin bổ ích, những phân tích có chiều sâu về điều hành CSTT và quá trình tái cơ cấu ngân hàng gắn với xử lý nợ xấu, về đầu tư công nghệ ngân hàng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0; những gợi ý về chính sách và giải pháp cho lãnh đạo, nhà đầu tư, cho cổ đông các ngân hàng thương mại và cho khối doanh nghiệp.

 

"Bức tranh tổng quan về điều hành chính sách tiền tệ"

 

Phiên thảo luận đầu tiên Bức tranh tổng quan về điều hành chính sách tiền tệ mở đầu với bài trình bày của ông Võ Trí Thành, Nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương, về vấn đề đánh giá hoạt động điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trong 2018, và định hướng những tháng cuối 2019, những tác động chiến tranh thương mại đến thị trường tiền tệ các nước và Việt Nam.

Chuyên gia Võ Trí Thành, Nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương

Theo ông Thành, điểm sáng của ngành ngân hàng trong năm 2018: ổn định vĩ mô lạm phát tăng trưởng; thứ hai lãi suất tỉ giá ổn định trong bối cảnh cuối 2017 đầu năm 2018, tỉ giá chịu áp lực lớn từ tình hình quốc tế lẫn một phần trong nước.

Điểm sáng nhất của NHNN là điều hành chính sách tiền tệ thông minh, bơm hút tiền rất đúng, chuẩn; phối hợp với Bộ Tài chính phát hành trái phiếu chính phủ nhuần nhuyễn hơn.

Điểm đặc biệt 2018 là NHNN đã khéo léo trong việc đáp ứng thanh khoản và ổn định lãi suất liên ngân hàng để bảo vệ tỉ giá nhưng không gây biến động tới lãi suất trên thị trường.
Từ năm 2012 tới nay, NHNN có 3 nhiệm vụ cơ bản: chính sách tiền tệ ổn định thúc đẩy tăng trưởng; xử lý nợ xấu; tái cấu trúc hệ thống ngân hàng theo thông lệ tốt nhất như Basel 2. Nhưng khó khăn nhất là lành mạnh hoá ngân hàng và đáp ứng thông lệ tốt nhất.

Thực tế, có thời điểm áp lực lớn, tháng 5-2018, khi cuộc chiến thương mại nổ ra, tỷ giá các nước mất giá, lãi suất các nước trong khu vực tăng. Nhưng cũng có may mắn, Fed không tăng lãi suất như chúng ta nghĩ; tăng trưởng thương mại kinh tế toàn cầu vẫn tốt; Trung Quốc không chơi trò chơi tỷ giá để ứng xử với cuộc chiến Mỹ Trung, điều này được IMF thừa nhận.

Trước mắt NHNN vẫn còn thách thức, vẫn có những tình huống xấu nhất trong vài năm tới.
Cầu tín dụng giảm, nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn tốt hơn. NHNN đã định hướng trò chơi thị trường vào những lĩnh vực ưu tiên, có giá trị gia tăng tốt hơn, do đó giảm cầu tín dụng nhưng vẫn đảm bảo tăng trưởng. Tuy nhiên chúng ta vẫn còn phải nghiên cứu kỹ hơn. Tín dụng trong nhiều năm tăng trưởng rất mạnh, trừ năm ngoái.

FDI dựa không nhiều vào tín dụng trong nước, mà nền kinh tế Việt Nam bị dẫn dắt bởi FDI đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu, chế biến chế tạo. Vậy FDI dựa vào vào hệ thống tín dụng tới đâu?

Vẫn 3 nhiệm vụ của NHNN như trên vẫn là thách thức lớn của NHNN trong thời gian tới, đây là điều không thể né tránh.

Nhưng đã đến lúc phải thực sự nhìn nhận một số vấn đề trong đó có lãi suất khó giảm thêm. Có nhiều câu chuyện từ bên ngoài, phụ thuộc điều hành của Fed. Nhưng 3 điều chúng ta đang làm, nếu cứ loay hoay sẽ dẫn tới 2 chuyện là lãi suất rất khó giảm; hơn nữa hiệu quả hệ thống tài chính nhìn về trung và dài hạn bị ảnh hưởng. Chính sách tiền tệ, mục tiêu trung gian quá nhiều.

Cung tiền M2, tín dụng vừa quản theo khối lượng lại vừa mục tiêu lãi suất và lãi suất. Tỉ giá trong chừng mực nhất định, dù linh hoạt hơn rất nhiều vẫn là công cụ chính sách. Chúng ta đang phải chuẩn bị cho một tương lai trung hạn không quá dài. Việt Nam phải chuyển sang bằng được chuyển sang điều hành lạm phát mục tiêu, khi đó, sự phát triển hệ thống tài chính là quản theo giá, đó là lãi suất. Đây là thách thức cực lớn với NHNN.

Chúng ta có vẻ còn hơi chậm đối với Fintech và kinh tế số. Không chỉ đơn thuần Fintech là sáng tạo khởi nghiệp. Có hai điều rất quan trọng là câu chuyện cạnh tranh phát triển hệ thống ngân hàng. Việt Nam đang rất muốn làm là câu chuyện thanh toán không dùng tiền mặt nhưng vẫn chưa có nhiều khởi sắc, trong khi Ấn Độ thực hiện vấn đề này rất nhanh, hệ thống thanh toán cực kỳ phát triển. Điều này cũng là công cụ chống tín dụng đen, đảm bảo cam kết của Việt Nam với APEC, là tài chính toàn diện, người dân có quyền tiếp cận dịch vụ tài chính với giá phải chăng nhất.

Cuối cùng là truyền thông khủng hoảng và xử lý tranh chấp, vấn đề sẽ ngày càng bùng phát, chưa kể tranh chấp gắn với hệ thống NH trong và ngoài nước. Do đó ngành NH cần phải học cách ứng xử và truyền thông với tranh chấp. NHNN phải sưu tầm án lệ trên thế giới để nghiên cứu.

Tỷ giá nói rằng sẽ gặp nhiều áp lực từ cuộc chiến Mỹ-Trung, lạm phát, cán cân thương mại, tuy nhiên cũng cần nhìn vào những điểm tích cực như dòng vốn chuyển dịch vào VN do ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại, tôi đi nước ngoài thực sự các nhà đầu tư rất quan tâm đến Việt Nam.

Phiên thảo luận 1
Phiên thảo luận 1 về đóng góp của điều hành chính sách tiền tệ trong ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian vừa qua và những điều cần lưu ý với sự tham gia của ông Nguyễn Tú Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN; tiến sỹ Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực và ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC.

Ông nhận xét thế nào về tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam?

- Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC: Độ mở của nền kinh tế Việt Nam lớn. Bất kì diễn biến nào của nền kinh tế thế giới cũng tác động đến Việt Nam. Hiện sự ổn định của nền kinh tế Việt Nam đã tốt hơn trước. Tuy nhiên nếu có chiến tranh thương mại thế giới xảy ra thì dư địa của chúng ta không được tốt, cần có sự chuẩn bị.

Tại sao những năm gần đây các tổ chức xếp hạng uy tín trên thế giới đều có đánh giá tích cực cũng như nâng hạng tín nhiệm cho Việt Nam và hệ thống ngân hàng?

-Ông Cấn Văn Lực: Bức tranh vĩ mô từ năm ngoái tới nay các tổ chức quốc tế đều nâng hạng Việt Nam và họ có 5 tiêu chí để xem xét: tăng trưởng kinh tế; tăng thu nhập bình quân đầu người; thể chế; hệ thống tài chính NH; một số yếu tố khác như chính trị, độ mở kinh tế, sức chống chọi với cú sốc bên ngoài.

Chúng ta đạt được 4 điểm tốt và S&P đã nâng hạng: Kinh tế năm ngoái và nay tăng trưởng tốt, dự kiến khoảng 6,7% trong năm nay; thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 6%, cao hơn so với những nước đang xếp hạng tương tự chúng ta. Về tài khoá và tiền tệ đã có tiến triển, nợ công, nợ nước ngoài trong tầm kiểm soát.

Về hệ thống NH, đểm sáng là chính sách tỉ giá tương đối ổn định trong 3 năm qua và năm nay, dự trữ ngoại hối tăng tích cực trong thời gian qua, nâng cao uy tín của đồng nội tệ. Ngoài ra, cán cân vãng lai tốt, thu hút FDI liên tục.

Tuy nhiên, thể chế có nhiều cải tiến nhưng còn nhiều rào cản, đặc biệt là thuế, hải quan và thủ tục phá sản.

Hệ thống tài khoá nợ nước ngoài kiểm soát nhưng vẫn còn cao so với quy mô nền kinh tế và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Với hệ thống ngân hàng, nợ xấu của chúng ta tích cực, nhưng vẫn còn cao, dù có nghị quyết 42 nhưng vẫn còn vướng mắc. Hơn nữa, an toàn vốn cũng là vấn đề. Vốn của chúng ta tăng trưởng không tương ứng với nền kinh tế, do đó, cần quan tâm tăng vốn cho NH thương mại.

Nếu giải quyết điểm nghẽn đó có thể nâng hạng nền kinh tế và hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.

Trong bối cảnh kinh tế quốc tế quốc tế diễn biến khá phức tạp, xin ông cho biết từ đầu năm đến nay NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ như thế nào để thực hiện được các mục tiêu tiền tệ cũng như các mục tiêu vĩ mô của Chính phủ?

-Ông Nguyễn Tú Anh: Trong những năm qua để đạt được ổn định của thị trường và kinh tế vĩ mô đòi hỏi sự chủ động của NHNN. Chúng tôi có nhiều kịch bản khác nhau. Khi bước vào 2019 việc để ổn định thị trường cần ổn định kì vọng – muốn ổn định được kì vọng cần thuyết phục thị trường.

Đầu năm 2019 hàng loạt thách thức đặt ra như kinh tế thế giới giảm tốc, căng thẳng thương mại Mỹ Trung... làm cho dòng vốn chảy ra khỏi các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là những nền kinh tế vĩ mô không ổn định. Tuy nhiên trong bối cảnh đó thì Việt Nam vẫn có dòng vốn chảy vào do có kinh tế vĩ mô ổn định, có sự đánh giá rất tốt với thị trường.

Sở dĩ có điều đó do NHNN chủ động trong điều hành, trong điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm để mở rộng biên độ cho thị trường biến động. Năm 2018 khi thị trường biến động mạnh, NHNN phải làm đồng thời là bám sát thị trường và điều chỉnh các công cụ, sẵn sàng điều chỉnh với các cú sốc... NHNN nhìn thấy quy mô và sẵn sàng điều chỉnh bằng các công cụ, trấn an tâm lý của thị trường. NHNN chủ động và đủ năng lực ứng phó.

Về cơ bản, lãi suất, tỷ giá trong thời gian qua được duy trì tương đối ổn định. Ông đánh giá thế nào về các giải pháp chính sách của NHNN?

- Ông Võ Trí Thành: “NHNN đang thông minh lên"

NHNN đang thông minh lên và thông minh nhất. Ba điều NHNN cần làm là tăng sự chủ động; ổn định kỳ vọng; kết hợp với sự khéo léo trong sử dụng các công cụ tiền tệ trơn tru, linh hoạt, khéo léo để ứng xử.

Về tỷ giá, năm nay áp lực tỉ giá vẫn lớn, có vẻ có xu hướng tăng khi cuộc chiến tiền tệ chưa tới hồi kết, địa chính trị như Venezuala, Iran, Trump - Kim... Kinh tế thế giới có thể giảm tốc nhưng giá dầu vẫn tăng, đây là nghịch lý.

Bên cạnh đó, có những yếu tố tích cực như dự trữ ngoại tệ tăng; cán cân thanh toán quốc tế dương do dòng vốn vào VN khá tích cực. Nhìn tổng thể, lạm phát khoảng 4%; cách ứng xử của NHNN linh hoạt trong sử dụng công cụ và cách điều hành tỉ giá trung tâm và những yếu tố tích cực. Tôi tin rằng: tỉ giá năm nay chỉ biến động, có thể có một số thời điểm khác nhưng chỉ khoảng 2%. Năm ngoái tôi đã đúng, mọi người nói 3%-5% nhưng tôi nói chỉ 2% và tôi đã đúng.

Là một NH quốc tế, hẳn ông có cái nhìn bao quát về thị trường ngân hàng của các nước trong khu vực. Theo ông hệ thống ngân hàng Việt Nam có vị thế như thế nào tại châu Á và ASEAN? Và để phát triển hơn nữa trong tương lai, hệ thống ngân hàng tại Việt Nam cần phải làm gì?

-Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC: "Việt Nam ngày càng hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài"

Chúng tôi đi nhiều quốc gia kêu gọi đầu tư FDI tại VN. Các NĐT nước ngoài đều nhận định VN là điểm sáng đầu tư FDI, nhờ thành quả điều hành kinh tế vĩ mô, trong đó có tỉ giá. Cách thức điều hành của NHNN đã thông minh hơn rất nhiều, tận dụng truyền thông và các biện pháp kỹ thuật.

Thông thường những năm trước đây, NHNN giữ tỉ giá cố định, nhưng nay đã linh hoạt và điều chỉnh ngay, tạo niềm tin thị trường. Khi có biến động thị trường thế giới, tâm lý nhà đầu tư chưa ổn định nên cách điều hành phải ổn định, thống nhất, tránh tạo tâm lý găm giữ ngoại tệ trong tương lai.

- Ông Cấn Văn Lực: Có 3 điểm cho thấy không cần bi quan, quốc tế gần đây lưu ý nhiều là áp lực lạm phát lớn với hàng loạt giá tăng mạnh, ta chưa lường trước được. Kiểm soát lạm phát đang rất khó khăn nên cần coi đây là vấn đề trọng tâm. Cần giảm bớt tâm lý kì vọng lạm phát. Cần có kịch bản quan trọng trong thời điểm biến động. Cần tranh thủ thu hút đầu tư nước ngoài, tăng trưởng xuất khẩu để ổn định kinh tế vĩ mô.

- Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC: Ngân hàng Việt may mắn vì đang ở trong tiềm năng thị trường tốt. Nhiều ngân hàng nước ngoài đang xếp hàng xin phép mở chi nhánh thâm nhập vào Việt Nam.

Để có những ngân hàng có quy mô trong khu vực không nhiều. Các NH đang có khăn trong định vị và có quy mô khác nhau, hiện chủ yếu theo chiến lược cạnh tranh về giá chứ không theo sự khác biệt. HSBC đã bán một số mảng và tập trung vào một số mảng. Các ngân hàng cần tìm mảng cạnh tranh thế mạnh để tạo sự khác biệt. Nếu không nhìn nhận thực tế vấn đề của các ngân hàng sẽ khó phát triển. Cần đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ. Chứ dựa trên các sản phẩm hiện nay thì khó. Cần số hóa ngân hàng để thay.

Chính phủ đặt nhiều kỳ vọng vào việc sử dụng chính sách tiền tệ như một công cụ chủ yếu trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, trong bối cảnh nhiều yếu tố từ thị trường tiền tệ thế giới lẫn bối cảnh trong nước có nhiều biến động, ông đánh giá như thế nào?

-Ông Nguyễn Tú Anh: Thanh khoản của ngân hàng không căng thẳng vì chính sách tài khóa phối hợp nhịp nhàng củng chính sách tiền tệ.

Dư địa chính sách tài khoá giảm đi do trần nợ công, vai trò chính sách tiền tệ ngày càng lớn. Thời gian qua, số dư kho bạc nhà nước đặt ra một số vấn đề cho NHNN, đặt ra sự phối hợp chặt chẽ giữa kho bạc và NHNN. Thời gian tới, NHNN sẽ phối hợp với Bộ Tài chính, đặc biệt là kho bạc.

-Ông Võ Trí Thành: sự phối hợp giữa hai bên là tốt nhưng cần suy nghĩ khả năng bơm hút tiền của NHNN, không chỉ liên quan tới kho bạc mà phải tăng dự trữ ngoại tệ.

-Ông Cấn Văn Lực: hiện nay CSTT phải gánh quá nặng so với CSTK. Ví dụ hỗ trợ lãi suất, chương trình hỗ trợ tín dụng...về cơ bản là của CSTK, nhưng hiện nay CSTT đang phải gánh quá nặng. Hệ thống NH đặc biệt là trong trung và dài hạn đang phải làm thay cho thị trường vốn có nhiệm vụ cung ứng vốn trung dài hạn. Hiện nay cho vay vốn trung và dài hạn chiếm khoảng 50-60%, đang đè nặng lên hệ thống NH, nhưng bản chất của NH chỉ là cho vay ngắn hạn. Do vậy, về dài hạn, cần phải nâng cao vai trò của thị trường vốn.

Nhận định thế nào về sự phân hóa giữa các NH có vốn Nhà nước và các NH cổ phần?

-Ông Võ Trí Thành: Từ những năm 90 chúng ta đã chấp nhận cạnh tranh hệ thống ngân hàng tư nhân, các NH đại diện của NH nước ngoài...

Vai trò cung ứng tín dụng và dịch vụ ngân hàng của các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng cổ phần tăng lên mạnh mẽ. Tín dụng tư nhân chi phối đối với các DN vừa và nhỏ. Cấu trúc sở hữu của các ngân hàng thời gian tới sẽ thay đổi. Các ngân hàng không chỉ cạnh tranh trong nước mà còn cả ở nước ngoài. Chắc chắn khu vực tư nhân sẽ dẫn dắt sự tăng trưởng của nền kinh tế.

Năm 2000 NHNN nghiên cứu việc lôi cuốn các NH có vốn NN vào kinh doanh ngân hàng là tốt hay không? Vì sao vẫn giữ tỉ lệ sở hữu Nhà nước trong NH khá cao... Lý do là tại những thời điểm khó khăn và khủng hoảng... thì các nhà đầu tư nước ngoài có thể chạy thì nền kinh tế sụp đổ. Tuy nhiên, gần đây các ngân hàng cổ phần đã có những bước phát triển mạnh mẽ.

-Ông Cấn Văn Lực: sở hữu Nhà nước trong khối NHTM đã giảm dần và thị phần của các NH này cũng đã giảm dần trong những năm qua; năm 2005, tỉ trọng cho vay và huy động vốn của 4 NH chiếm hơn 60% trong khi cuối năm 2018 là 43%.

Ông Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế đật câu hỏi: Trong thị trường tài chính, trọng lượng của ngân hàng quá lớn so với thị trường chứng khoán. Theo các diễn giả thì tỉ trọng này có nên hay không? Các vị nói nhiều nhưng chưa đề cập đến tín dụng bất động sản cần phải làm sao cho an toàn?

-Ông Võ Trí Thành: Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 rút ra kết luận hệ thống dựa vào ngân hàng là các nước Chấu Á, hệ thống dựa theo thị trường là Mỹ.

Để phát triển chứng khoán, phát triển trái phiếu khó khăn hơn cổ phiếu. Trong thị trường trái phiếu phát triển trái phiếu doanh nghiệp là quan trọng nhất.

Thời gian qua thị trường chứng khoán Việt nam phát triển mạnh không ngờ. Thị trường trái phiếu Việt Nam đã phát triển với những kì hạn dài. Trái phiếu doanh nghiệp còn nhỏ nhưng đang trên đà phát triển (chiếm 2-3% GDP). Trong tái cấu trúc ngân hàng cần đặt vấn đề xây dựng thị trường tài chính Việt Nam cân đối hơn.

Chốt phiên thảo luận, bà Nguyễn Thị Hồng nói về việc NHNN phát hành tín phiếu NHNN để hút tiền về:

- Dự trữ ngoại hối: Về vấn đề khi NHNN mua ngoại tệ, đồng nghĩa NHNN cung tiền đồng lớn ra thị trường. Cách thức hút tiền về như thế nào là sự khéo léo của NHNN. Về điểm hút tiền về bằng cách phát hành tín phiếu NHNN bằng cách trả lãi suất.

Tôi xin chia sẻ, NHNN đã cân nhắc kỹ lưỡng và phối hợp nhuần nhuyễn. Dự trữ ngoại hối rất ấn tương về giá trị tuyệt đối tăng lên ấn tượng, nhưng độ mở nền kinh tế lớn, XNK/GDP hơn 200%, sản xuất trong nước phụ thuộc vào nhập khẩu hàng hóa nguyên vật liệu. Do vậy, cần tiếp tục tích lũy dự trữ ngoại hối. Khi có điều kiện, NHNN sẽ mua vào ngoại tệ.

Phiên 2 "Củng cố nội lực"

Ông Bùi Văn Hải, Phó Vụ trưởng, Vụ Giám sát Ngân hàng, Cơ quan Thanh tra giám sát NHNN: “Nợ xấu nội bảng giảm xuống dưới 2%”

Trình bày về kết quả xử lý nợ xấu, ông Hải cho hay, khuôn khổ pháp lý được hoàn thiện một bước cơ bản, cơ chế chính sách hỗ trợ các TCTD cơ cấu lại và xử lý nợ xấu đã được sửa đổi, bổ sung như Luật số 17/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD 2010 (Luật số 17); Ban hành các văn bản hướng dẫn Luật số 17, cụ thể hóa các giải pháp nêu tại Nghị quyết số 41 và Quyết định số 1058...

Năng lực quản trị của các TCTD từng bước được nâng cao, tiếp cận với thông lệ quốc t. Hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ và quản lý rủi ro của các TCTD được tăng cường; chiến lược kinh doanh bước đầu phù hợp với văn hóa rủi ro và khẩu vị rủi ro. Hơn nữa, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, đa dạng hóa và cải thiện đáng kể chất lượng dịch vụ ngân hàng. Các dịch vụ cơ bản như huy động, cho vay, cung ứng dịch vụ thanh toán được phát triển đa dạng.

Đẩy mạnh các dịch vụ phi tín dụng truyền thống (bảo hiểm nhân thọ, ngân quỹ, than toán điện tử,… ). Cơ cấu tài sản có dịch chuyển theo hướng tích cực, dòng vốn tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ.

Quy mô, năng lực tài chính và chất lượng tín dụng: Quy mô hệ thống các TCTD tiếp tục tăng, năng lực tài chính của các TCTD được củng cố, vốn điều lệ tăng nhanh dần. Chất lượng tín dụng được cải thiện. “Tỉ lệ nợ xấu nội bảng giảm xuống dưới 2% cuối năm 2018”, ông Hải nói.

NHNN đã chỉ đạo các TCTD xây dựng kế hoạch, lộ trình triển khai thực hiện quyết liệt nhằm đảm bảo đúng quy định về sở hữu cổ phần. Đến tháng 31/12/2018, các TCTD đã cơ bản xử lý, khắc phục được một số vi phạm sở hữu cổ phần, sở hữu chéo.

Một số đề xuất:

NHNN kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành và các đơn vị, tổ chức có liên quan cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa quá trình phân loại, sắp xếp các doanh nghiệp, trọng tâm là các DNNN, thực hiện tái cơ cấu.

Bộ, ngành chủ quản hỗ trợ, chỉ đạo về định hướng cơ cấu lại từ các Tập đoàn/ Tổng công ty Nhà nước đối với phương án cơ cấu của các TCTD phi ngân hàng yếu kém có chủ sở hữu/ cổ đông lớn là các Tập đoàn/ Tổng công ty Nhà nước.

Bộ Tài chính sớm triển khai giải pháp về xử lý các khoản nợ xấu liên quan đến nợ đọng xây dựng cơ bản có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước trung ương địa phương và nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước.

Bộ Công an có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể cơ quan công an các cấp phối hợp với các cấp chính quyền địa phương các nội dung liên quan để triển khai hiệu quả chính sách tại Điều 7 Nghị quyết 42/2017/QH14.

Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, sớm có văn bản hướng dẫn đối với trường hợp nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai.

Các cơ quan, đơn vị truyền thông tiếp tục hỗ trợ công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các chủ trương, chính sách cơ cấu lại, xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

UBND tỉnh, thành phố tiếp tục rà soát, có các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo tới các cấp chính quyền cơ sở (phường, xã) để hướng dẫn thực hiện theo Nghị quyết 42.

Ông Phạm Mạnh Thắng, Phó Tổng giám đốc Vietcombank

Ông Phạm Mạnh Thắng, Phó Tổng giám đốc Vietcombank, trình bày về vấn đề xử lý nợ xấu, những bước chuyển mình từ ngân hàng thương mại:

Trong những năm qua, Quốc hội, Chính phủ, NHNN đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt quá trình cơ cấu lại ngân hàng gắn với xử lý nợ xấu thông qua việc ban hành nhiều cơ chế, chính sách liên quan. Đặc biệt, với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, bài bản và có tính thuyết phục cao, ngày 21/06/2017, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD. Điều này thực sự tạo luồng sinh khí mới, liều thuốc hữu hiệu phá tảng băng nợ xấu, khơi thông mạch máu, lưu thông vốn vào nền kinh tế. Cùng với đó, Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2017-2020 tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017.

Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành kế hoạch hành động của ngành ngân hàng triển khai đề án 1058, các văn bản chỉ đạo các TCTD xây dựng phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu cùng nhiều chỉ thị triển khai thực hiện có hiệu quả công tác xử lý nợ có vấn đề. Các chính sách nêu trên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các TCTD, trong đó có Vietcombank đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu thực chất và bền vững.

Sau nhiều nỗ lực, Vietcombank đã xử lý được khối lượng lớn nợ tồn đọng, bao gồm nợ xấu nội bảng và nợ xấu ngoại bảng. Vietcombank là ngân hàng đầu tiên xử lý và trích lập đầy đủ, mua lại toàn bộ nợ xấu đã bán cho VAMC, đưa nợ xấu về một sổ sớm trước 3 năm so với đề án được phê duyệt.

Tình hình thực hiện Đề án tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 của Vietcombank như sau:

Tính đến cuối năm 2018, Vietcombank đã tự xử lý được khoảng 22.600 tỉ đồng nợ xấu, đạt 134% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2018), đạt 75% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2020) theo Đề án đã được NHNN phê duyệt. Tính đến hết tháng 03/2019, Vietcombank tự xử lý được 22.800 tỉ đồng nợ xấu, đạt 76% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2020) theo Đề án.

Tính đến cuối năm ngoái, Vietcombank đã thu được nợ ngoại bảng là 7.718 tỉ đồng, đạt 102% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2018), đạt 62% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2020) theo Đề án đã được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Tính đến hết tháng 3/2019, Vietcombank đã thu hồi được 8.863 tỉ đồng nợ ngoại bảng đạt 118% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2018), đạt 71% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2020) theo Đề án.

Số dư nợ xấu tại thời điểm 31/12/2018 là 7.189 tỉ đồng, tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,97%. Tính đến 31/03/2019, dư nợ xấu là 6.870 tỉ đồng, tỷ lệ nợ xầu là 1,02%. Từ năm 2016 đến 2018, tỷ lệ nợ xấu của VCB luôn thấp hơn mức khống chế của NHNN (3%) và luôn thấp hơn kế hoạch theo Đề án.

