Mobile

Cổ phiếu ngân hàng: Vẫn hấp dẫn đối với dòng tiền đầu tư giá trị
Thứ Năm,  9/5/2019, 16:15 
Thủy Trần

Cổ phiếu ngân hàng: Vẫn hấp dẫn đối với dòng tiền đầu tư giá trị

Thủy Trần

(TBKTSG) - Mặc dù giá cổ phiếu ngân hàng không có mức tăng trưởng tốt trong năm 2018 nhưng định giá nhóm ngành này đang quay về mức hấp dẫn.

Giảm giá trong năm 2018

Kết thúc năm 2018, trong số 17 cổ phiếu ngân hàng niêm yết trên cả ba sàn thì chỉ có cổ phiếu của bốn ngân hàng còn giữ được mức tăng điểm so với thị giá hồi đầu năm bao gồm: BIDV, NCB, VIB và Eximbank. Trong đó, BID có mức tăng điểm cao nhất (27,4%), NVB cũng ở mức xấp xỉ với mức tăng 26,7%, cuối cùng là EIB, tăng 11%.

Tất cả cổ phiếu ngân hàng còn lại đều sụt giảm về giá trị từ 1-25,4%. Sáu cổ phiếu ngân hàng có mức giảm nhiều nhất là HDBank (20,7%); SHB (20,9%); TPB (20,9%); CTG (22,8%); TCB (24%) và VPB (25,4%).

Tính trung bình, giá các cổ phiếu đã giảm khoảng 6,6% trong năm 2018. Với việc thị giá cổ phiếu đồng loạt sụt giảm, vốn hóa thị trường của nhóm cổ phiếu ngân hàng đã “bốc hơi” gần 70.000 tỉ đồng trong năm ngoái.

Mặc dù vậy, thị giá các cổ phiếu giảm không đồng nghĩa với việc nhà đầu tư thua lỗ khi đầu tư nắm giữ cổ phiếu này bởi vì trong suốt quá trình nắm giữ, ngoài giá trị cổ phiếu, các nhà đầu tư còn nhận được cổ tức, các khoản chia thưởng bằng cổ phiếu. Đó là đối với những nhà đầu tư dài hạn, chủ yếu nắm giữ giá trị. Còn đối với những nhà đầu tư ngắn hạn, những nhà đầu cơ, biến động của cổ phiếu ngân hàng trong năm qua đã mang đến cơ hội “lướt sóng” với nhiều đợt biến động mạnh về giá.

Mặc dù có diễn biến trồi sụt trong năm 2018, nhưng xét trong một khoảng thời gian dài 5 năm thì cổ phiếu ngân hàng vẫn là nhóm có tăng trưởng vượt trội. Cụ thể, cổ phiếu nhóm ngành này đã tăng hơn 150% trong vòng 5 năm trong khi chỉ số Vn-Index chỉ tăng hơn 90%.

Giá cổ phiếu của nhiều ngân hàng giảm trong năm 2018, nhưng với nhà đầu tư, đây vẫn là lĩnh vực hấp dẫn.

Triển vọng năm 2019 - lợi nhuận sẽ tăng 17%?

Mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2019 cũng như một vài năm tiếp theo đang được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực thi một cách thận trọng (chỉ ở mức 14% thay cho mức 15-18% trong giai đoạn 2014-2017). Xu hướng này sẽ mang đến nhiều thách thức với tăng trưởng của ngành ngân hàng trong thời gian tới do hơn 70% thu nhập của toàn ngành hiện nay vẫn đến từ các khoản thu từ lãi cho vay. Ngoài ra, khi tiêu chuẩn Basel II được áp dụng, các ngân hàng sẽ phải tìm cách chuyển dịch mảng kinh doanh của họ, không còn dựa chủ yếu vào tăng trưởng tín dụng nữa, mà phải tăng tỷ trọng đóng góp của thu nhập từ hoạt động dịch vụ.

