Mobile

Tỷ giá - chỉ báo nhạy cảm nhất
Thứ Năm,  20/6/2019, 10:38 
Thái Ngô

Tỷ giá - chỉ báo nhạy cảm nhất

Thái Ngô

(TBKTSG) - Tỷ giá đang trải qua hai tháng biến động mạnh nhất kể từ đầu năm 2019. Sau gần bốn tháng dao động trong biên độ hẹp ±10 đồng xung quanh mức 23.200 đồng/đô la Mỹ, sự ổn định bắt đầu rạn nứt khi thị trường tiến vào nửa sau của quí 2.

Những lý do khiến Fed có thể không hạ lãi suất

Tỷ giá đang trở thành một chỉ báo rất nhạy với các biến động vĩ mô.

Đây là giai đoạn cường độ thanh toán ra ngoài trở nên sôi động hơn và căng thẳng thương mại bùng phát trở lại. Tỷ giá có những bước nhảy lớn trong tháng 5, lần lượt phá các ngưỡng 23.300 đồng (+0,43% so với đầu năm) và 23.400 đồng (+0,86% so với đầu năm) chỉ trong hai tuần đầu tháng.

Cho đến giữa tháng 6, tỷ giá duy trì trong vùng 23.380-23.420 đồng/đô la Mỹ. So với cùng kỳ năm 2018, tỷ giá đã tăng mạnh hơn, cho thấy các điều kiện thị trường đã thay đổi đáng kể và duy trì sức ép lên tỷ giá.

Khi thị trường kỳ vọng tỷ giá tăng, việc nắm giữ trạng thái là có lợi.

Các doanh nghiệp có nhu cầu thanh toán ngoại tệ sẽ giữ trạng thái qua các hợp đồng mua kỳ hạn ngoại tệ.

Thứ nhất, cán cân thương mại có xu hướng thâm hụt. Lũy kế năm tháng đầu năm 2019, cán cân thương mại chuyển sang trạng thái âm 548 triệu đô la Mỹ, so với mức thặng dư 2,6 tỉ đô la cùng kỳ 2018. Chịu ảnh hưởng đồng thời bởi xu hướng giảm tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu và lây lan từ căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, xuất khẩu trở nên khó khăn (+6,7%, cùng kỳ 2018 là +17,3%) trong khi nhập khẩu vẫn tăng cao (+10,3%, cùng kỳ 2018 là +12,8%).

Thâm hụt thương mại có xu hướng làm suy yếu cán cân vãng lai, qua đó làm trượt tỷ giá. Dữ liệu quá khứ gợi ý sự suy yếu trên cán cân vãng lai vẫn duy trì áp lực làm yếu tiền đồng cho tới hai năm sau đó. Đó là giai đoạn tỷ giá được điều hành cứng nhắc. Với tỷ giá “tự do” hơn cùng với kỳ vọng của thị trường thì hiệu ứng này có thể đã dần phản ánh vào tỷ giá.

Thứ hai, đồng nhân dân tệ đang mất giá nhanh. Kể từ khi quan hệ thương mại Mỹ - Trung xấu đi, nhân dân tệ đã trượt giá mạnh so với đô la Mỹ, trong năm 2018 có lúc vượt 10% so với đầu năm. So với tháng 5-2018 thì nhân dân tệ trượt giá so với đô la Mỹ khoảng 7% còn tiền đồng giảm 2%. Như vậy, tiền đồng đang tăng giá so với nhân dân tệ.

Các dự báo về tác động của chiến tranh thương mại đã tỏ ra chính xác: lũy kế năm tháng đầu năm 2019, nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 18,9% so cùng kỳ, trong khi xuất khẩu giảm 2,6%, khiến cho nhập siêu với Trung Quốc tăng lên 16,3 tỉ đô la từ mức 11,1 tỉ đô la cùng kỳ 2018, mức tăng gần 50%. Trung Quốc là một trong ba đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, quy mô thương mại tiểu ngạch có thể vượt xa quy mô chính ngạch với nhiều nền kinh tế khác, thì tỷ giá trở nên đặc biệt nhạy cảm với biến động của đồng nhân dân tệ. Hình 2 phản ánh rõ mối quan hệ này.

Thứ ba, kỳ vọng thị trường và giá vốn có tính dẫn dắt hành vi trong ngắn hạn. Thị trường có thể được ví như một cỗ máy khổng lồ liên tục hấp thụ, sàng lọc và phân tích thông tin để tìm kiếm điểm cân bằng giữa lợi nhuận và chi phí từ việc nắm giữ trạng thái ngoại tệ. Khi thị trường kỳ vọng tỷ giá tăng, việc nắm giữ trạng thái là có lợi. Các doanh nghiệp có nhu cầu thanh toán ngoại tệ sẽ giữ trạng thái qua các hợp đồng mua kỳ hạn ngoại tệ, các ngân hàng tăng trạng thái của mình để đáp ứng nhu cầu tương ứng của doanh nghiệp và cho hoạt động tự doanh. Diễn biến thương mại Mỹ - Trung căng thẳng hơn đã tác động tới kỳ vọng chung của thị trường.

