Mobile Area

Kinh tế Việt Nam năm nay sẽ ra sao?

Thứ Sáu,  24/4/2020, 11:30 
TS. Phạm Thế Anh(*)

Kinh tế Việt Nam năm nay sẽ ra sao?

TS. Phạm Thế Anh(*)

(TBKTSG) - Trong bản báo cáo triển vọng kinh tế thế giới gần đây vào giữa tháng 4-2020, Quỹ Tiền tệ quốc tế dự báo rằng, kinh tế toàn cầu năm nay sẽ suy giảm khoảng 3%. Trong đó, sự suy giảm mạnh và rộng nhất diễn ra ở các nền kinh tế phát triển với mức giảm trung bình lên tới 6,1%.

Trong khi đó, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển có sự suy giảm thấp hơn, khoảng 1%. Chỉ có một số rất ít các nước được dự báo có mức tăng trưởng dương, ở mức nhẹ, trong năm nay.

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam được dự báo đạt khoảng 4,2% trong cả năm 2020. Ảnh: Lê Anh

Những con số này đã phản ánh được phần nào hậu quả kinh tế mà đại dịch Covid-19 đem đến trên toàn thế giới.

Kinh tế Việt Nam không đứng ngoài vòng xoáy tiêu cực. Tăng trưởng kinh tế (GDP) quí 1-2020 so với cùng kỳ năm trước chỉ đạt 3,82%, thấp nhất trong vòng 11 năm qua. Xét trong bối cảnh suy thoái ở hầu hết các nước trên thế giới thì thành tựu kinh tế đạt được của Việt Nam trong quí 1 là khá tích cực.

Tuy nhiên, những con số tăng trưởng này chưa phản ánh hết những khó khăn mà nền kinh tế đang phải trải qua khi nhiều đơn hàng xuất khẩu mới chỉ bắt đầu bị ảnh hưởng từ giữa tháng 3, hay các biện pháp giãn cách xã hội ở Việt Nam mới chỉ được thực hiện một cách chặt chẽ từ đầu quí 2.

Đặc biệt, những con số tăng trưởng này cũng không phản ánh được những khó khăn thực sự của khu vực phi chính thức vốn hầu như không được phản ánh trong GDP.

Nông nghiệp và khai khoáng lần lượt là những ngành có mức tăng trưởng âm trong trong khu vực 1 và 2 do biến đổi khí hậu, dịch bệnh trong chăn nuôi gia súc, và thị trường sản phẩm khai khoáng không thuận lợi trên thế giới. Ngành chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng khá (+7,12%) nhưng đang báo hiệu một triển vọng khá tiêu cực trong quí 2 khi chỉ số PMI phản ánh số đơn đặt hàng mới của ngành đã sụt giảm xuống chỉ còn 41,9 điểm trong tháng 3, dưới xa ngưỡng trung tính (50 điểm).

Khu vực dịch vụ chịu tác động nặng nề nhất của việc phong tỏa biên giới và giãn cách xã hội. Một số ngành có mức tăng trưởng âm ngay trong quí 1 bao gồm dịch vụ lưu trú và ăn uống (-11,0%), hành chính và dịch vụ hỗ trợ (-3,5%), vận tải, kho bãi (-0,9%).  Những ngành này được dự kiến tiếp tục giảm mạnh trong quí 2 khi các biện pháp phòng chống bệnh dịch ngày càng mạnh mẽ hơn.

Nếu nhìn từ phía cầu, tiêu thụ sản phẩm từ các ngành ở cấp độ sâu hơn cũng thấy có xu thế sụt giảm tương tự. Với sự phụ thuộc lớn vào nhu cầu từ các thị trường bên ngoài, nhiều ngành mặc dù vẫn đạt mức tăng trưởng dương nhưng đã bắt đầu chịu tác động mạnh ngay trong quí 1, đặc biệt là kể từ tháng 3 khi giá trị xuất khẩu một loạt ngành xuất khẩu chủ lực sụt giảm mạnh so với cùng kỳ.