Thu nhập của các ngân hàng giảm phụ thuộc vào tăng trưởng tín dụng là hướng đi tốt, nhưng về mặt định tính, trong ngắn hạn, số lợi nhuận thu được từ dịch vụ sẽ không cao hơn cho vay tín dụng. Nhu cầu tăng vốn mạnh trong giai đoạn tới nhằm đáp ứng chuẩn hệ số CAR theo Basel II cũng sẽ làm gia tăng rủi ro pha loãng thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), theo đó giá cổ phiếu cũng mất đi sức hấp dẫn nhất định.

Mặc dù vậy, lãi cận biên (NIM) của các ngân hàng đang có dấu hiệu cải thiện tốt và chủ yếu nhờ tăng trưởng tín dụng cá nhân, vốn là các sản phẩm có lợi nhuận biên cao hơn cho vay doanh nghiệp. Theo Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của toàn ngành ngân hàng năm 2019 sẽ duy trì ở mức 3,2%, tương đương với năm 2018 do tỷ lệ cho vay trên vốn huy động (LDR) tại hầu hết các ngân hàng vẫn đang ở dưới mức quy định theo Thông tư 36 và ngân hàng vẫn có thể duy trì được mức chênh lệch hợp lý giữa lãi suất đầu ra và lãi suất đầu vào.

Hai yếu tố được nhận định có thể tác động tiêu cực tới NIM là việc đưa tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn về mức 40% kể từ ngày 1-1-2019 (có thể tiếp tục giảm về mức 30% trong vòng 2-3 năm tới) và nguồn vốn giá rẻ từ Kho bạc Nhà nước (KBNN) có thể sẽ giảm trong năm 2019 do tình hình giải ngân đầu tư công tốt hơn so với năm 2018. Tuy nhiên, tiền gửi KBNN sẽ chỉ ảnh hưởng đến ba “ông lớn” gốc nhà nước là BIDV, VietinBank và Vietcombank. BVSC dự báo lợi nhuận nhóm ngân hàng niêm yết sẽ tăng khoảng 17% trong 2019.

Giá cổ phiếu của BID trong những giao dịch gần đây. Nguồn: HOSE

Về vấn đề nợ xấu, xét chung cho toàn hệ thống, chất lượng tài sản của các ngân hàng đang dần được cải thiện, thể hiện ở hai điểm: tỷ lệ nhóm 2 chưa ở mức quá cao, tỷ lệ bao phủ nợ xấu hiện tốt hơn nhiều so với giai đoạn trước và các ngân hàng có nguồn lực tốt hơn để đưa nợ xấu ra khỏi bảng cân đối kế toán. Tại nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần gốc nhà nước, VCB và CTG có nguồn lực để xử lý nợ xấu tốt hơn so với BID và cũng đã xử lý xong toàn bộ trái phiếu VAMC. Trong khi với BID, khả năng xử lý nợ xấu không tốt bằng do tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLCR) mới ở mức 74% và BID vẫn còn số dư trái phiếu VAMC hơn 14.000 tỉ đồng.

Tại nhóm NHTM cổ phần tư nhân, ACB vẫn là ngân hàng có chất lượng tài sản tốt với tỷ lệ nợ từ nhóm 2-5 là 0,9% và LLCR cao thứ 2 toàn hệ thống (152% chỉ sau VCB). TCB và TPB có tỷ lệ nợ xấu tăng nhẹ nhưng LLCR cũng cải thiện nhiều so với cùng kỳ.

Mặc dù giá cổ phiếu ngân hàng không có mức tăng trưởng tốt trong năm 2018 nhưng định giá nhóm ngành này đang quay về mức hấp dẫn. So sánh tương quan giữa giá của cổ phiếu so với giá trị ghi sổ (P/B) với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân năm năm trở lại đây, cổ phiếu ngân hàng Việt Nam đắt hơn tương đối so với các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, khi so sánh mức định giá hiện tại với ROE năm 2019, cổ phiếu ngân hàng Việt Nam hiện đang ở dưới giá trị. Đây được coi là điểm hỗ trợ, hấp dẫn dòng tiền đầu tư giá trị dài hạn tại nhóm cổ phiếu ngân hàng trong năm 2019.