Tuy nhiên, khi chi phí nắm giữ tăng do cung cầu trên thị trường tiền tệ thay đổi, hoặc khi thị trường điều chỉnh kỳ vọng về tỷ giá nhờ có thêm thông tin rõ ràng hơn, trạng thái ngoại tệ có xu hướng giảm đi và âm. Đây có thể là lý do chính khiến tỷ giá giảm nhẹ xuống 23.200 đồng/đô la Mỹ vào cuối năm 2018 sau hơn ba tháng quanh mức 23.300 đồng/đô la Mỹ, khi Mỹ - Trung nối lại đàm phán sau thời gian dài bế tắc, nhu cầu thanh toán cuối năm đã được thực hiện một phần từ trước qua các hợp đồng kỳ hạn, việc nắm giữ trạng thái dương không còn hiệu quả.

Thứ tư, điều hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có tính dẫn dắt kỳ vọng thị trường. Đối mặt với thách thức từ bên ngoài lên thị trường tiền tệ trong nước, nhà điều hành đã chọn sự phối hợp chính sách “lỏng mà chặt”. Tỷ giá được cho phép biến động tự do trong một hành lang xung quanh tỷ giá trung tâm. Tỷ giá trung tâm được công bố hàng ngày dựa vào tỷ giá cuối phiên liền trước và biến động của một rổ tiền tệ.

So với đầu năm 2019, tỷ giá trung tâm tăng 1,03% sau khi đã tăng 1,78% trong năm 2018. Biên độ dao động chính thức được xác định là ±3% tính từ tỷ giá trung tâm; tuy nhiên, hành lang tỷ giá thực chất được thu lại trong vùng giữa tỷ giá mua vào giao ngay (23.200, hiệu lực từ ngày 2-1) và tỷ giá bán ra (dưới tỷ giá trần 50 đồng, hiệu lực từ 23-7-2018; có lúc tỷ giá kỳ hạn 23.462 được sử dụng vào cuối tháng 11-2018). Trường hợp tỷ giá liên ngân hàng chạm tỷ giá bán ra, NHNN bán đô la Mỹ từ dự trữ ngoại hối để can thiệp. Trong năm 2018, NHNN đã bán ra khoảng 6 tỉ đô la Mỹ để hạ nhiệt thị trường.

Tỷ giá đang trở thành một chỉ báo rất nhạy với các biến động vĩ mô. Ảnh: Thành Hoa

Bên cạnh tỷ giá và dự trữ ngoại hối, các công cụ thị trường mở như tín phiếu NHNN và cầm cố giấy tờ có giá (reverse repo) góp phần hình thành hành lang giá vốn trên thị trường tiền tệ và “nắn” kỳ vọng của thị trường về tỷ giá tương lai theo ý đồ của nhà điều hành. Tuy nhiên, việc can thiệp làm yếu đồng nội tệ gần đây trở thành con dao hai lưỡi khi tiền đồng được đưa vào trong danh sách cần giám sát về hành vi thao túng tiền tệ của Mỹ.

Ba tiêu chí được đặt ra và thay đổi tùy tiện để gây sức ép lên các quốc gia có thặng dư thương mại lớn với Mỹ, bao gồm: (i) có thặng dư cán cân vãng lai quá 2% GDP, (ii) có thặng dư thương mại song phương với Mỹ vượt 20 tỉ đô la (Việt Nam đáp ứng hai tiêu chí này) và (iii) can thiệp một phía lên thị trường ngoại hối trong 6-12 tháng. Báo cáo điều tra về thao túng tiền tệ sẽ được cập nhật sáu tháng một lần. Điều này cho thấy không gian chính sách tiền tệ sẽ chịu thêm một ràng buộc nữa từ bên ngoài.

Có thể thấy các yếu tố trên tác động tới tỷ giá (i) một cách đồng thời, (ii) qua nhiều kênh truyền dẫn khác nhau, (iii) thời gian tác động có thể từ vài giây cho đến vài năm, khiến cho việc bóc tách ảnh hưởng trở nên khó khăn. Tiếp xúc với khối lượng thông tin lớn và liên tục, tỷ giá dễ biến động hơn, doanh nghiệp chịu rủi ro cao hơn, nhà điều hành chịu thách thức nhiều hơn, song ai cũng rút ra được tín hiệu về giá từ các thông tin để đưa ra quyết định hợp lý cho thời gian tới.