Những kết quả nói trên đã đóng góp quan trọng vào thành tựu kinh doanh nổi bật của Vietcombank năm 2018 với một số chỉ tiêu chính đạt được: i) lợi nhuận trước thuế đạt 18.269 tỉ đồng, tăng 61% so với năm 2017, dẫn đầu hệ thống ngân hàng về quy mô lợi nhuận; ii) Dư nợ tín dụng đạt 639.370 tỉ đồng, tăng 14,6% so với 2017, đảm bảo mức trần NHNN giao; iii) tổng tài sản tiếp tục đạt trên 1 triệu tỉ đồng…; 4 tháng đầu năm 2019, các chỉ tiêu kinh doanh của Vietcombank cơ bản đạt tiến độ kế hoạch và sát với thị trường, hoạt động bán lẻ tăng trưởng tích cực, lợi nhuận kinh doanh tăng so với cùng kỳ và tăng so với kế hoạch.

Vietcombank đã quản lý và xử lý nợ xấu với việc triển khai đồng bộ nhiều biện pháp như sau:

Thứ nhất: Xây dựng và hoàn thiện các quy định của Vietcombank liên quan đến quản lý và xử lý nợ có vấn đề.

Thứ hai: kiện toàn bộ máy nhân sự tham gia công tác xử lý nợ.

Thứ ba: thống nhất phương thức quản lý và xử lý nợ xấu trong hệ thống. Quán triệt toàn hệ thống phương thức quản lý và xử lý nợ xấu. Cụ thể như sau: nâng cao chất lượng thẩm định của Vietcombank. Kiên quyết không cạnh tranh cho vay bằng cách hạ chuẩn tín dụng. Nghiêm cấm việc cấp tín dụng cho nhóm khách hàng liên quan nhằm mục đính lách các quy định về thẩm quyền cấp tín dụng hoặc cấp tín dụng không phù hợp với quy định của Vietcombank. Thận trọng trong công tác chấm điểm và xếp hạng tín dụng đối với khách hàng, đặc biệt là các đối tượng tiềm ẩn rủi ro… Vietcombank chủ động rà soát lại danh mục nợ xấu, nợ tiềm ẩn rủi ro chuyển sang nợ xấu và phân nhóm khách hàng.

Thứ tư, tăng cường vai trò của Trụ sở chính trong công tác xử lý, thu hồi nợ đồng thời triển khai công tác giao kế hoạch đến từng đơn vị.

Trong những năm tới, Chính phủ và NHNN tiếp tục định hướng các ngân hàng thương mại tập trung vào công tác kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý thu hồi nợ. Theo đó, Vietcombank coi công tác quản lý chất lượng tín dụng và xử lý thu hồi nợ xấu là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng. Trong năm 2019, Vietcombank đặt chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu dưới 1% và thu nợ đã xử lý DPRR là trên 3.500 tỉ đồng. Đây là mục tiêu đầy “tham vọng”, tuy nhiên, Vietcombank tin tưởng sẽ hoàn thành được mục tiêu đã đặt ra.
Hệ thống các TCTD là huyết mạch của nền kinh tế, đã đang và sẽ tiếp tục được kỳ vọng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình đổi mới, tái cơ cấu nền kinh tế, đưa nước ta từng bước hội nhập vững chắc với kinh tế khu vực và thế giới.

Vietcombank nói riêng và các ngân hàng thương mại nói chung nhận thức rõ trách nhiệm lớn lao của mình, luôn cố gắng nỗ lực “chuyển mình”, tập trung nguồn lực trong công tác kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý thu hồi nợ để nhanh chóng xử lý triệt để nợ xấu, phá tan “cục máu đông”, khơi thông dòng vốn để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Khép lại phiên đầu tiên với việc nhận diện bối cảnh hiện nay của ngành ngân hàng và những dự báo về chính sách tiền tệ trong tương lai, chúng ta đến với phiên thảo luận thứ 2 chủ đề "Hệ thống ngân hàng cần làm gì để củng cố về tài chính, con người, chuẩn bị cho sự phát triển trong tương lai?" với sự tham gia của Bùi Văn Hải, Phó Vụ trưởng Vụ Giám sát NH, Cơ quan Thanh tra Giám sát NH – NHNN, ông Phạm Mạnh Thắng, Phó Tổng giám đốc Vietcombank, ông Võ Tấn Long, Phó Tổng giám đốc Công ty Tư vấn PwC Việt Nam.
Phiên thảo luận thứ 2

Xin ông đánh giá về sức khỏe của hệ thống NHTM sau 5 năm tái cơ cấu?

-Ông Võ Tấn Long, Phó Tổng giám đốc Công ty Tư vấn PwC Việt Nam: Có 2 khía cạnh quan trọng thời gian tới cần đẩy mạnh khi tái cơ cấu là: cần nâng cao năng lực quản trị của NH (về rủi ro tín dụng, năng lực quản trị bản thân...) để bắt kịp các mô hình mới. Hai nữa là nâng cao năng lực của nguồn nhân lực trong ngân hàng. 80% CEO cho rằng thiếu hụt nhân lực và vốn sẽ cản trở phát triển.

-Ông Phạm Mạnh Thắng, Phó Tổng giám đốc Vietcombank: Nhu cầu vốn tập trung chủ yếu ở NH, áp lực nguồn vốn, bắt buộc phải đưa vốn tự có tăng. Với Vietcombank đang có định hướng thuộc tốp 100 ngân hàng lớn nhất khu vực bắt buộc còn cần phải tăng vốn lên nhiều. Chúng tôi đã có giải pháp để sử dụng vốn hiệu quả. Nhưng mong Chính phủ cho sử dụng quỹ tái cơ cấu các DN để chúng tôi có thể tăng được vốn để đáp ứng nhu cầu cho vay của doanh nghiệp.

-Ông Bùi Văn Hải: Tôi chia sẻ thêm về tăng vốn của VCB lên Basel 2. Có 7 NHTM đã áp dụng thông tư 41 trước thời hạn trong đó có VCB. Tăng vốn là quan trọng, nhưng khi áp dụng Basel 2 sử dụng tài sản cho vay hiệu quả, giảm rủi ro, khi đó sử dụng vốn sẽ hiệu quả hơn, giảm cho vay vào lĩnh vực rủi ro.

Khán giả Phan Vân Hà hoạt động trong lĩnh vực thẩm định giá hỏi liên quan tới xử lý nợ xấu và tái cấu trúc NH, hành lang pháp lý trong định gía nợ. Khi nghị quyết 42 đề cập định giá nợ, đang rất thiếu hành lang pháp lý cho định giá nợ, ví dụ, nợ trị giá 100 tỉ đồng nhưng khi định giá tài sản đảm bảo 50 tỉ, vậy 50 tỉ đồng còn lại định giá như thế nào?

-Ông Bùi Văn Hải: Trước đây, NHNN đã rà soát lại văn bản liên quan, liệu có lỗ hổng pháp lý hay không, chúng tôi cũng làm việc với Bộ Tài chính về vấn đề này vì nó thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính.

-Võ Tấn Long: Trong quá trình nâng cao năng lực quản trị, tạo ra sự tuân thủ, tôi đồng ý với khán giả, xác định đúng giá trị đảm bảo là một trong những cách đảm bảo chất lượng khoản vay.  Nếu làm được điều này nhiều khi không cần phải tăng vốn của các ngân hàng.

Chiến lược phát triển ngành ngân hàng 5 năm tới

 

Phiên thứ 3 mở đầu bằng những thông tin tổng quan về chiến lược phát triển ngành ngân hàng 5 năm tới, những thách thức, cơ hội để các ngân hàng Việt Nam vươn cao hơn trong khu vực châu Á với bài trình bày của Ths Nguyễn Thị Hòa, Phó Viện trưởng phụ trách Viện chiến lược ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước.

Xem toàn văn bài phát biểu tham gia tọa đàm tại đây

Ngày 8-8-2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 986/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Chiến lược khẳng định hệ thống ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế, tiếp tục giữ vai trò trọng yếu trong tổng thể hệ thống tài chính Việt Nam. Chiến lược đưa ra các mục tiêu cụ thể cho 2 giai đoạn:

Giai đoạn 2018 - 2020: Phấn đấu đến năm 2020 các ngân hàng thương mại (NHTM) cơ bản có mức vốn tự có theo chuẩn mực Basel II; có ít nhất từ 1 - 2 NHTM nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản trong khu vực châu Á; hoàn thành việc niêm yết cổ phiếu của các NHTM CP trên thị trường chứng khoán Việt Nam; đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD, nợ xấu đã bán cho VAMC và nợ đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ xuống dưới 3% (không bao gồm các NHTM yếu kém đã được Chính phủ phê duyệt phương án xử lý).

Giai đoạn 2021 – 2025: Tất cả các NHTM áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn; phấn đấu đến cuối năm 2025 có ít nhất từ 2-3 NHTM nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) trong khu vực châu Á và 3-5 ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài; tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của các NHTM lên khoảng 16-17%; nợ xấu của toàn hệ thống các TCTD dưới 3%.

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, ngành ngân hàng Việt Nam phải không ngừng nỗ lực tận dụng các cơ hội và vượt qua mọi thách thức từ bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước.
Trong bối cảnh diễn biến khó lường của kinh tế thế giới cùng những thuận lợi đan xen không ít rủi ro, thách thức của kinh tế trong nước, để đạt được mục tiêu mà chiến lược đã đặt ra, các ngân hàng Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp như sau:

Thứ nhất là lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả, đảm bảo an toàn hệ thống, cụ thể: tăng vốn và cải thiện chất lượng nguồn vốn tự có của các NHTM, bảo đảm mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định và đáp ứng đầy đủ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật và chuẩn mực quốc tế; tích cực, chủ động triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp kiểm soát chất lượng tín dụng, giảm nợ xấu, nâng cao chất lượng tài sản; khuyến khích và tạo điều kiện để các ngân hàng lành mạnh hoặc các nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài tham gia tái cơ cấu các NHTM cổ phần yếu kém; mua bán, sáp nhập trên cơ sở tự nguyện của các ngân hàng để hình thành các định chế có quy mô lớn và quản trị tốt hơn.

Thứ hai, cần nâng cao năng lực quản trị, điều hành, tính minh bạch trong hoạt động ngân hàng. Trong đó trọng tâm là  hoàn thiện, áp dụng hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực của Ủy ban Basel và lộ trình áp dụng Basel II tại Việt Nam; hoàn thiện và áp dụng các quy định về quản trị ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế; phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh ngân hàng có trình độ chuyên môn cao, ý thức tuân thủ pháp luật, có đạo đức và tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp tốt; đa dạng hóa cơ cấu cổ đông; yêu cầu các tổ chức tín dụng công bố công khai, minh bạch, chính xác thông tin về chiến lược kinh doanh, sở hữu, tình hình tài chính, cơ cấu quản lý, quản trị rủi ro và quản trị doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế; hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường, công khai, minh bạch, đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực về quản trị và an toàn hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật và tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Thứ ba, hệ thống ngân hàng Việt Nam cần đổi mới hoạt động theo xu thế mới. Cụ thể: chuyển đổi mạnh mẽ mô hình kinh doanh của các ngân hàng thương mại theo hướng từ “độc canh tín dụng” sang mô hình đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phi tín dụng; nâng cao tính chuyên môn, chuyên nghiệp trong cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng điện tử; gia tăng xuất khẩu dịch vụ tài chính; thoái vốn đầu tư ngoài ngành, lĩnh vực phi tài chính, nhiều rủi ro; cơ cấu tín dụng tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên nhằm góp phần cơ cấu lại nền kinh tế; các ngân hàng chủ động xây dựng/điều chỉnh Chiến lược kinh doanh phù hợp với giai đoạn mới; trong đó hoạch định chiến lược phát triển dịch vụ rõ ràng, chú trọng phát triển các kênh cung ứng dịch vụ hiện đại, ứng dụng công nghệ số; đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, phát triển mạnh các kênh dịch vụ phi tín dụng nhằm tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng; nâng cao chất lượng phục vụ theo hướng cải thiện thái độ phục vụ, đổi mới quy trình, thủ tục và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin…

Thứ tư là hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin và hệ thống thanh toán nội bộ của các NHTM. Nâng cấp hệ thống ngân hàng lõi phù hợp với quy mô, mức độ phức tạp hoạt động và yêu cầu quản trị, điều hành của ngân hàng. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào sản phẩm, dịch vụ, vào điều hành và quản lý, phân tích và phòng ngừa rủi ro. Đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển mạnh các phương thức thanh toán điện tử như ngân hàng trực tuyến, thanh toán qua Internet, điện thoại di động, thanh toán không tiếp xúc trên di động. Áp dụng các biện pháp an ninh, tiêu chuẩn bảo mật mới, tiên tiến phù hợp với xu hướng thanh toán trên thế giới. Xây dựng chuẩn thẻ chíp nội địa và triển khai kế hoạch chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chíp tại Việt Nam với lộ trình thích hợp nhằm bảo đảm an ninh, an toàn trong thanh toán thẻ.

Ông Trần Thái Bình, Phó Giám đốc Khối Công nghệ Sacombank chia sẻ chủ đề đầu tư vào công nghệ của hệ thống ngân hàng các nước và Việt Nam, những đón đầu cần thiết trong thời gian tới:

Xem toàn văn bài phát biểu tại đây

Sự tiến bộ của công nghệ thay đổi mọi thứ và hành vi của người dùng, thay đổi cách đi taxi, giao dịch với ngân hàng... NH nào không liên quan đến khách hàng sẽ bị khách rời xa.
Trước những thay đổi này các NH thương mại cả trên thế giới và trong nước đang định hướng lại chiến lược, số hóa để nâng cao trải nghiệm của người dùng. Nhiều ngân hàng trong nước và khu vực đã ứng dụng nhiều công nghệ mới để cung cấp các dịch vụ nhân hàng trên di động.

