Mobile Area

Vùng hạn cần giải pháp căn cơ thay vì giải cứu

Thứ Bảy,  21/3/2020, 11:06 
Trung Chánh

Vùng hạn cần giải pháp căn cơ thay vì giải cứu

Trung Chánh

(TBKTSG Online) - “Biệt đội” chở nước ngọt về cấp miễn phí cho dân vùng hạn mặn, các hoạt động nhằm chung tay giúp đỡ người dân ĐBSCL vượt qua khó khăn mùa hạn mặn… là những nghĩa cử đẹp, thể hiện tinh thần “tương thân, tương ái” của người dân Việt Nam. Song, vấn đề nước sinh hoạt cho người dân nơi đây trong bối cảnh hạn, mặn ngày càng gay gắt đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về giải pháp căn cơ, hữu hiệu.

"Đắng ngắt" với nước ngọt mùa hạn mặn, 150.000đ/khối

Cần có giải pháp căn cơ trong vấn đề nước ngọt cho sinh hoạt của người dân, chứ không thể trông chờ mãi vào "giải cứu". Ảnh: Trung Chánh

Thiếu nước ngọt trên diện rộng là một trong những tác động nặng nề của mùa khô hạn nơi vùng ĐBSCL. Khi đó, tinh thần “tương thân, tương ái” được thể hiện thông qua những chuyến xe chở nước ngọt miễn phí về vùng hạn mặn.

Gõ cụm từ “phát nước miễn phí cho dân vùng hạn mặn”, chỉ trong 0,6 giây Google cho 24,7 triệu kết quả. Điều đó cho thấy, nước ngọt trở thành vấn đề bức thiết của người dân các vùng hạn mặn, nhất là ở khu vực ĐBSCL.

Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra, đó là cần một giải pháp căn cơ trong câu chuyện nước sinh hoạt của người dân, chứ không thể trông chờ mãi vào những “biệt đội” cấp nước miễn phí vào mỗi dịp “đến hạn mặn lại khát”, dù tinh thần hào hiệp ấy rất đáng trân quý.

Trao đổi với TBKTSG Online, chuyên gia nghiên cứu độc lập Nguyễn Hữu Thiện cho biết, tình hình năm nay bộc lộ một điểm yếu rất rõ, đó là “chúng ta chưa có chú trọng đầu tư cho vấn đề nước sinh hoạt ở những vùng bị ảnh hưởng mặn. Nhu cầu này cần được ưu tiên giải quyết”.

Theo ông, lâu nay vấn đề nước sinh hoạt bị nhập chung vào nước cho sản xuất. Các công trình thủy lợi thường được xem là đa mục tiêu, tức đảm nhiệm cả mục tiêu cho sản xuất và mục tiêu cho sinh hoạt, nhưng thực tế nước cho sinh hoạt và nước cho sản xuất rất khác nhau.

“Các công trình ngăn mặn để phục vụ sản xuất như trước nay không phục vụ cho nước sinh hoạt được vì các công trình làm nước tù đọng, tích tụ ô nhiễm trầm trọng sông ngòi cả vùng, khó sử dụng cho sinh hoạt được, mà vẫn phải sử dụng nước ngầm gây sụt lún đất”, ông Thiện dẫn chứng và cho biết nếu tách nhu cầu nước sinh hoạt riêng khỏi nước cho sản xuất thì nhu cầu sẽ nhỏ hơn rất nhiều và dễ đáp ứng hơn.

Ông Thiện cho biết, nhu cầu nước sinh hoạt cho những vùng chịu ảnh hưởng mặn có thể đáp ứng bằng hai cách chính, đó là dựa vào kinh nghiệm, cách làm truyền thống và bằng công nghệ hiện đại.

Cụ thể, ở những vùng mới bị ảnh hưởng mặn, người dân ít kinh nghiệm, nhưng đối với vùng sát biển, vùng “đến hẹn lại mặn” thì người dân đã có kinh nghiệm trữ nước mưa và nước mặt bằng các phương tiện tại gia đình như lu, khạp, bồn chứa, ao gia đình. Điều này cần được hỗ trợ, khuyến khích.

Tuy nhiên, do chất lượng không khí ngày nay đã bị ảnh hưởng từ các nguồn khói bụi và mưa axít, các cơ quan chức năng nên khảo sát chất lượng nước mưa để giúp người dân đảm bảo an toàn.

Ngoài các biện pháp theo kinh nghiệm truyền thống, theo ông Thiện, có thể nghĩ tới các công nghệ mới ngày nay như bốc hơi nước biển, màng lọc na-nô, thiết bị lọc nước biển, và công nghệ RO (thẩm thấu ngược), hoặc dùng các túi chứa nước.

“Đối với các công trình áp dụng công nghệ cấp nước ở cấp cộng đồng, có thể nghĩ đến việc kết hợp sử dụng năng lượng mặt trời đế cấp điện cho các phương tiện này”, ông cho biết.