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Tỷ giá - chỉ báo nhạy cảm nhất

Thái Ngô
Thứ Năm,  20/6/2019, 10:38 

Tỷ giá - chỉ báo nhạy cảm nhất

Thái Ngô

(TBKTSG) - Tỷ giá đang trải qua hai tháng biến động mạnh nhất kể từ đầu năm 2019. Sau gần bốn tháng dao động trong biên độ hẹp ±10 đồng xung quanh mức 23.200 đồng/đô la Mỹ, sự ổn định bắt đầu rạn nứt khi thị trường tiến vào nửa sau của quí 2.

Những lý do khiến Fed có thể không hạ lãi suất

Tỷ giá đang trở thành một chỉ báo rất nhạy với các biến động vĩ mô.

Đây là giai đoạn cường độ thanh toán ra ngoài trở nên sôi động hơn và căng thẳng thương mại bùng phát trở lại. Tỷ giá có những bước nhảy lớn trong tháng 5, lần lượt phá các ngưỡng 23.300 đồng (+0,43% so với đầu năm) và 23.400 đồng (+0,86% so với đầu năm) chỉ trong hai tuần đầu tháng.

Cho đến giữa tháng 6, tỷ giá duy trì trong vùng 23.380-23.420 đồng/đô la Mỹ. So với cùng kỳ năm 2018, tỷ giá đã tăng mạnh hơn, cho thấy các điều kiện thị trường đã thay đổi đáng kể và duy trì sức ép lên tỷ giá.

Khi thị trường kỳ vọng tỷ giá tăng, việc nắm giữ trạng thái là có lợi.

Các doanh nghiệp có nhu cầu thanh toán ngoại tệ sẽ giữ trạng thái qua các hợp đồng mua kỳ hạn ngoại tệ.

Thứ nhất, cán cân thương mại có xu hướng thâm hụt. Lũy kế năm tháng đầu năm 2019, cán cân thương mại chuyển sang trạng thái âm 548 triệu đô la Mỹ, so với mức thặng dư 2,6 tỉ đô la cùng kỳ 2018. Chịu ảnh hưởng đồng thời bởi xu hướng giảm tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu và lây lan từ căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, xuất khẩu trở nên khó khăn (+6,7%, cùng kỳ 2018 là +17,3%) trong khi nhập khẩu vẫn tăng cao (+10,3%, cùng kỳ 2018 là +12,8%).

Thâm hụt thương mại có xu hướng làm suy yếu cán cân vãng lai, qua đó làm trượt tỷ giá. Dữ liệu quá khứ gợi ý sự suy yếu trên cán cân vãng lai vẫn duy trì áp lực làm yếu tiền đồng cho tới hai năm sau đó. Đó là giai đoạn tỷ giá được điều hành cứng nhắc. Với tỷ giá “tự do” hơn cùng với kỳ vọng của thị trường thì hiệu ứng này có thể đã dần phản ánh vào tỷ giá.

Thứ hai, đồng nhân dân tệ đang mất giá nhanh. Kể từ khi quan hệ thương mại Mỹ - Trung xấu đi, nhân dân tệ đã trượt giá mạnh so với đô la Mỹ, trong năm 2018 có lúc vượt 10% so với đầu năm. So với tháng 5-2018 thì nhân dân tệ trượt giá so với đô la Mỹ khoảng 7% còn tiền đồng giảm 2%. Như vậy, tiền đồng đang tăng giá so với nhân dân tệ.

Các dự báo về tác động của chiến tranh thương mại đã tỏ ra chính xác: lũy kế năm tháng đầu năm 2019, nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 18,9% so cùng kỳ, trong khi xuất khẩu giảm 2,6%, khiến cho nhập siêu với Trung Quốc tăng lên 16,3 tỉ đô la từ mức 11,1 tỉ đô la cùng kỳ 2018, mức tăng gần 50%. Trung Quốc là một trong ba đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, quy mô thương mại tiểu ngạch có thể vượt xa quy mô chính ngạch với nhiều nền kinh tế khác, thì tỷ giá trở nên đặc biệt nhạy cảm với biến động của đồng nhân dân tệ. Hình 2 phản ánh rõ mối quan hệ này.

Thứ ba, kỳ vọng thị trường và giá vốn có tính dẫn dắt hành vi trong ngắn hạn. Thị trường có thể được ví như một cỗ máy khổng lồ liên tục hấp thụ, sàng lọc và phân tích thông tin để tìm kiếm điểm cân bằng giữa lợi nhuận và chi phí từ việc nắm giữ trạng thái ngoại tệ. Khi thị trường kỳ vọng tỷ giá tăng, việc nắm giữ trạng thái là có lợi. Các doanh nghiệp có nhu cầu thanh toán ngoại tệ sẽ giữ trạng thái qua các hợp đồng mua kỳ hạn ngoại tệ, các ngân hàng tăng trạng thái của mình để đáp ứng nhu cầu tương ứng của doanh nghiệp và cho hoạt động tự doanh. Diễn biến thương mại Mỹ - Trung căng thẳng hơn đã tác động tới kỳ vọng chung của thị trường.