Nhiều ngân hàng chuyển đổi số đến tận phần lõi của ngân hàng. Thay đổi văn hóa biến nhân viên có văn hóa khởi nghiệp. Đặt mình vào hành trình của khách hàng, chuyển đổi công nghệ lên nền tảng điện toán đám mây. Ứng dụng công nghệ số vào để tạo môi trường làm việc không giấy tờ.

Tại VN thời gian qua các ngân hàng đã định hình lại chiến lược, tập trung đầu tư vào công nghệ như: trợ lý ảo với trí thông minh nhân tạo, nền tảng ngân hàng số, dùng robot thay con người để cung cấp dịch vụ cơ bản, số hóa tự động hóa quy trình kinh doanh nghiệp vụ, phân tích dữ liệu để thấu hiểu hành vi của khách hàng, an toàn thông tin...

PGS.TS Trần Thị Thanh Tú, Chủ nhiệm Khoa Tài chính - PNgân hàng, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, trình bày chủ đề: "Tín dụng xanh: xu hướng của tương lai, những đề xuất chính sách cho tín dụng xanh"

Ngân hàng xanh phải gắn với phát triển xanh và bền vững. Do đó, các ngân hàng không chỉ đảm bảo phát triển hoạt động của mình mà phải phát triển bền vững cho xã hội và môi trường.

Theo các tổ chức quốc tế, có 5 cấp độ về tín dụng xanh:

Cấp 1: Giảm thiểu sử dụng tài nguyên trong hoạt động ngân hàng. Đây là cấp độ hầu hết các ngân hàng Việt Nam đạt được.

Cấp 2: Cung cấp tín dụng cho các dự án xanh.

Cấp 3: Hoạt động kinh doanh có hệ thống liên quan tới tín dụng xanh, coi đây là mảng kinh doanh lớn.

Cấp 4: Chủ động xây dựng chiến lược xanh.

Cấp 5: Chủ động tham gia hệ sinh thái chiến lược, gắn với các cam kết về môi trường.

Theo OECD, tín dụng xanh là cấu phần trong tháp đầu tư xanh, cung cấp tín dụng dự án đầu tư xanh sẽ tạo ra nghề nghiệp, chứng khoán, tín phiếu, cổ phiếu xanh, tạo ra hệ thống phát triển đầu tư xanh.

Tín dụng xanh cho doanh nghiệp tăng sẽ giảm thiểu phát thải carbon, giảm phát thải khí nhà kính.

Việt Nam mới hình thành khái niệm tín dụng xanh khoảng 10 năm nhưng thế giới đã có hàng trăm năm. Tại Mỹ, Anh, Hàn Quốc đã có các định chế tài chính xanh, đóng vai trò cung cấp tín dụng vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, giảm thải CO2. Các định chế tài chính lớn này đóng vai trò quan trọng phát triển tín dụng xanh.

Các nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh, tiếp cận mô hình từ dưới lên. Ví dụ Tại Ấn Độ, tín dụng cho sản xuất năng lượng mặt trời tại hộ gia đình được cấp thông qua các tổ chức tài chính vi mô. Trung Quốc thì đi theo hướng phát triển trái phiếu xanh.

Nói về bài học cho Việt Nam, bà Tú cho hay, vai trò Chính phủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án là rất quan trọng. Thực tế, NHNN đã có đề án phát triển tín dụng xanh.

Từ thất bại một số nước, bà Tú cho hay, cần có sự hỗ trợ, kết hợp của cơ quan ban ngành có liên quan, không chỉ từ NHNN, Bộ Tài chính mà cần có sự chung tay của Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc xác định các dự án xanh.

Năm 2018, điều tra của chúng tôi cho thấy, hầu hết lãnh đạo NH hiểu rõ về mức độ ưu tiên và ngành nghề, lĩnh vực xanh tại Việt Nam. Nhưng thực tế, có tới 60% doanh nghiệp chưa bao giờ đề xuất vay vốn ngân hàng xanh do họ chưa biết có chính sách thúc đẩy đầu tư xanh từ phía NHTM. Nguồn tin chủ yếu của họ từ các dự án môi trường như GIZ, UNDP, thông tin từ phía cơ quan nhà nước rất tháp, dưới 50%.

Trên cơ sở đó, bà Tú kiến nghị, Việt Nam nên tiếp cận từ trên xuống, trong đó Chính phủ đóng vai trò dẫn dắt, thông qua hệ thống NH đầu tư vào dự án xanh.

Cần xây dựng chiến lược, danh mục đầu tư xanh để gợi ý cho doanh nghiệp. Định chế tài chính lớn cần thực hiện trước, nếu thành công sẽ nhân rộng mô hình này.

Đối với các dự án đầu tư xanh, ví dụ EVN đầu tư năng lượng mặt trời, nếu thành công nên nhân rộng sang các mô hình khác.

Đặc biệt, công tác truyền thông phải được đẩy mạnh với lĩnh vực đầu tư xanh, trong đó có các trường đại học của chúng tôi. Người tiêu dùng cũng đóng vai trò quyết định đến tiêu dùng xanh, từ đó sẽ dẫn tới đầu tư xanh của doanh nghiệp.

Năm 2017, nghiên cứu của chúng tôi liên quan tới hệ số lan toả kinh tế với các ngành khác nhau, cho thấy ngành khai thác và xây dựng chiếm tỉ trọng đầu tư lớn trong tín dụng của các NH trong khi chỉ số lan toả tới các ngành hàng khác ở mức thấp nhất và tiêu thụ năng lượng ở mức cao nhất, chỉ số phát thải CO2 lớn nhất. Do đó, các ngân hàng cần điều chỉnh dịch chuyển tín dụng từ đầu tư ngành xây dựng, khai thác sang ngành nông lâm thuỷ sản và dịch vụ để hướng tới tài chính xanh.

Bước vào phiên thảo luận cuối cùng của diễn đàn hôm nay với "Vẽ bức tranh ngân hàng Việt trong 5 năm tới", vị thế của ngân hàng Việt và những thách thức trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có những biến động mạnh. Các diễn giả tham dự gồm Ths Nguyễn Thị Hòa, Phó viện trưởng phụ trách Viện chiến lược ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước, PGS.TS Trần Thị Thanh Tú, Chủ nhiệm Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, ông Trần Thái Bình, Phó Giám đốc Khối Công nghệ, Sacombank, ông Johan Nyvene, Tổng Giám đốc Công ty chứng khoán TPHCM (HSC).

Tín dụng xanh là một xu hướng cần phổ biến, nhưng theo bà hiện tại có những khó khăn gì khi muốn nhân rộng, nên giải quyết ra sao?

-Bà Trần Thị Thanh Tú: Một trong những khó khăn của DN là tiếp cận thông tin để hiểu được lĩnh vực nào ưu tiên đầu tư xanh; hỗ trợ từ cơ quan ban ngành liên quan.

Sacombank, Nam A Bank đã bắt đầu cung cấp tín dụng gắn với ưu tiên môi trường. GIZ cũng hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư năng lượng tái tạo. Ngân hàng cũng thông qua vốn uỷ thác từ tổ chức quốc tế cho dự án xanh.

Ngân hàng thẩm định dự án này không đơn giản, đòi hỏi kiến thức chuyên môn, không chỉ ngành cho vay mà môi trường. IFC đã có cẩm nang hướng dẫn, đánh giá tác động rủi ro và môi trường với hơn 80 ngành nghề khác nhau. Đây mới chỉ là cẩm nang hướng dẫn, chưa tạo ra sự bắt buộc để ngân hàng áp dụng.

Thông qua diễn đàn tôi mong muốn ngân hàng hướng tới cho vay những ngành này.

Nhà đầu tư nước ngoài có mong chờ gì đối với sự “lớn lên” của ngành ngân hàng Việt trong tương lai? Ngân hàng Việt cần cải thiện gì để trở nên hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư nước ngoài?

-Ông Johan Nyvene: Hiện nay có hai loại nhà đầu tư: đầu tư chiến lược và đầu tư tài chính. Thời gian qua có sự thay đổi rõ nét là sự chuyển dịch từ đầu tư chiến lược - thoái vốn - chuyển sang nhà đầu tư tài chính. Hai nhà đầu tư này khác nhau về định hướng chiến lược nhưng cả hai đều có mẫu số chung, đó là lĩnh vực ngân hàng thiên về khách hàng cá nhân, trong đó có SME là doanh nghiệp nhỏ, một dạng dịch vụ khách hàng cá nhân.

Các ngân hàng nước ngoài đang nhắm tới đầu tư vào những ngân hàng trong nước mở rộng phù hợp đối tượng khách hàng này. Ngoài ra, việc quản trị doanh nghiệp là một mẫu số chung mà các nhà đầu tư tướng tới. Ví dụ, các ngân hàng đạt Basel 2 được nhà đầu tư đánh giá cao hơn so với các ngân hàng khác.

Diễn đàn toàn cảnh ngân hàng lần 2 năm 2019 khép lại.

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Tường thuật trực tiếp Diễn đàn toàn cảnh ngân hàng năm 2019: "Để ngân hàng Việt vươn xa"

Nhóm phóng viên
Thứ Tư,  8/5/2019, 09:44 

Tường thuật trực tiếp Diễn đàn toàn cảnh ngân hàng năm 2019: "Để ngân hàng Việt vươn xa"

Nhóm phóng viên

(TBKTSG Online) - Bàn bạc những chiến lược, giải pháp, và chính sách phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng, tăng cường vị thế ngân hàng Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như góp phần nâng hạng tín nhiệm quốc gia là nội dung chính của diễn đàn toàn cảnh ngân hàng 2019 do Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng hành cùng Ngân hàng Nhà nước tổ chức tại Hà Nội ngày 8-5-2019. Sự kiện được tường thuật trực tiếp trên Thời báo Kinh tế sài Gòn Online.

Diễn đàn sẽ tập trung thảo luận vào ba mảng chính của thị trường tài chính, ngân hàng đó là bức tranh tổng quan về điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2018 và những nét chính trong 2019, củng cố nội lực hệ thống ngân hàng, và tương lai phát triển của hệ thống ngân hàng với những xu hướng lớn như tín dụng xanh, ngân hàng số...

Phát biểu khai mạc tại sự kiện, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng khẳng định NHNN sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trong đó, tín dụng tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Bà Nguyễn Thị Hồng, Phó Thống đốc NHNN Việt Nam, phát biểu khai mạc diễn đàn.

Với tham vọng ngân hàng Việt có thể lớn mạnh hơn về quy mô vốn, về công nghệ, đội ngũ nhân lực… xứng tầm cùng các ngân hàng trong khu vực Châu Á, tiếp nối thành công của Diễn đàn Toàn cảnh ngân hàng 2018, Thời báo Kinh tế Sài Gòn tiếp tục tổ chức “Diễn đàn toàn cảnh ngân hàng 2019”, với chủ đề “Để ngân hàng Việt vươn xa”.

Đây cũng là dịp để chúng ta nhìn lại bức tranh ngành Ngân hàng năm 2018 với những điểm sáng trong điều hành lãi suất, tỷ giá, tín dụng, diễn biến tích cực trong tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu, những khởi sắc trong hoạt động thanh toán đồng thời phân tích những cơ hội và thách thức đối với hoạt động ngân hàng trong năm 2019, từ đó đề ra các chiến lược và chương trình hành động của ngành Ngân hàng trong năm 2019 và những năm tiếp theo với tham vọng ngân hàng Việt có thể vươn xa sánh vai cùng các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới.

Năm 2018, trong môi trường quốc tế đầy biến động, Chính phủ đã hoàn thành toàn diện 12/12 chỉ tiêu Quốc hội giao, trong đó có 9 chỉ tiêu vượt kế hoạch. Để có được những kết quả này, trước hết là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành sát sao của Đảng, Quốc hội và Chính phủ; sự vào cuộc quyết liệt của các bộ, ngành, địa phương và sự hưởng ứng của cả nền kinh tế.

Năm 2018 tiếp tục là một năm thành công của ngành Ngân hàng, với các thành tựu được Đảng, Nhà nước, các thành phần trong nền kinh tế, cũng như các tổ chức và các nhà đầu tư quốc tế ghi nhận. Việc điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) đã góp phần tích cực đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, tạo nền tảng quan trọng hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020. Trên cơ sở bám sát chủ trương của Quốc hội và Chính phủ, NHNN đã điều hành CSTT chủ động, linh hoạt và đồng bộ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế:

Về lạm phát: NHNN đã điều hành đồng bộ các công cụ CSTT để kiểm soát lạm phát cơ bản ổn định ở mức thấp (bình quân năm 2016: 1,83%; 2017: 1,41%; 2018: 1,48%), tạo dư địa cho việc điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý, đảm bảo kiểm soát lạm phát chung theo đúng mục tiêu, năm 2018 ở mức 3,54%. NHNN thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành về điều hành CSTT, giá hàng hóa dịch vụ, dự báo lạm phát, làm cơ sở để điều hành giá các mặt hàng Nhà nước quản lý phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát chung.

Về lãi suất: Trong bối cảnh lãi suất trên thế giới tăng ở cả nhóm các nước phát triển như Mỹ (4 lần) và nhóm các nước mới nổi (Argentina tăng 6 lần, Thổ Nhĩ Kỳ tăng 3 lần, Ấn Độ tăng 2 lần, Philippines tăng 4 lần, Indonesia tăng 6 lần) thì lãi suất trong nước được NHNN điều hành khá ổn định, thậm chí giảm lãi suất điều hành ngay từ đầu năm (giảm từ 5%/năm xuống còn 4,75%/năm), nhằm hỗ trợ thanh khoản và góp phần giảm chi phí vốn cho TCTD; mặt bằng lãi suất thị trường liên ngân hàng được duy trì ở mức phù hợp, lãi suất cho vay khá ổn định phổ biến trong khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn, trung-dài hạn khoảng 9-11%/năm.