Tổng giá trị xuất khẩu trong quí 1-2020 của Việt Nam tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước và thặng dư thương mại đạt 3,84 tỉ đô la Mỹ. Tuy nhiên, những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sẽ chịu tác động tiêu cực lớn hơn trong thời gian tới khi Mỹ mới chỉ bắt đầu áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội từ cuối tháng 3, trong khi bệnh dịch ngày càng lan rộng ra nhiều nước trong khu vực Liên minh châu Âu (EU).

Nhu cầu hàng xuất khẩu của Việt Nam từ các thị trường lớn khác như Trung Quốc hay Nhật Bản nhiều khả năng sẽ không còn tích cực như trong quí 1 khi Trung Quốc đã khôi phục sản xuất, hay Nhật Bản đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn quốc vì dịch Covid-19 kể từ đầu tháng 4.

Triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2020 và xa hơn phụ thuộc vào khả năng khống chế bệnh dịch không chỉ trong nước mà còn ở cả trên thế giới.

Kịch bản lạc quan nhất được xây dựng dựa trên giả định bệnh dịch trong nước được khống chế hoàn toàn vào giữa tháng 5 và hoạt động kinh tế dần trở lại bình thường. Trong khi đó, thế giới cũng bắt đầu nới dần các biện pháp phong tỏa. Tuy nhiên, các hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch, lưu trú, vận tải hành khách vẫn còn dè dặt và chỉ dần hồi phục.

Tác động xấu nhất của dịch Covid-19 sẽ rơi vào quí 2 với mức suy giảm từ  2-3% trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp. Ngành chế biến, chế tạo có thể lần đầu tiên chứng kiến mức tăng trưởng âm do đứt gãy nguồn cung và nhiều đơn hàng xuất khẩu bị cắt giảm, hủy bỏ hoặc trì hoãn.

Trong lĩnh vực dịch vụ, các ngành vận tải và kho bãi, dịch vụ lưu trú và ăn uống, nghệ thuật và giải trí giảm mạnh, từ 20-50%, trong khi đó y tế, truyền thông hay tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có thể duy trì mức tăng trưởng khá do những hoạt động liên quan đến phòng chống và khắc phục hậu quả của bệnh dịch.

Với kịch bản lạc quan này, tăng trưởng kinh tế Việt Nam được dự báo đạt khoảng 4,2% trong cả năm 2020.

Với các kịch bản trung tính hoặc bi quan, bệnh dịch trong nước được giả định kéo dài hơn sang nửa sau quí 3 thậm chí là quí 4-2020. Thế giới có thể phải tiếp tục các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội do sự tái phát của bệnh dịch ở nhiều trung tâm kinh tế tài chính quan trọng.

Mức độ tác động của dịch Covid-19 lên các ngành nông, lâm, ngư nghiệp; sản xuất chế biến, chế tạo và các ngành trong khu vực dịch vụ sẽ nghiêm trọng hơn. Mức tăng trưởng trong năm 2020 của kinh tế Việt Nam có thể chỉ là 1,5% trong kịch bản trung tính, hoặc thậm chí là âm 1% trong kịch bản bi quan.

Trong bất kỳ kịch bản nào, trong thời kỳ hậu Covid-19 ở Việt Nam, sự phục hồi hoàn toàn của nhiều ngành như hàng không, du lịch hay thời trang xuất khẩu sẽ gặp nhiều khó khăn và kéo dài một khi thế giới chưa khống chế hoàn toàn được bệnh dịch. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động thích ứng, dịch chuyển sản xuất trong thời kỳ khó khăn. Sản xuất khẩu trang và đồ bảo hộ y tế là một ví dụ điển hình trong ngành dệt may.

Trong ngắn hạn, thúc đẩy đầu tư công trong nửa sau của năm có thể bù đắp được những khó khăn tạm thời của nhiều ngành sản xuất. Tuy nhiên, chúng ta không thể thúc đẩy chi tiêu công mãi do nguồn lực hạn hẹp. Do vậy, triển vọng kinh tế Việt Nam những năm sau sẽ phụ thuộc nhiều vào việc phát triển thành công vaccin hoặc thuốc đặc trị trên thế giới.