Tuy nhiên, khi chi phí nắm giữ tăng do cung cầu trên thị trường tiền tệ thay đổi, hoặc khi thị trường điều chỉnh kỳ vọng về tỷ giá nhờ có thêm thông tin rõ ràng hơn, trạng thái ngoại tệ có xu hướng giảm đi và âm. Đây có thể là lý do chính khiến tỷ giá giảm nhẹ xuống 23.200 đồng/đô la Mỹ vào cuối năm 2018 sau hơn ba tháng quanh mức 23.300 đồng/đô la Mỹ, khi Mỹ - Trung nối lại đàm phán sau thời gian dài bế tắc, nhu cầu thanh toán cuối năm đã được thực hiện một phần từ trước qua các hợp đồng kỳ hạn, việc nắm giữ trạng thái dương không còn hiệu quả.

Thứ tư, điều hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có tính dẫn dắt kỳ vọng thị trường. Đối mặt với thách thức từ bên ngoài lên thị trường tiền tệ trong nước, nhà điều hành đã chọn sự phối hợp chính sách “lỏng mà chặt”. Tỷ giá được cho phép biến động tự do trong một hành lang xung quanh tỷ giá trung tâm. Tỷ giá trung tâm được công bố hàng ngày dựa vào tỷ giá cuối phiên liền trước và biến động của một rổ tiền tệ.

So với đầu năm 2019, tỷ giá trung tâm tăng 1,03% sau khi đã tăng 1,78% trong năm 2018. Biên độ dao động chính thức được xác định là ±3% tính từ tỷ giá trung tâm; tuy nhiên, hành lang tỷ giá thực chất được thu lại trong vùng giữa tỷ giá mua vào giao ngay (23.200, hiệu lực từ ngày 2-1) và tỷ giá bán ra (dưới tỷ giá trần 50 đồng, hiệu lực từ 23-7-2018; có lúc tỷ giá kỳ hạn 23.462 được sử dụng vào cuối tháng 11-2018). Trường hợp tỷ giá liên ngân hàng chạm tỷ giá bán ra, NHNN bán đô la Mỹ từ dự trữ ngoại hối để can thiệp. Trong năm 2018, NHNN đã bán ra khoảng 6 tỉ đô la Mỹ để hạ nhiệt thị trường.

Tỷ giá đang trở thành một chỉ báo rất nhạy với các biến động vĩ mô. Ảnh: Thành Hoa

Bên cạnh tỷ giá và dự trữ ngoại hối, các công cụ thị trường mở như tín phiếu NHNN và cầm cố giấy tờ có giá (reverse repo) góp phần hình thành hành lang giá vốn trên thị trường tiền tệ và “nắn” kỳ vọng của thị trường về tỷ giá tương lai theo ý đồ của nhà điều hành. Tuy nhiên, việc can thiệp làm yếu đồng nội tệ gần đây trở thành con dao hai lưỡi khi tiền đồng được đưa vào trong danh sách cần giám sát về hành vi thao túng tiền tệ của Mỹ.

Ba tiêu chí được đặt ra và thay đổi tùy tiện để gây sức ép lên các quốc gia có thặng dư thương mại lớn với Mỹ, bao gồm: (i) có thặng dư cán cân vãng lai quá 2% GDP, (ii) có thặng dư thương mại song phương với Mỹ vượt 20 tỉ đô la (Việt Nam đáp ứng hai tiêu chí này) và (iii) can thiệp một phía lên thị trường ngoại hối trong 6-12 tháng. Báo cáo điều tra về thao túng tiền tệ sẽ được cập nhật sáu tháng một lần. Điều này cho thấy không gian chính sách tiền tệ sẽ chịu thêm một ràng buộc nữa từ bên ngoài.

Có thể thấy các yếu tố trên tác động tới tỷ giá (i) một cách đồng thời, (ii) qua nhiều kênh truyền dẫn khác nhau, (iii) thời gian tác động có thể từ vài giây cho đến vài năm, khiến cho việc bóc tách ảnh hưởng trở nên khó khăn. Tiếp xúc với khối lượng thông tin lớn và liên tục, tỷ giá dễ biến động hơn, doanh nghiệp chịu rủi ro cao hơn, nhà điều hành chịu thách thức nhiều hơn, song ai cũng rút ra được tín hiệu về giá từ các thông tin để đưa ra quyết định hợp lý cho thời gian tới.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.