Ngoài ra, cũng cần nghĩ đến việc bảo tồn, duy trì nguồn nước trong các giồng cát và bổ cập nước ngầm tầng nông cho các giồng cát (có nơi gọi là đụn cát, nỗng cát). Ở ven biển, vùng cửa sông Cửu Long như ở Bến Tre, Trà Vinh có rất nhiều giồng cát có chức năng lưu trữ nước ngọt tự nhiên ở tầng nông, có độ sâu chỉ khoảng 10 mét hoặc có khi lộ thiên.

“Các giồng cát chứa nước ngọt này chính là điều kiện để ngày xưa ông bà chúng ta đến định cư ở vùng sát biển trong quá trình khai phá vùng đất ven biển Cửu Long”, ông cho biết và nói rằng khả năng trữ nước của các giồng cát này phụ thuộc vào độ lớn và thảm thực vật che phủ bên trên nó.

Theo ông, ngày nay, nhiều giồng cát đã bị khai thác, xâm lấn, san phẳng hay mất đi thảm thực vật. Có một số nơi, trên đỉnh giồng cát lại là nghĩa địa và người dân lấy nước từ chân giồng cát sử dụng rất nguy hiểm.

Việc bảo tồn các giồng cát với chức năng trữ nước tự nhiên này sẽ rẻ hơn rất nhiều so với các biện pháp khác và nước từ giồng cát thường có chất lượng cao. Trong bối cảnh này, giá trị của giồng cát rất lớn, do đó, cần ngưng ngay việc khai thác, san phẳng giồng cát.

“Đối với những giồng cao, lớn có tầm quan trọng đặc biệt cần khoanh lại để lập những khu bảo tồn giồng cát phân tán, phục hồi thảm thực vật hoặc chuyển đổi sinh kế của người dân từ canh tác hoa màu sang trồng cỏ để nuôi bò tạo thu nhập và giữ được nước ngọt”, ông cho biết và đề xuất có thể áp dụng các biện pháp công nghệ để bổ cập nước ngầm lại cho các giồng cát.

Nguồn nước dùng để bổ cập cần phải sạch, vì giồng cát tuy có khả năng tự lọc nước nhưng nếu liên tục bổ cập bằng nguồn nước ô nhiễm thì lâu dài chính giồng cát sẽ bị ô nhiễm.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Trả giá đắt cho sự mất cảnh giác
Cần có một tờ báo ngày về kinh tế
Thư ký công ty không phải người để sai vặt
Biên chế và hộ khẩu, câu chuyện ở xứ Tây và quê ta
Đổi biển số vàng: đẩy khó cho chủ xe
Vùng hạn cần giải pháp căn cơ thay vì giải cứu
Trung Chánh
Thứ Bảy,  21/3/2020, 11:06 

Vùng hạn cần giải pháp căn cơ thay vì giải cứu

Trung Chánh

(TBKTSG Online) - “Biệt đội” chở nước ngọt về cấp miễn phí cho dân vùng hạn mặn, các hoạt động nhằm chung tay giúp đỡ người dân ĐBSCL vượt qua khó khăn mùa hạn mặn… là những nghĩa cử đẹp, thể hiện tinh thần “tương thân, tương ái” của người dân Việt Nam. Song, vấn đề nước sinh hoạt cho người dân nơi đây trong bối cảnh hạn, mặn ngày càng gay gắt đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về giải pháp căn cơ, hữu hiệu.

"Đắng ngắt" với nước ngọt mùa hạn mặn, 150.000đ/khối

Cần có giải pháp căn cơ trong vấn đề nước ngọt cho sinh hoạt của người dân, chứ không thể trông chờ mãi vào "giải cứu". Ảnh: Trung Chánh

Thiếu nước ngọt trên diện rộng là một trong những tác động nặng nề của mùa khô hạn nơi vùng ĐBSCL. Khi đó, tinh thần “tương thân, tương ái” được thể hiện thông qua những chuyến xe chở nước ngọt miễn phí về vùng hạn mặn.

Gõ cụm từ “phát nước miễn phí cho dân vùng hạn mặn”, chỉ trong 0,6 giây Google cho 24,7 triệu kết quả. Điều đó cho thấy, nước ngọt trở thành vấn đề bức thiết của người dân các vùng hạn mặn, nhất là ở khu vực ĐBSCL.

Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra, đó là cần một giải pháp căn cơ trong câu chuyện nước sinh hoạt của người dân, chứ không thể trông chờ mãi vào những “biệt đội” cấp nước miễn phí vào mỗi dịp “đến hạn mặn lại khát”, dù tinh thần hào hiệp ấy rất đáng trân quý.

Trao đổi với TBKTSG Online, chuyên gia nghiên cứu độc lập Nguyễn Hữu Thiện cho biết, tình hình năm nay bộc lộ một điểm yếu rất rõ, đó là “chúng ta chưa có chú trọng đầu tư cho vấn đề nước sinh hoạt ở những vùng bị ảnh hưởng mặn. Nhu cầu này cần được ưu tiên giải quyết”.