Về tỷ giá: Trong bối cảnh hầu hết các đồng tiền của các thị trường mới nổi đều mất giá mạnh so với đồng đô la Mỹ (USD), một số nước bị giảm dự trữ ngoại hối để can thiệp ổn định tỷ giá, thì tỷ giá trong nước diễn biến khá ổn định: tỷ giá thị trường tăng khoảng 2,2-2,3%, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thu hút vốn đầu tư (FDI thực hiện tăng 9,1%) và hỗ trợ xuất khẩu (xuất siêu năm 2018 đạt 6,8 tỉ USD); thị trường ngoại tệ ổn định, niềm tin vào đồng Việt Nam được củng cố; hệ thống các TCTD mua ròng ngoại tệ từ khách hàng; NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối; thị trường vàng trong nước diễn biến ổn định.

Trong điều hành tín dụng: Tốc độ tăng tín dụng được kiểm soát ở mức hợp lý. NHNN chú trọng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, hướng dòng vốn tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Đến cuối năm 2018, tín dụng tăng 13,89% so với cuối năm trước (năm 2017 tăng 18,28%); trong đó, tín dụng tiền đồng (VNĐ) tăng 15,49% (năm 2017 tăng 18,34%); tín dụng ngoại tệ giảm 5,06% (năm 2017 tăng 17,66%) phù hợp với chủ trương chống đô la hóa của Chính phủ. Tín dụng đối với hầu hết các lĩnh vực ưu tiên tăng khá. Ngoài ra, NHNN liên tục triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong tiếp cận vốn tín dụng, tổ chức trên 370 buổi gặp gỡ, đối thoại giữa ngân hàng và doanh nghiệp; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai các chương trình tín dụng ngành, lĩnh vực.

Bước sang năm 2019, NHNN sẽ điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2019 bình quân dưới 4%; duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối; định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13%, tín dụng tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Trong đó, tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và quốc tế, điều hành chủ động, linh hoạt, thận trọng và đồng bộ các công cụ CSTT nhằm ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, kiểm soát tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng theo định hướng đề ra. Điều hành nghiệp vụ thị trường mở nhằm điều tiết thanh khoản của các TCTD ở mức hợp lý để hỗ trợ ổn định thị trường tiền tệ, góp phần thực hiện mục tiêu CSTT. Điều hành công cụ dự trữ bắt buộc đồng bộ với các công cụ CSTT khác, phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ và mục tiêu CSTT. Tái cấp vốn cho TCTD đề hỗ trợ thanh khoản, cho vay theo các chương trình đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hỗ trợ cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu. Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến thị trường và mục tiêu CSTT; kết hợp đồng bộ các công cụ CSTT, biện pháp can thiệp thị trường ngoại tệ khi cần thiết để ổn định thị trường ngoại tệ.

Thứ hai, điều hành tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng. Thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với từng TCTD trên cơ sở đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tăng trưởng tín dụng lành mạnh; trong đó, ưu tiên chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn đối với TCTD thực hiện trước thời hạn các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tại Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016. Chỉ đạo các TCTD nâng cao chất lượng tín dụng; tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán,…; tăng cường quản lý rủi ro đối với các dự án BOT, BT giao thông, tín dụng tiêu dùng. Kiểm soát cho vay bằng ngoại tệ và có lộ trình phù hợp giảm dần cho vay bằng ngoại tệ.

Ngoài ra, trong công tác tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu: NHNN xác định mục tiêu: Tiếp tục triển khai và giám sát chặt chẽ việc thực hiện cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu. Đồng thời, kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng gắn với tăng cường xử lý nợ xấu theo nguyên tắc thị trường; hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các TCTD. Việc xử lý nợ xấu phải gắn với việc triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh và nâng cao chất lượng tín dụng của các TCTD; phát huy vai trò của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) trong việc xử lý nợ xấu để bảo đảm duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn, bền vững…

Trong hoạt động thanh toán, NHNN tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách phát triển TTKDTM, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng được yêu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán của người dân; Triển khai có hiệu quả Đề án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020 đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016, và triển khai Đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với việc thu phí các dịch vụ công như điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 241/QĐ-TTg ngày 23/02/2018; Đẩy mạnh thanh toán thẻ qua các thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán (POS); áp dụng các công nghệ, phương thức thanh toán hiện đại như mã phản hồi nhanh (QR code), mã hóa thông tin thẻ, thanh toán di động, thanh toán phi tiếp xúc; Triển khai các mô hình thanh toán tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa gắn với việc xây dựng và triển khai Chiến lược Quốc gia về Tài chính Toàn diện tại Việt Nam; Thúc đẩy thanh toán điện tử trong khu vực Chính phủ...

Diễn đàn sẽ mang lại những thông tin bổ ích, những phân tích có chiều sâu về điều hành CSTT và quá trình tái cơ cấu ngân hàng gắn với xử lý nợ xấu, về đầu tư công nghệ ngân hàng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0; những gợi ý về chính sách và giải pháp cho lãnh đạo, nhà đầu tư, cho cổ đông các ngân hàng thương mại và cho khối doanh nghiệp.

 

"Bức tranh tổng quan về điều hành chính sách tiền tệ"

 

Phiên thảo luận đầu tiên Bức tranh tổng quan về điều hành chính sách tiền tệ mở đầu với bài trình bày của ông Võ Trí Thành, Nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương, về vấn đề đánh giá hoạt động điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trong 2018, và định hướng những tháng cuối 2019, những tác động chiến tranh thương mại đến thị trường tiền tệ các nước và Việt Nam.

Chuyên gia Võ Trí Thành, Nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương

Theo ông Thành, điểm sáng của ngành ngân hàng trong năm 2018: ổn định vĩ mô lạm phát tăng trưởng; thứ hai lãi suất tỉ giá ổn định trong bối cảnh cuối 2017 đầu năm 2018, tỉ giá chịu áp lực lớn từ tình hình quốc tế lẫn một phần trong nước.

Điểm sáng nhất của NHNN là điều hành chính sách tiền tệ thông minh, bơm hút tiền rất đúng, chuẩn; phối hợp với Bộ Tài chính phát hành trái phiếu chính phủ nhuần nhuyễn hơn.

Điểm đặc biệt 2018 là NHNN đã khéo léo trong việc đáp ứng thanh khoản và ổn định lãi suất liên ngân hàng để bảo vệ tỉ giá nhưng không gây biến động tới lãi suất trên thị trường.
Từ năm 2012 tới nay, NHNN có 3 nhiệm vụ cơ bản: chính sách tiền tệ ổn định thúc đẩy tăng trưởng; xử lý nợ xấu; tái cấu trúc hệ thống ngân hàng theo thông lệ tốt nhất như Basel 2. Nhưng khó khăn nhất là lành mạnh hoá ngân hàng và đáp ứng thông lệ tốt nhất.

Thực tế, có thời điểm áp lực lớn, tháng 5-2018, khi cuộc chiến thương mại nổ ra, tỷ giá các nước mất giá, lãi suất các nước trong khu vực tăng. Nhưng cũng có may mắn, Fed không tăng lãi suất như chúng ta nghĩ; tăng trưởng thương mại kinh tế toàn cầu vẫn tốt; Trung Quốc không chơi trò chơi tỷ giá để ứng xử với cuộc chiến Mỹ Trung, điều này được IMF thừa nhận.

Trước mắt NHNN vẫn còn thách thức, vẫn có những tình huống xấu nhất trong vài năm tới.
Cầu tín dụng giảm, nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn tốt hơn. NHNN đã định hướng trò chơi thị trường vào những lĩnh vực ưu tiên, có giá trị gia tăng tốt hơn, do đó giảm cầu tín dụng nhưng vẫn đảm bảo tăng trưởng. Tuy nhiên chúng ta vẫn còn phải nghiên cứu kỹ hơn. Tín dụng trong nhiều năm tăng trưởng rất mạnh, trừ năm ngoái.

FDI dựa không nhiều vào tín dụng trong nước, mà nền kinh tế Việt Nam bị dẫn dắt bởi FDI đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu, chế biến chế tạo. Vậy FDI dựa vào vào hệ thống tín dụng tới đâu?

Vẫn 3 nhiệm vụ của NHNN như trên vẫn là thách thức lớn của NHNN trong thời gian tới, đây là điều không thể né tránh.

Nhưng đã đến lúc phải thực sự nhìn nhận một số vấn đề trong đó có lãi suất khó giảm thêm. Có nhiều câu chuyện từ bên ngoài, phụ thuộc điều hành của Fed. Nhưng 3 điều chúng ta đang làm, nếu cứ loay hoay sẽ dẫn tới 2 chuyện là lãi suất rất khó giảm; hơn nữa hiệu quả hệ thống tài chính nhìn về trung và dài hạn bị ảnh hưởng. Chính sách tiền tệ, mục tiêu trung gian quá nhiều.

Cung tiền M2, tín dụng vừa quản theo khối lượng lại vừa mục tiêu lãi suất và lãi suất. Tỉ giá trong chừng mực nhất định, dù linh hoạt hơn rất nhiều vẫn là công cụ chính sách. Chúng ta đang phải chuẩn bị cho một tương lai trung hạn không quá dài. Việt Nam phải chuyển sang bằng được chuyển sang điều hành lạm phát mục tiêu, khi đó, sự phát triển hệ thống tài chính là quản theo giá, đó là lãi suất. Đây là thách thức cực lớn với NHNN.

Chúng ta có vẻ còn hơi chậm đối với Fintech và kinh tế số. Không chỉ đơn thuần Fintech là sáng tạo khởi nghiệp. Có hai điều rất quan trọng là câu chuyện cạnh tranh phát triển hệ thống ngân hàng. Việt Nam đang rất muốn làm là câu chuyện thanh toán không dùng tiền mặt nhưng vẫn chưa có nhiều khởi sắc, trong khi Ấn Độ thực hiện vấn đề này rất nhanh, hệ thống thanh toán cực kỳ phát triển. Điều này cũng là công cụ chống tín dụng đen, đảm bảo cam kết của Việt Nam với APEC, là tài chính toàn diện, người dân có quyền tiếp cận dịch vụ tài chính với giá phải chăng nhất.

Cuối cùng là truyền thông khủng hoảng và xử lý tranh chấp, vấn đề sẽ ngày càng bùng phát, chưa kể tranh chấp gắn với hệ thống NH trong và ngoài nước. Do đó ngành NH cần phải học cách ứng xử và truyền thông với tranh chấp. NHNN phải sưu tầm án lệ trên thế giới để nghiên cứu.

Tỷ giá nói rằng sẽ gặp nhiều áp lực từ cuộc chiến Mỹ-Trung, lạm phát, cán cân thương mại, tuy nhiên cũng cần nhìn vào những điểm tích cực như dòng vốn chuyển dịch vào VN do ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại, tôi đi nước ngoài thực sự các nhà đầu tư rất quan tâm đến Việt Nam.

Phiên thảo luận 1
Phiên thảo luận 1 về đóng góp của điều hành chính sách tiền tệ trong ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian vừa qua và những điều cần lưu ý với sự tham gia của ông Nguyễn Tú Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN; tiến sỹ Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực và ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC.

Ông nhận xét thế nào về tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam?

- Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC: Độ mở của nền kinh tế Việt Nam lớn. Bất kì diễn biến nào của nền kinh tế thế giới cũng tác động đến Việt Nam. Hiện sự ổn định của nền kinh tế Việt Nam đã tốt hơn trước. Tuy nhiên nếu có chiến tranh thương mại thế giới xảy ra thì dư địa của chúng ta không được tốt, cần có sự chuẩn bị.

Tại sao những năm gần đây các tổ chức xếp hạng uy tín trên thế giới đều có đánh giá tích cực cũng như nâng hạng tín nhiệm cho Việt Nam và hệ thống ngân hàng?

-Ông Cấn Văn Lực: Bức tranh vĩ mô từ năm ngoái tới nay các tổ chức quốc tế đều nâng hạng Việt Nam và họ có 5 tiêu chí để xem xét: tăng trưởng kinh tế; tăng thu nhập bình quân đầu người; thể chế; hệ thống tài chính NH; một số yếu tố khác như chính trị, độ mở kinh tế, sức chống chọi với cú sốc bên ngoài.

Chúng ta đạt được 4 điểm tốt và S&P đã nâng hạng: Kinh tế năm ngoái và nay tăng trưởng tốt, dự kiến khoảng 6,7% trong năm nay; thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 6%, cao hơn so với những nước đang xếp hạng tương tự chúng ta. Về tài khoá và tiền tệ đã có tiến triển, nợ công, nợ nước ngoài trong tầm kiểm soát.

Về hệ thống NH, đểm sáng là chính sách tỉ giá tương đối ổn định trong 3 năm qua và năm nay, dự trữ ngoại hối tăng tích cực trong thời gian qua, nâng cao uy tín của đồng nội tệ. Ngoài ra, cán cân vãng lai tốt, thu hút FDI liên tục.

Tuy nhiên, thể chế có nhiều cải tiến nhưng còn nhiều rào cản, đặc biệt là thuế, hải quan và thủ tục phá sản.

Hệ thống tài khoá nợ nước ngoài kiểm soát nhưng vẫn còn cao so với quy mô nền kinh tế và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Với hệ thống ngân hàng, nợ xấu của chúng ta tích cực, nhưng vẫn còn cao, dù có nghị quyết 42 nhưng vẫn còn vướng mắc. Hơn nữa, an toàn vốn cũng là vấn đề. Vốn của chúng ta tăng trưởng không tương ứng với nền kinh tế, do đó, cần quan tâm tăng vốn cho NH thương mại.