Vị trí đặt bình chọn
TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Cổ phiếu ngân hàng: Vẫn hấp dẫn đối với dòng tiền đầu tư giá trị

Thủy Trần
Thứ Năm,  9/5/2019, 16:15 

Cổ phiếu ngân hàng: Vẫn hấp dẫn đối với dòng tiền đầu tư giá trị

Thủy Trần

(TBKTSG) - Mặc dù giá cổ phiếu ngân hàng không có mức tăng trưởng tốt trong năm 2018 nhưng định giá nhóm ngành này đang quay về mức hấp dẫn.

Giảm giá trong năm 2018

Kết thúc năm 2018, trong số 17 cổ phiếu ngân hàng niêm yết trên cả ba sàn thì chỉ có cổ phiếu của bốn ngân hàng còn giữ được mức tăng điểm so với thị giá hồi đầu năm bao gồm: BIDV, NCB, VIB và Eximbank. Trong đó, BID có mức tăng điểm cao nhất (27,4%), NVB cũng ở mức xấp xỉ với mức tăng 26,7%, cuối cùng là EIB, tăng 11%.

Tất cả cổ phiếu ngân hàng còn lại đều sụt giảm về giá trị từ 1-25,4%. Sáu cổ phiếu ngân hàng có mức giảm nhiều nhất là HDBank (20,7%); SHB (20,9%); TPB (20,9%); CTG (22,8%); TCB (24%) và VPB (25,4%).

Tính trung bình, giá các cổ phiếu đã giảm khoảng 6,6% trong năm 2018. Với việc thị giá cổ phiếu đồng loạt sụt giảm, vốn hóa thị trường của nhóm cổ phiếu ngân hàng đã “bốc hơi” gần 70.000 tỉ đồng trong năm ngoái.

Mặc dù vậy, thị giá các cổ phiếu giảm không đồng nghĩa với việc nhà đầu tư thua lỗ khi đầu tư nắm giữ cổ phiếu này bởi vì trong suốt quá trình nắm giữ, ngoài giá trị cổ phiếu, các nhà đầu tư còn nhận được cổ tức, các khoản chia thưởng bằng cổ phiếu. Đó là đối với những nhà đầu tư dài hạn, chủ yếu nắm giữ giá trị. Còn đối với những nhà đầu tư ngắn hạn, những nhà đầu cơ, biến động của cổ phiếu ngân hàng trong năm qua đã mang đến cơ hội “lướt sóng” với nhiều đợt biến động mạnh về giá.

Mặc dù có diễn biến trồi sụt trong năm 2018, nhưng xét trong một khoảng thời gian dài 5 năm thì cổ phiếu ngân hàng vẫn là nhóm có tăng trưởng vượt trội. Cụ thể, cổ phiếu nhóm ngành này đã tăng hơn 150% trong vòng 5 năm trong khi chỉ số Vn-Index chỉ tăng hơn 90%.

Giá cổ phiếu của nhiều ngân hàng giảm trong năm 2018, nhưng với nhà đầu tư, đây vẫn là lĩnh vực hấp dẫn.

Triển vọng năm 2019 - lợi nhuận sẽ tăng 17%?

Mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2019 cũng như một vài năm tiếp theo đang được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực thi một cách thận trọng (chỉ ở mức 14% thay cho mức 15-18% trong giai đoạn 2014-2017). Xu hướng này sẽ mang đến nhiều thách thức với tăng trưởng của ngành ngân hàng trong thời gian tới do hơn 70% thu nhập của toàn ngành hiện nay vẫn đến từ các khoản thu từ lãi cho vay. Ngoài ra, khi tiêu chuẩn Basel II được áp dụng, các ngân hàng sẽ phải tìm cách chuyển dịch mảng kinh doanh của họ, không còn dựa chủ yếu vào tăng trưởng tín dụng nữa, mà phải tăng tỷ trọng đóng góp của thu nhập từ hoạt động dịch vụ.