Theo ông, lâu nay vấn đề nước sinh hoạt bị nhập chung vào nước cho sản xuất. Các công trình thủy lợi thường được xem là đa mục tiêu, tức đảm nhiệm cả mục tiêu cho sản xuất và mục tiêu cho sinh hoạt, nhưng thực tế nước cho sinh hoạt và nước cho sản xuất rất khác nhau.

“Các công trình ngăn mặn để phục vụ sản xuất như trước nay không phục vụ cho nước sinh hoạt được vì các công trình làm nước tù đọng, tích tụ ô nhiễm trầm trọng sông ngòi cả vùng, khó sử dụng cho sinh hoạt được, mà vẫn phải sử dụng nước ngầm gây sụt lún đất”, ông Thiện dẫn chứng và cho biết nếu tách nhu cầu nước sinh hoạt riêng khỏi nước cho sản xuất thì nhu cầu sẽ nhỏ hơn rất nhiều và dễ đáp ứng hơn.

Ông Thiện cho biết, nhu cầu nước sinh hoạt cho những vùng chịu ảnh hưởng mặn có thể đáp ứng bằng hai cách chính, đó là dựa vào kinh nghiệm, cách làm truyền thống và bằng công nghệ hiện đại.

Cụ thể, ở những vùng mới bị ảnh hưởng mặn, người dân ít kinh nghiệm, nhưng đối với vùng sát biển, vùng “đến hẹn lại mặn” thì người dân đã có kinh nghiệm trữ nước mưa và nước mặt bằng các phương tiện tại gia đình như lu, khạp, bồn chứa, ao gia đình. Điều này cần được hỗ trợ, khuyến khích.

Tuy nhiên, do chất lượng không khí ngày nay đã bị ảnh hưởng từ các nguồn khói bụi và mưa axít, các cơ quan chức năng nên khảo sát chất lượng nước mưa để giúp người dân đảm bảo an toàn.

Ngoài các biện pháp theo kinh nghiệm truyền thống, theo ông Thiện, có thể nghĩ tới các công nghệ mới ngày nay như bốc hơi nước biển, màng lọc na-nô, thiết bị lọc nước biển, và công nghệ RO (thẩm thấu ngược), hoặc dùng các túi chứa nước.

“Đối với các công trình áp dụng công nghệ cấp nước ở cấp cộng đồng, có thể nghĩ đến việc kết hợp sử dụng năng lượng mặt trời đế cấp điện cho các phương tiện này”, ông cho biết.

Ngoài ra, cũng cần nghĩ đến việc bảo tồn, duy trì nguồn nước trong các giồng cát và bổ cập nước ngầm tầng nông cho các giồng cát (có nơi gọi là đụn cát, nỗng cát). Ở ven biển, vùng cửa sông Cửu Long như ở Bến Tre, Trà Vinh có rất nhiều giồng cát có chức năng lưu trữ nước ngọt tự nhiên ở tầng nông, có độ sâu chỉ khoảng 10 mét hoặc có khi lộ thiên.

“Các giồng cát chứa nước ngọt này chính là điều kiện để ngày xưa ông bà chúng ta đến định cư ở vùng sát biển trong quá trình khai phá vùng đất ven biển Cửu Long”, ông cho biết và nói rằng khả năng trữ nước của các giồng cát này phụ thuộc vào độ lớn và thảm thực vật che phủ bên trên nó.

Theo ông, ngày nay, nhiều giồng cát đã bị khai thác, xâm lấn, san phẳng hay mất đi thảm thực vật. Có một số nơi, trên đỉnh giồng cát lại là nghĩa địa và người dân lấy nước từ chân giồng cát sử dụng rất nguy hiểm.

Việc bảo tồn các giồng cát với chức năng trữ nước tự nhiên này sẽ rẻ hơn rất nhiều so với các biện pháp khác và nước từ giồng cát thường có chất lượng cao. Trong bối cảnh này, giá trị của giồng cát rất lớn, do đó, cần ngưng ngay việc khai thác, san phẳng giồng cát.

“Đối với những giồng cao, lớn có tầm quan trọng đặc biệt cần khoanh lại để lập những khu bảo tồn giồng cát phân tán, phục hồi thảm thực vật hoặc chuyển đổi sinh kế của người dân từ canh tác hoa màu sang trồng cỏ để nuôi bò tạo thu nhập và giữ được nước ngọt”, ông cho biết và đề xuất có thể áp dụng các biện pháp công nghệ để bổ cập nước ngầm lại cho các giồng cát.

Nguồn nước dùng để bổ cập cần phải sạch, vì giồng cát tuy có khả năng tự lọc nước nhưng nếu liên tục bổ cập bằng nguồn nước ô nhiễm thì lâu dài chính giồng cát sẽ bị ô nhiễm.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
TIN BÀI KHÁC  
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập phụ trách online: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung, Minh Châu.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.