Nếu giải quyết điểm nghẽn đó có thể nâng hạng nền kinh tế và hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.

Trong bối cảnh kinh tế quốc tế quốc tế diễn biến khá phức tạp, xin ông cho biết từ đầu năm đến nay NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ như thế nào để thực hiện được các mục tiêu tiền tệ cũng như các mục tiêu vĩ mô của Chính phủ?

-Ông Nguyễn Tú Anh: Trong những năm qua để đạt được ổn định của thị trường và kinh tế vĩ mô đòi hỏi sự chủ động của NHNN. Chúng tôi có nhiều kịch bản khác nhau. Khi bước vào 2019 việc để ổn định thị trường cần ổn định kì vọng – muốn ổn định được kì vọng cần thuyết phục thị trường.

Đầu năm 2019 hàng loạt thách thức đặt ra như kinh tế thế giới giảm tốc, căng thẳng thương mại Mỹ Trung... làm cho dòng vốn chảy ra khỏi các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là những nền kinh tế vĩ mô không ổn định. Tuy nhiên trong bối cảnh đó thì Việt Nam vẫn có dòng vốn chảy vào do có kinh tế vĩ mô ổn định, có sự đánh giá rất tốt với thị trường.

Sở dĩ có điều đó do NHNN chủ động trong điều hành, trong điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm để mở rộng biên độ cho thị trường biến động. Năm 2018 khi thị trường biến động mạnh, NHNN phải làm đồng thời là bám sát thị trường và điều chỉnh các công cụ, sẵn sàng điều chỉnh với các cú sốc... NHNN nhìn thấy quy mô và sẵn sàng điều chỉnh bằng các công cụ, trấn an tâm lý của thị trường. NHNN chủ động và đủ năng lực ứng phó.

Về cơ bản, lãi suất, tỷ giá trong thời gian qua được duy trì tương đối ổn định. Ông đánh giá thế nào về các giải pháp chính sách của NHNN?

- Ông Võ Trí Thành: “NHNN đang thông minh lên"

NHNN đang thông minh lên và thông minh nhất. Ba điều NHNN cần làm là tăng sự chủ động; ổn định kỳ vọng; kết hợp với sự khéo léo trong sử dụng các công cụ tiền tệ trơn tru, linh hoạt, khéo léo để ứng xử.

Về tỷ giá, năm nay áp lực tỉ giá vẫn lớn, có vẻ có xu hướng tăng khi cuộc chiến tiền tệ chưa tới hồi kết, địa chính trị như Venezuala, Iran, Trump - Kim... Kinh tế thế giới có thể giảm tốc nhưng giá dầu vẫn tăng, đây là nghịch lý.

Bên cạnh đó, có những yếu tố tích cực như dự trữ ngoại tệ tăng; cán cân thanh toán quốc tế dương do dòng vốn vào VN khá tích cực. Nhìn tổng thể, lạm phát khoảng 4%; cách ứng xử của NHNN linh hoạt trong sử dụng công cụ và cách điều hành tỉ giá trung tâm và những yếu tố tích cực. Tôi tin rằng: tỉ giá năm nay chỉ biến động, có thể có một số thời điểm khác nhưng chỉ khoảng 2%. Năm ngoái tôi đã đúng, mọi người nói 3%-5% nhưng tôi nói chỉ 2% và tôi đã đúng.

Là một NH quốc tế, hẳn ông có cái nhìn bao quát về thị trường ngân hàng của các nước trong khu vực. Theo ông hệ thống ngân hàng Việt Nam có vị thế như thế nào tại châu Á và ASEAN? Và để phát triển hơn nữa trong tương lai, hệ thống ngân hàng tại Việt Nam cần phải làm gì?

-Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC: "Việt Nam ngày càng hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài"

Chúng tôi đi nhiều quốc gia kêu gọi đầu tư FDI tại VN. Các NĐT nước ngoài đều nhận định VN là điểm sáng đầu tư FDI, nhờ thành quả điều hành kinh tế vĩ mô, trong đó có tỉ giá. Cách thức điều hành của NHNN đã thông minh hơn rất nhiều, tận dụng truyền thông và các biện pháp kỹ thuật.

Thông thường những năm trước đây, NHNN giữ tỉ giá cố định, nhưng nay đã linh hoạt và điều chỉnh ngay, tạo niềm tin thị trường. Khi có biến động thị trường thế giới, tâm lý nhà đầu tư chưa ổn định nên cách điều hành phải ổn định, thống nhất, tránh tạo tâm lý găm giữ ngoại tệ trong tương lai.

- Ông Cấn Văn Lực: Có 3 điểm cho thấy không cần bi quan, quốc tế gần đây lưu ý nhiều là áp lực lạm phát lớn với hàng loạt giá tăng mạnh, ta chưa lường trước được. Kiểm soát lạm phát đang rất khó khăn nên cần coi đây là vấn đề trọng tâm. Cần giảm bớt tâm lý kì vọng lạm phát. Cần có kịch bản quan trọng trong thời điểm biến động. Cần tranh thủ thu hút đầu tư nước ngoài, tăng trưởng xuất khẩu để ổn định kinh tế vĩ mô.

- Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC: Ngân hàng Việt may mắn vì đang ở trong tiềm năng thị trường tốt. Nhiều ngân hàng nước ngoài đang xếp hàng xin phép mở chi nhánh thâm nhập vào Việt Nam.

Để có những ngân hàng có quy mô trong khu vực không nhiều. Các NH đang có khăn trong định vị và có quy mô khác nhau, hiện chủ yếu theo chiến lược cạnh tranh về giá chứ không theo sự khác biệt. HSBC đã bán một số mảng và tập trung vào một số mảng. Các ngân hàng cần tìm mảng cạnh tranh thế mạnh để tạo sự khác biệt. Nếu không nhìn nhận thực tế vấn đề của các ngân hàng sẽ khó phát triển. Cần đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ. Chứ dựa trên các sản phẩm hiện nay thì khó. Cần số hóa ngân hàng để thay.

Chính phủ đặt nhiều kỳ vọng vào việc sử dụng chính sách tiền tệ như một công cụ chủ yếu trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, trong bối cảnh nhiều yếu tố từ thị trường tiền tệ thế giới lẫn bối cảnh trong nước có nhiều biến động, ông đánh giá như thế nào?

-Ông Nguyễn Tú Anh: Thanh khoản của ngân hàng không căng thẳng vì chính sách tài khóa phối hợp nhịp nhàng củng chính sách tiền tệ.

Dư địa chính sách tài khoá giảm đi do trần nợ công, vai trò chính sách tiền tệ ngày càng lớn. Thời gian qua, số dư kho bạc nhà nước đặt ra một số vấn đề cho NHNN, đặt ra sự phối hợp chặt chẽ giữa kho bạc và NHNN. Thời gian tới, NHNN sẽ phối hợp với Bộ Tài chính, đặc biệt là kho bạc.

-Ông Võ Trí Thành: sự phối hợp giữa hai bên là tốt nhưng cần suy nghĩ khả năng bơm hút tiền của NHNN, không chỉ liên quan tới kho bạc mà phải tăng dự trữ ngoại tệ.

-Ông Cấn Văn Lực: hiện nay CSTT phải gánh quá nặng so với CSTK. Ví dụ hỗ trợ lãi suất, chương trình hỗ trợ tín dụng...về cơ bản là của CSTK, nhưng hiện nay CSTT đang phải gánh quá nặng. Hệ thống NH đặc biệt là trong trung và dài hạn đang phải làm thay cho thị trường vốn có nhiệm vụ cung ứng vốn trung dài hạn. Hiện nay cho vay vốn trung và dài hạn chiếm khoảng 50-60%, đang đè nặng lên hệ thống NH, nhưng bản chất của NH chỉ là cho vay ngắn hạn. Do vậy, về dài hạn, cần phải nâng cao vai trò của thị trường vốn.

Nhận định thế nào về sự phân hóa giữa các NH có vốn Nhà nước và các NH cổ phần?

-Ông Võ Trí Thành: Từ những năm 90 chúng ta đã chấp nhận cạnh tranh hệ thống ngân hàng tư nhân, các NH đại diện của NH nước ngoài...

Vai trò cung ứng tín dụng và dịch vụ ngân hàng của các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng cổ phần tăng lên mạnh mẽ. Tín dụng tư nhân chi phối đối với các DN vừa và nhỏ. Cấu trúc sở hữu của các ngân hàng thời gian tới sẽ thay đổi. Các ngân hàng không chỉ cạnh tranh trong nước mà còn cả ở nước ngoài. Chắc chắn khu vực tư nhân sẽ dẫn dắt sự tăng trưởng của nền kinh tế.

Năm 2000 NHNN nghiên cứu việc lôi cuốn các NH có vốn NN vào kinh doanh ngân hàng là tốt hay không? Vì sao vẫn giữ tỉ lệ sở hữu Nhà nước trong NH khá cao... Lý do là tại những thời điểm khó khăn và khủng hoảng... thì các nhà đầu tư nước ngoài có thể chạy thì nền kinh tế sụp đổ. Tuy nhiên, gần đây các ngân hàng cổ phần đã có những bước phát triển mạnh mẽ.

-Ông Cấn Văn Lực: sở hữu Nhà nước trong khối NHTM đã giảm dần và thị phần của các NH này cũng đã giảm dần trong những năm qua; năm 2005, tỉ trọng cho vay và huy động vốn của 4 NH chiếm hơn 60% trong khi cuối năm 2018 là 43%.

Ông Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế đật câu hỏi: Trong thị trường tài chính, trọng lượng của ngân hàng quá lớn so với thị trường chứng khoán. Theo các diễn giả thì tỉ trọng này có nên hay không? Các vị nói nhiều nhưng chưa đề cập đến tín dụng bất động sản cần phải làm sao cho an toàn?

-Ông Võ Trí Thành: Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 rút ra kết luận hệ thống dựa vào ngân hàng là các nước Chấu Á, hệ thống dựa theo thị trường là Mỹ.

Để phát triển chứng khoán, phát triển trái phiếu khó khăn hơn cổ phiếu. Trong thị trường trái phiếu phát triển trái phiếu doanh nghiệp là quan trọng nhất.

Thời gian qua thị trường chứng khoán Việt nam phát triển mạnh không ngờ. Thị trường trái phiếu Việt Nam đã phát triển với những kì hạn dài. Trái phiếu doanh nghiệp còn nhỏ nhưng đang trên đà phát triển (chiếm 2-3% GDP). Trong tái cấu trúc ngân hàng cần đặt vấn đề xây dựng thị trường tài chính Việt Nam cân đối hơn.

Chốt phiên thảo luận, bà Nguyễn Thị Hồng nói về việc NHNN phát hành tín phiếu NHNN để hút tiền về:

- Dự trữ ngoại hối: Về vấn đề khi NHNN mua ngoại tệ, đồng nghĩa NHNN cung tiền đồng lớn ra thị trường. Cách thức hút tiền về như thế nào là sự khéo léo của NHNN. Về điểm hút tiền về bằng cách phát hành tín phiếu NHNN bằng cách trả lãi suất.

Tôi xin chia sẻ, NHNN đã cân nhắc kỹ lưỡng và phối hợp nhuần nhuyễn. Dự trữ ngoại hối rất ấn tương về giá trị tuyệt đối tăng lên ấn tượng, nhưng độ mở nền kinh tế lớn, XNK/GDP hơn 200%, sản xuất trong nước phụ thuộc vào nhập khẩu hàng hóa nguyên vật liệu. Do vậy, cần tiếp tục tích lũy dự trữ ngoại hối. Khi có điều kiện, NHNN sẽ mua vào ngoại tệ.

Phiên 2 "Củng cố nội lực"

Ông Bùi Văn Hải, Phó Vụ trưởng, Vụ Giám sát Ngân hàng, Cơ quan Thanh tra giám sát NHNN: “Nợ xấu nội bảng giảm xuống dưới 2%”

Trình bày về kết quả xử lý nợ xấu, ông Hải cho hay, khuôn khổ pháp lý được hoàn thiện một bước cơ bản, cơ chế chính sách hỗ trợ các TCTD cơ cấu lại và xử lý nợ xấu đã được sửa đổi, bổ sung như Luật số 17/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD 2010 (Luật số 17); Ban hành các văn bản hướng dẫn Luật số 17, cụ thể hóa các giải pháp nêu tại Nghị quyết số 41 và Quyết định số 1058...

Năng lực quản trị của các TCTD từng bước được nâng cao, tiếp cận với thông lệ quốc t. Hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ và quản lý rủi ro của các TCTD được tăng cường; chiến lược kinh doanh bước đầu phù hợp với văn hóa rủi ro và khẩu vị rủi ro. Hơn nữa, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, đa dạng hóa và cải thiện đáng kể chất lượng dịch vụ ngân hàng. Các dịch vụ cơ bản như huy động, cho vay, cung ứng dịch vụ thanh toán được phát triển đa dạng.

Đẩy mạnh các dịch vụ phi tín dụng truyền thống (bảo hiểm nhân thọ, ngân quỹ, than toán điện tử,… ). Cơ cấu tài sản có dịch chuyển theo hướng tích cực, dòng vốn tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ.

Quy mô, năng lực tài chính và chất lượng tín dụng: Quy mô hệ thống các TCTD tiếp tục tăng, năng lực tài chính của các TCTD được củng cố, vốn điều lệ tăng nhanh dần. Chất lượng tín dụng được cải thiện. “Tỉ lệ nợ xấu nội bảng giảm xuống dưới 2% cuối năm 2018”, ông Hải nói.