Thu nhập của các ngân hàng giảm phụ thuộc vào tăng trưởng tín dụng là hướng đi tốt, nhưng về mặt định tính, trong ngắn hạn, số lợi nhuận thu được từ dịch vụ sẽ không cao hơn cho vay tín dụng. Nhu cầu tăng vốn mạnh trong giai đoạn tới nhằm đáp ứng chuẩn hệ số CAR theo Basel II cũng sẽ làm gia tăng rủi ro pha loãng thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), theo đó giá cổ phiếu cũng mất đi sức hấp dẫn nhất định.

Mặc dù vậy, lãi cận biên (NIM) của các ngân hàng đang có dấu hiệu cải thiện tốt và chủ yếu nhờ tăng trưởng tín dụng cá nhân, vốn là các sản phẩm có lợi nhuận biên cao hơn cho vay doanh nghiệp. Theo Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của toàn ngành ngân hàng năm 2019 sẽ duy trì ở mức 3,2%, tương đương với năm 2018 do tỷ lệ cho vay trên vốn huy động (LDR) tại hầu hết các ngân hàng vẫn đang ở dưới mức quy định theo Thông tư 36 và ngân hàng vẫn có thể duy trì được mức chênh lệch hợp lý giữa lãi suất đầu ra và lãi suất đầu vào.

Hai yếu tố được nhận định có thể tác động tiêu cực tới NIM là việc đưa tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn về mức 40% kể từ ngày 1-1-2019 (có thể tiếp tục giảm về mức 30% trong vòng 2-3 năm tới) và nguồn vốn giá rẻ từ Kho bạc Nhà nước (KBNN) có thể sẽ giảm trong năm 2019 do tình hình giải ngân đầu tư công tốt hơn so với năm 2018. Tuy nhiên, tiền gửi KBNN sẽ chỉ ảnh hưởng đến ba “ông lớn” gốc nhà nước là BIDV, VietinBank và Vietcombank. BVSC dự báo lợi nhuận nhóm ngân hàng niêm yết sẽ tăng khoảng 17% trong 2019.

Giá cổ phiếu của BID trong những giao dịch gần đây. Nguồn: HOSE

Về vấn đề nợ xấu, xét chung cho toàn hệ thống, chất lượng tài sản của các ngân hàng đang dần được cải thiện, thể hiện ở hai điểm: tỷ lệ nhóm 2 chưa ở mức quá cao, tỷ lệ bao phủ nợ xấu hiện tốt hơn nhiều so với giai đoạn trước và các ngân hàng có nguồn lực tốt hơn để đưa nợ xấu ra khỏi bảng cân đối kế toán. Tại nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần gốc nhà nước, VCB và CTG có nguồn lực để xử lý nợ xấu tốt hơn so với BID và cũng đã xử lý xong toàn bộ trái phiếu VAMC. Trong khi với BID, khả năng xử lý nợ xấu không tốt bằng do tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLCR) mới ở mức 74% và BID vẫn còn số dư trái phiếu VAMC hơn 14.000 tỉ đồng.

Tại nhóm NHTM cổ phần tư nhân, ACB vẫn là ngân hàng có chất lượng tài sản tốt với tỷ lệ nợ từ nhóm 2-5 là 0,9% và LLCR cao thứ 2 toàn hệ thống (152% chỉ sau VCB). TCB và TPB có tỷ lệ nợ xấu tăng nhẹ nhưng LLCR cũng cải thiện nhiều so với cùng kỳ.

Mặc dù giá cổ phiếu ngân hàng không có mức tăng trưởng tốt trong năm 2018 nhưng định giá nhóm ngành này đang quay về mức hấp dẫn. So sánh tương quan giữa giá của cổ phiếu so với giá trị ghi sổ (P/B) với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân năm năm trở lại đây, cổ phiếu ngân hàng Việt Nam đắt hơn tương đối so với các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, khi so sánh mức định giá hiện tại với ROE năm 2019, cổ phiếu ngân hàng Việt Nam hiện đang ở dưới giá trị. Đây được coi là điểm hỗ trợ, hấp dẫn dòng tiền đầu tư giá trị dài hạn tại nhóm cổ phiếu ngân hàng trong năm 2019.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.