NHNN đã chỉ đạo các TCTD xây dựng kế hoạch, lộ trình triển khai thực hiện quyết liệt nhằm đảm bảo đúng quy định về sở hữu cổ phần. Đến tháng 31/12/2018, các TCTD đã cơ bản xử lý, khắc phục được một số vi phạm sở hữu cổ phần, sở hữu chéo.

Một số đề xuất:

NHNN kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành và các đơn vị, tổ chức có liên quan cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa quá trình phân loại, sắp xếp các doanh nghiệp, trọng tâm là các DNNN, thực hiện tái cơ cấu.

Bộ, ngành chủ quản hỗ trợ, chỉ đạo về định hướng cơ cấu lại từ các Tập đoàn/ Tổng công ty Nhà nước đối với phương án cơ cấu của các TCTD phi ngân hàng yếu kém có chủ sở hữu/ cổ đông lớn là các Tập đoàn/ Tổng công ty Nhà nước.

Bộ Tài chính sớm triển khai giải pháp về xử lý các khoản nợ xấu liên quan đến nợ đọng xây dựng cơ bản có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước trung ương địa phương và nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước.

Bộ Công an có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể cơ quan công an các cấp phối hợp với các cấp chính quyền địa phương các nội dung liên quan để triển khai hiệu quả chính sách tại Điều 7 Nghị quyết 42/2017/QH14.

Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, sớm có văn bản hướng dẫn đối với trường hợp nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai.

Các cơ quan, đơn vị truyền thông tiếp tục hỗ trợ công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các chủ trương, chính sách cơ cấu lại, xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

UBND tỉnh, thành phố tiếp tục rà soát, có các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo tới các cấp chính quyền cơ sở (phường, xã) để hướng dẫn thực hiện theo Nghị quyết 42.

Ông Phạm Mạnh Thắng, Phó Tổng giám đốc Vietcombank

Ông Phạm Mạnh Thắng, Phó Tổng giám đốc Vietcombank, trình bày về vấn đề xử lý nợ xấu, những bước chuyển mình từ ngân hàng thương mại:

Trong những năm qua, Quốc hội, Chính phủ, NHNN đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt quá trình cơ cấu lại ngân hàng gắn với xử lý nợ xấu thông qua việc ban hành nhiều cơ chế, chính sách liên quan. Đặc biệt, với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, bài bản và có tính thuyết phục cao, ngày 21/06/2017, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD. Điều này thực sự tạo luồng sinh khí mới, liều thuốc hữu hiệu phá tảng băng nợ xấu, khơi thông mạch máu, lưu thông vốn vào nền kinh tế. Cùng với đó, Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2017-2020 tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017.

Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành kế hoạch hành động của ngành ngân hàng triển khai đề án 1058, các văn bản chỉ đạo các TCTD xây dựng phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu cùng nhiều chỉ thị triển khai thực hiện có hiệu quả công tác xử lý nợ có vấn đề. Các chính sách nêu trên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các TCTD, trong đó có Vietcombank đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu thực chất và bền vững.

Sau nhiều nỗ lực, Vietcombank đã xử lý được khối lượng lớn nợ tồn đọng, bao gồm nợ xấu nội bảng và nợ xấu ngoại bảng. Vietcombank là ngân hàng đầu tiên xử lý và trích lập đầy đủ, mua lại toàn bộ nợ xấu đã bán cho VAMC, đưa nợ xấu về một sổ sớm trước 3 năm so với đề án được phê duyệt.

Tình hình thực hiện Đề án tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 của Vietcombank như sau:

Tính đến cuối năm 2018, Vietcombank đã tự xử lý được khoảng 22.600 tỉ đồng nợ xấu, đạt 134% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2018), đạt 75% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2020) theo Đề án đã được NHNN phê duyệt. Tính đến hết tháng 03/2019, Vietcombank tự xử lý được 22.800 tỉ đồng nợ xấu, đạt 76% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2020) theo Đề án.

Tính đến cuối năm ngoái, Vietcombank đã thu được nợ ngoại bảng là 7.718 tỉ đồng, đạt 102% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2018), đạt 62% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2020) theo Đề án đã được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Tính đến hết tháng 3/2019, Vietcombank đã thu hồi được 8.863 tỉ đồng nợ ngoại bảng đạt 118% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2018), đạt 71% kế hoạch (giai đoạn năm 2016-2020) theo Đề án.

Số dư nợ xấu tại thời điểm 31/12/2018 là 7.189 tỉ đồng, tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,97%. Tính đến 31/03/2019, dư nợ xấu là 6.870 tỉ đồng, tỷ lệ nợ xầu là 1,02%. Từ năm 2016 đến 2018, tỷ lệ nợ xấu của VCB luôn thấp hơn mức khống chế của NHNN (3%) và luôn thấp hơn kế hoạch theo Đề án.

Những kết quả nói trên đã đóng góp quan trọng vào thành tựu kinh doanh nổi bật của Vietcombank năm 2018 với một số chỉ tiêu chính đạt được: i) lợi nhuận trước thuế đạt 18.269 tỉ đồng, tăng 61% so với năm 2017, dẫn đầu hệ thống ngân hàng về quy mô lợi nhuận; ii) Dư nợ tín dụng đạt 639.370 tỉ đồng, tăng 14,6% so với 2017, đảm bảo mức trần NHNN giao; iii) tổng tài sản tiếp tục đạt trên 1 triệu tỉ đồng…; 4 tháng đầu năm 2019, các chỉ tiêu kinh doanh của Vietcombank cơ bản đạt tiến độ kế hoạch và sát với thị trường, hoạt động bán lẻ tăng trưởng tích cực, lợi nhuận kinh doanh tăng so với cùng kỳ và tăng so với kế hoạch.

Vietcombank đã quản lý và xử lý nợ xấu với việc triển khai đồng bộ nhiều biện pháp như sau:

Thứ nhất: Xây dựng và hoàn thiện các quy định của Vietcombank liên quan đến quản lý và xử lý nợ có vấn đề.

Thứ hai: kiện toàn bộ máy nhân sự tham gia công tác xử lý nợ.

Thứ ba: thống nhất phương thức quản lý và xử lý nợ xấu trong hệ thống. Quán triệt toàn hệ thống phương thức quản lý và xử lý nợ xấu. Cụ thể như sau: nâng cao chất lượng thẩm định của Vietcombank. Kiên quyết không cạnh tranh cho vay bằng cách hạ chuẩn tín dụng. Nghiêm cấm việc cấp tín dụng cho nhóm khách hàng liên quan nhằm mục đính lách các quy định về thẩm quyền cấp tín dụng hoặc cấp tín dụng không phù hợp với quy định của Vietcombank. Thận trọng trong công tác chấm điểm và xếp hạng tín dụng đối với khách hàng, đặc biệt là các đối tượng tiềm ẩn rủi ro… Vietcombank chủ động rà soát lại danh mục nợ xấu, nợ tiềm ẩn rủi ro chuyển sang nợ xấu và phân nhóm khách hàng.

Thứ tư, tăng cường vai trò của Trụ sở chính trong công tác xử lý, thu hồi nợ đồng thời triển khai công tác giao kế hoạch đến từng đơn vị.

Trong những năm tới, Chính phủ và NHNN tiếp tục định hướng các ngân hàng thương mại tập trung vào công tác kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý thu hồi nợ. Theo đó, Vietcombank coi công tác quản lý chất lượng tín dụng và xử lý thu hồi nợ xấu là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng. Trong năm 2019, Vietcombank đặt chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu dưới 1% và thu nợ đã xử lý DPRR là trên 3.500 tỉ đồng. Đây là mục tiêu đầy “tham vọng”, tuy nhiên, Vietcombank tin tưởng sẽ hoàn thành được mục tiêu đã đặt ra.
Hệ thống các TCTD là huyết mạch của nền kinh tế, đã đang và sẽ tiếp tục được kỳ vọng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình đổi mới, tái cơ cấu nền kinh tế, đưa nước ta từng bước hội nhập vững chắc với kinh tế khu vực và thế giới.

Vietcombank nói riêng và các ngân hàng thương mại nói chung nhận thức rõ trách nhiệm lớn lao của mình, luôn cố gắng nỗ lực “chuyển mình”, tập trung nguồn lực trong công tác kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý thu hồi nợ để nhanh chóng xử lý triệt để nợ xấu, phá tan “cục máu đông”, khơi thông dòng vốn để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Khép lại phiên đầu tiên với việc nhận diện bối cảnh hiện nay của ngành ngân hàng và những dự báo về chính sách tiền tệ trong tương lai, chúng ta đến với phiên thảo luận thứ 2 chủ đề "Hệ thống ngân hàng cần làm gì để củng cố về tài chính, con người, chuẩn bị cho sự phát triển trong tương lai?" với sự tham gia của Bùi Văn Hải, Phó Vụ trưởng Vụ Giám sát NH, Cơ quan Thanh tra Giám sát NH – NHNN, ông Phạm Mạnh Thắng, Phó Tổng giám đốc Vietcombank, ông Võ Tấn Long, Phó Tổng giám đốc Công ty Tư vấn PwC Việt Nam.
Phiên thảo luận thứ 2

Xin ông đánh giá về sức khỏe của hệ thống NHTM sau 5 năm tái cơ cấu?

-Ông Võ Tấn Long, Phó Tổng giám đốc Công ty Tư vấn PwC Việt Nam: Có 2 khía cạnh quan trọng thời gian tới cần đẩy mạnh khi tái cơ cấu là: cần nâng cao năng lực quản trị của NH (về rủi ro tín dụng, năng lực quản trị bản thân...) để bắt kịp các mô hình mới. Hai nữa là nâng cao năng lực của nguồn nhân lực trong ngân hàng. 80% CEO cho rằng thiếu hụt nhân lực và vốn sẽ cản trở phát triển.

-Ông Phạm Mạnh Thắng, Phó Tổng giám đốc Vietcombank: Nhu cầu vốn tập trung chủ yếu ở NH, áp lực nguồn vốn, bắt buộc phải đưa vốn tự có tăng. Với Vietcombank đang có định hướng thuộc tốp 100 ngân hàng lớn nhất khu vực bắt buộc còn cần phải tăng vốn lên nhiều. Chúng tôi đã có giải pháp để sử dụng vốn hiệu quả. Nhưng mong Chính phủ cho sử dụng quỹ tái cơ cấu các DN để chúng tôi có thể tăng được vốn để đáp ứng nhu cầu cho vay của doanh nghiệp.

-Ông Bùi Văn Hải: Tôi chia sẻ thêm về tăng vốn của VCB lên Basel 2. Có 7 NHTM đã áp dụng thông tư 41 trước thời hạn trong đó có VCB. Tăng vốn là quan trọng, nhưng khi áp dụng Basel 2 sử dụng tài sản cho vay hiệu quả, giảm rủi ro, khi đó sử dụng vốn sẽ hiệu quả hơn, giảm cho vay vào lĩnh vực rủi ro.

Khán giả Phan Vân Hà hoạt động trong lĩnh vực thẩm định giá hỏi liên quan tới xử lý nợ xấu và tái cấu trúc NH, hành lang pháp lý trong định gía nợ. Khi nghị quyết 42 đề cập định giá nợ, đang rất thiếu hành lang pháp lý cho định giá nợ, ví dụ, nợ trị giá 100 tỉ đồng nhưng khi định giá tài sản đảm bảo 50 tỉ, vậy 50 tỉ đồng còn lại định giá như thế nào?

-Ông Bùi Văn Hải: Trước đây, NHNN đã rà soát lại văn bản liên quan, liệu có lỗ hổng pháp lý hay không, chúng tôi cũng làm việc với Bộ Tài chính về vấn đề này vì nó thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính.

-Võ Tấn Long: Trong quá trình nâng cao năng lực quản trị, tạo ra sự tuân thủ, tôi đồng ý với khán giả, xác định đúng giá trị đảm bảo là một trong những cách đảm bảo chất lượng khoản vay.  Nếu làm được điều này nhiều khi không cần phải tăng vốn của các ngân hàng.

Chiến lược phát triển ngành ngân hàng 5 năm tới

 

Phiên thứ 3 mở đầu bằng những thông tin tổng quan về chiến lược phát triển ngành ngân hàng 5 năm tới, những thách thức, cơ hội để các ngân hàng Việt Nam vươn cao hơn trong khu vực châu Á với bài trình bày của Ths Nguyễn Thị Hòa, Phó Viện trưởng phụ trách Viện chiến lược ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước.

Xem toàn văn bài phát biểu tham gia tọa đàm tại đây

Ngày 8-8-2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 986/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Chiến lược khẳng định hệ thống ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế, tiếp tục giữ vai trò trọng yếu trong tổng thể hệ thống tài chính Việt Nam. Chiến lược đưa ra các mục tiêu cụ thể cho 2 giai đoạn:

Giai đoạn 2018 - 2020: Phấn đấu đến năm 2020 các ngân hàng thương mại (NHTM) cơ bản có mức vốn tự có theo chuẩn mực Basel II; có ít nhất từ 1 - 2 NHTM nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản trong khu vực châu Á; hoàn thành việc niêm yết cổ phiếu của các NHTM CP trên thị trường chứng khoán Việt Nam; đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các TCTD, nợ xấu đã bán cho VAMC và nợ đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ xuống dưới 3% (không bao gồm các NHTM yếu kém đã được Chính phủ phê duyệt phương án xử lý).

Giai đoạn 2021 – 2025: Tất cả các NHTM áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn; phấn đấu đến cuối năm 2025 có ít nhất từ 2-3 NHTM nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) trong khu vực châu Á và 3-5 ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài; tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của các NHTM lên khoảng 16-17%; nợ xấu của toàn hệ thống các TCTD dưới 3%.

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, ngành ngân hàng Việt Nam phải không ngừng nỗ lực tận dụng các cơ hội và vượt qua mọi thách thức từ bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước.
Trong bối cảnh diễn biến khó lường của kinh tế thế giới cùng những thuận lợi đan xen không ít rủi ro, thách thức của kinh tế trong nước, để đạt được mục tiêu mà chiến lược đã đặt ra, các ngân hàng Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp như sau:

Thứ nhất là lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả, đảm bảo an toàn hệ thống, cụ thể: tăng vốn và cải thiện chất lượng nguồn vốn tự có của các NHTM, bảo đảm mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định và đáp ứng đầy đủ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật và chuẩn mực quốc tế; tích cực, chủ động triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp kiểm soát chất lượng tín dụng, giảm nợ xấu, nâng cao chất lượng tài sản; khuyến khích và tạo điều kiện để các ngân hàng lành mạnh hoặc các nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài tham gia tái cơ cấu các NHTM cổ phần yếu kém; mua bán, sáp nhập trên cơ sở tự nguyện của các ngân hàng để hình thành các định chế có quy mô lớn và quản trị tốt hơn.

Thứ hai, cần nâng cao năng lực quản trị, điều hành, tính minh bạch trong hoạt động ngân hàng. Trong đó trọng tâm là  hoàn thiện, áp dụng hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực của Ủy ban Basel và lộ trình áp dụng Basel II tại Việt Nam; hoàn thiện và áp dụng các quy định về quản trị ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế; phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh ngân hàng có trình độ chuyên môn cao, ý thức tuân thủ pháp luật, có đạo đức và tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp tốt; đa dạng hóa cơ cấu cổ đông; yêu cầu các tổ chức tín dụng công bố công khai, minh bạch, chính xác thông tin về chiến lược kinh doanh, sở hữu, tình hình tài chính, cơ cấu quản lý, quản trị rủi ro và quản trị doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế; hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường, công khai, minh bạch, đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực về quản trị và an toàn hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật và tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Thứ ba, hệ thống ngân hàng Việt Nam cần đổi mới hoạt động theo xu thế mới. Cụ thể: chuyển đổi mạnh mẽ mô hình kinh doanh của các ngân hàng thương mại theo hướng từ “độc canh tín dụng” sang mô hình đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phi tín dụng; nâng cao tính chuyên môn, chuyên nghiệp trong cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng điện tử; gia tăng xuất khẩu dịch vụ tài chính; thoái vốn đầu tư ngoài ngành, lĩnh vực phi tài chính, nhiều rủi ro; cơ cấu tín dụng tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên nhằm góp phần cơ cấu lại nền kinh tế; các ngân hàng chủ động xây dựng/điều chỉnh Chiến lược kinh doanh phù hợp với giai đoạn mới; trong đó hoạch định chiến lược phát triển dịch vụ rõ ràng, chú trọng phát triển các kênh cung ứng dịch vụ hiện đại, ứng dụng công nghệ số; đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, phát triển mạnh các kênh dịch vụ phi tín dụng nhằm tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng; nâng cao chất lượng phục vụ theo hướng cải thiện thái độ phục vụ, đổi mới quy trình, thủ tục và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin…

Thứ tư là hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin và hệ thống thanh toán nội bộ của các NHTM. Nâng cấp hệ thống ngân hàng lõi phù hợp với quy mô, mức độ phức tạp hoạt động và yêu cầu quản trị, điều hành của ngân hàng. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào sản phẩm, dịch vụ, vào điều hành và quản lý, phân tích và phòng ngừa rủi ro. Đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển mạnh các phương thức thanh toán điện tử như ngân hàng trực tuyến, thanh toán qua Internet, điện thoại di động, thanh toán không tiếp xúc trên di động. Áp dụng các biện pháp an ninh, tiêu chuẩn bảo mật mới, tiên tiến phù hợp với xu hướng thanh toán trên thế giới. Xây dựng chuẩn thẻ chíp nội địa và triển khai kế hoạch chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chíp tại Việt Nam với lộ trình thích hợp nhằm bảo đảm an ninh, an toàn trong thanh toán thẻ.

Ông Trần Thái Bình, Phó Giám đốc Khối Công nghệ Sacombank chia sẻ chủ đề đầu tư vào công nghệ của hệ thống ngân hàng các nước và Việt Nam, những đón đầu cần thiết trong thời gian tới:

Xem toàn văn bài phát biểu tại đây

Sự tiến bộ của công nghệ thay đổi mọi thứ và hành vi của người dùng, thay đổi cách đi taxi, giao dịch với ngân hàng... NH nào không liên quan đến khách hàng sẽ bị khách rời xa.
Trước những thay đổi này các NH thương mại cả trên thế giới và trong nước đang định hướng lại chiến lược, số hóa để nâng cao trải nghiệm của người dùng. Nhiều ngân hàng trong nước và khu vực đã ứng dụng nhiều công nghệ mới để cung cấp các dịch vụ nhân hàng trên di động.

Nhiều ngân hàng chuyển đổi số đến tận phần lõi của ngân hàng. Thay đổi văn hóa biến nhân viên có văn hóa khởi nghiệp. Đặt mình vào hành trình của khách hàng, chuyển đổi công nghệ lên nền tảng điện toán đám mây. Ứng dụng công nghệ số vào để tạo môi trường làm việc không giấy tờ.

Tại VN thời gian qua các ngân hàng đã định hình lại chiến lược, tập trung đầu tư vào công nghệ như: trợ lý ảo với trí thông minh nhân tạo, nền tảng ngân hàng số, dùng robot thay con người để cung cấp dịch vụ cơ bản, số hóa tự động hóa quy trình kinh doanh nghiệp vụ, phân tích dữ liệu để thấu hiểu hành vi của khách hàng, an toàn thông tin...

PGS.TS Trần Thị Thanh Tú, Chủ nhiệm Khoa Tài chính - PNgân hàng, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, trình bày chủ đề: "Tín dụng xanh: xu hướng của tương lai, những đề xuất chính sách cho tín dụng xanh"

Ngân hàng xanh phải gắn với phát triển xanh và bền vững. Do đó, các ngân hàng không chỉ đảm bảo phát triển hoạt động của mình mà phải phát triển bền vững cho xã hội và môi trường.

Theo các tổ chức quốc tế, có 5 cấp độ về tín dụng xanh:

Cấp 1: Giảm thiểu sử dụng tài nguyên trong hoạt động ngân hàng. Đây là cấp độ hầu hết các ngân hàng Việt Nam đạt được.

Cấp 2: Cung cấp tín dụng cho các dự án xanh.

Cấp 3: Hoạt động kinh doanh có hệ thống liên quan tới tín dụng xanh, coi đây là mảng kinh doanh lớn.

Cấp 4: Chủ động xây dựng chiến lược xanh.

Cấp 5: Chủ động tham gia hệ sinh thái chiến lược, gắn với các cam kết về môi trường.

Theo OECD, tín dụng xanh là cấu phần trong tháp đầu tư xanh, cung cấp tín dụng dự án đầu tư xanh sẽ tạo ra nghề nghiệp, chứng khoán, tín phiếu, cổ phiếu xanh, tạo ra hệ thống phát triển đầu tư xanh.

Tín dụng xanh cho doanh nghiệp tăng sẽ giảm thiểu phát thải carbon, giảm phát thải khí nhà kính.

Việt Nam mới hình thành khái niệm tín dụng xanh khoảng 10 năm nhưng thế giới đã có hàng trăm năm. Tại Mỹ, Anh, Hàn Quốc đã có các định chế tài chính xanh, đóng vai trò cung cấp tín dụng vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, giảm thải CO2. Các định chế tài chính lớn này đóng vai trò quan trọng phát triển tín dụng xanh.

Các nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh, tiếp cận mô hình từ dưới lên. Ví dụ Tại Ấn Độ, tín dụng cho sản xuất năng lượng mặt trời tại hộ gia đình được cấp thông qua các tổ chức tài chính vi mô. Trung Quốc thì đi theo hướng phát triển trái phiếu xanh.

Nói về bài học cho Việt Nam, bà Tú cho hay, vai trò Chính phủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án là rất quan trọng. Thực tế, NHNN đã có đề án phát triển tín dụng xanh.

Từ thất bại một số nước, bà Tú cho hay, cần có sự hỗ trợ, kết hợp của cơ quan ban ngành có liên quan, không chỉ từ NHNN, Bộ Tài chính mà cần có sự chung tay của Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc xác định các dự án xanh.

Năm 2018, điều tra của chúng tôi cho thấy, hầu hết lãnh đạo NH hiểu rõ về mức độ ưu tiên và ngành nghề, lĩnh vực xanh tại Việt Nam. Nhưng thực tế, có tới 60% doanh nghiệp chưa bao giờ đề xuất vay vốn ngân hàng xanh do họ chưa biết có chính sách thúc đẩy đầu tư xanh từ phía NHTM. Nguồn tin chủ yếu của họ từ các dự án môi trường như GIZ, UNDP, thông tin từ phía cơ quan nhà nước rất tháp, dưới 50%.

Trên cơ sở đó, bà Tú kiến nghị, Việt Nam nên tiếp cận từ trên xuống, trong đó Chính phủ đóng vai trò dẫn dắt, thông qua hệ thống NH đầu tư vào dự án xanh.

Cần xây dựng chiến lược, danh mục đầu tư xanh để gợi ý cho doanh nghiệp. Định chế tài chính lớn cần thực hiện trước, nếu thành công sẽ nhân rộng mô hình này.

Đối với các dự án đầu tư xanh, ví dụ EVN đầu tư năng lượng mặt trời, nếu thành công nên nhân rộng sang các mô hình khác.

Đặc biệt, công tác truyền thông phải được đẩy mạnh với lĩnh vực đầu tư xanh, trong đó có các trường đại học của chúng tôi. Người tiêu dùng cũng đóng vai trò quyết định đến tiêu dùng xanh, từ đó sẽ dẫn tới đầu tư xanh của doanh nghiệp.

Năm 2017, nghiên cứu của chúng tôi liên quan tới hệ số lan toả kinh tế với các ngành khác nhau, cho thấy ngành khai thác và xây dựng chiếm tỉ trọng đầu tư lớn trong tín dụng của các NH trong khi chỉ số lan toả tới các ngành hàng khác ở mức thấp nhất và tiêu thụ năng lượng ở mức cao nhất, chỉ số phát thải CO2 lớn nhất. Do đó, các ngân hàng cần điều chỉnh dịch chuyển tín dụng từ đầu tư ngành xây dựng, khai thác sang ngành nông lâm thuỷ sản và dịch vụ để hướng tới tài chính xanh.

Bước vào phiên thảo luận cuối cùng của diễn đàn hôm nay với "Vẽ bức tranh ngân hàng Việt trong 5 năm tới", vị thế của ngân hàng Việt và những thách thức trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có những biến động mạnh. Các diễn giả tham dự gồm Ths Nguyễn Thị Hòa, Phó viện trưởng phụ trách Viện chiến lược ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước, PGS.TS Trần Thị Thanh Tú, Chủ nhiệm Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, ông Trần Thái Bình, Phó Giám đốc Khối Công nghệ, Sacombank, ông Johan Nyvene, Tổng Giám đốc Công ty chứng khoán TPHCM (HSC).

Tín dụng xanh là một xu hướng cần phổ biến, nhưng theo bà hiện tại có những khó khăn gì khi muốn nhân rộng, nên giải quyết ra sao?

-Bà Trần Thị Thanh Tú: Một trong những khó khăn của DN là tiếp cận thông tin để hiểu được lĩnh vực nào ưu tiên đầu tư xanh; hỗ trợ từ cơ quan ban ngành liên quan.

Sacombank, Nam A Bank đã bắt đầu cung cấp tín dụng gắn với ưu tiên môi trường. GIZ cũng hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư năng lượng tái tạo. Ngân hàng cũng thông qua vốn uỷ thác từ tổ chức quốc tế cho dự án xanh.

Ngân hàng thẩm định dự án này không đơn giản, đòi hỏi kiến thức chuyên môn, không chỉ ngành cho vay mà môi trường. IFC đã có cẩm nang hướng dẫn, đánh giá tác động rủi ro và môi trường với hơn 80 ngành nghề khác nhau. Đây mới chỉ là cẩm nang hướng dẫn, chưa tạo ra sự bắt buộc để ngân hàng áp dụng.

Thông qua diễn đàn tôi mong muốn ngân hàng hướng tới cho vay những ngành này.

Nhà đầu tư nước ngoài có mong chờ gì đối với sự “lớn lên” của ngành ngân hàng Việt trong tương lai? Ngân hàng Việt cần cải thiện gì để trở nên hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư nước ngoài?

-Ông Johan Nyvene: Hiện nay có hai loại nhà đầu tư: đầu tư chiến lược và đầu tư tài chính. Thời gian qua có sự thay đổi rõ nét là sự chuyển dịch từ đầu tư chiến lược - thoái vốn - chuyển sang nhà đầu tư tài chính. Hai nhà đầu tư này khác nhau về định hướng chiến lược nhưng cả hai đều có mẫu số chung, đó là lĩnh vực ngân hàng thiên về khách hàng cá nhân, trong đó có SME là doanh nghiệp nhỏ, một dạng dịch vụ khách hàng cá nhân.

Các ngân hàng nước ngoài đang nhắm tới đầu tư vào những ngân hàng trong nước mở rộng phù hợp đối tượng khách hàng này. Ngoài ra, việc quản trị doanh nghiệp là một mẫu số chung mà các nhà đầu tư tướng tới. Ví dụ, các ngân hàng đạt Basel 2 được nhà đầu tư đánh giá cao hơn so với các ngân hàng khác.

Diễn đàn toàn cảnh ngân hàng lần 2 năm 2019 khép lại.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.