Một điểm đáng chú ý nữa là các con số tăng trưởng GDP không phản ánh được hết những khó khăn thực sự của nền kinh tế do chúng không phản ánh được đầy đủ hoạt động của khu vực phi chính thức vốn bị ảnh hưởng nặng nề hơn hẳn so với những đợt suy thoái trước đây. Việc thực hiện phong tỏa và giãn cách xã hội khiến khu vực này, ước tính tương đương khoảng 30% GDP, gần như bị đóng cửa hoàn toàn.

Với thâm hụt tài khóa kéo dài dai dẳng trong nhiều thập kỷ qua, Việt Nam là nước có nguồn lực tài khóa hạn hẹp. Ngay cả trong các năm nền kinh tế có tăng trưởng cao, thu ngân sách vượt dự toán, thì Nhà nước vẫn chi nhiều hơn thu tối thiểu khoảng 3,5% GDP. Do vậy, Việt Nam thiếu vắng các đệm tài khóa để ứng phó với những cú sốc đòi hỏi tiêu tốn nhiều nguồn lực như dịch Covid-19. Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ cũng bị ràng buộc bởi các mục tiêu về lạm phát và tỷ giá.

Với các nguồn lực hạn hẹp như vậy, các chính sách cần phải đúng trọng tâm, tránh dàn trải gây tốn kém nguồn lực. Việt Nam đã phản ứng sớm, quyết liệt và đang làm tốt trong việc phòng chống sự lây lan của bệnh dịch. Tuy nhiên, thời gian cách ly xã hội càng lâu, chi phí kinh tế càng tốn kém trong khi dịch bệnh có nguy cơ kéo dài. Do vậy, các kịch bản ứng phó về chính sách khác nhau đối với các cấp độ về dịch bệnh nên được xây dựng.

Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải xây dựng được các phương án phòng chống dịch bệnh đi kèm sản xuất, phải tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp còn có khả năng hoạt động, tránh ngăn sông cấm chợ cực đoan như ở một số địa phương. Tầm quan trọng của phát triển kinh tế nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực nên được đặt ngang hàng với công cuộc phòng chống dịch bệnh.

Các chính sách an sinh xã hội như chi trả bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ người bị tạm thời ngưng việc, trợ cấp cho người nghèo, người bị mất kế sinh nhai do tác động của giãn cách xã hội nên được ưu tiên hàng đầu và cần phải được triển khai nhanh chóng trước khi người dân rơi vào những bi kịch không đáng có. Đặc biệt, lao động trong khu vực phi chính thức cần được quan tâm hơn khi chiếm một tỷ trọng lớn, dễ tổn thương, chịu tác nặng nề nhất, và có thể nằm ngoài phạm vi được thụ hưởng của các chính sách hiện tại.

Trong khi đó, đối với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cũng cần có sự phân loại và tập trung hơn. Việc khoanh/ngưng hoặc miễn giảm các chi phí tài chính như lãi vay và tiền thuê đất nên được áp dụng đối với nhóm doanh nghiệp phải dừng hoạt động; các chính sách hoãn đóng bảo hiểm xã hội, giảm tiền thuê đất, giảm lãi vay và khoanh nợ, giãn thu thuế VAT nên được thực hiện với các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực nhưng còn hoạt động, nhưng phải có các tiêu chí rõ ràng về các mức độ hỗ trợ để tránh cào bằng, dàn trải.

Còn lại, đối với nhóm các doanh nghiệp ít hoặc không bị ảnh hưởng, hoặc có hướng chuyển đổi hiệu quả, thì nên khuyến khích tín dụng, hết sức tạo điều kiện về môi trường thể chế và chính sách ngành bởi họ là gánh đỡ cho nền kinh tế trong thời kỳ khó khăn này.

Ngay cả khi dịch bệnh trong nước được kiểm soát hoàn toàn thì nhiều ngành dịch vụ và sản xuất hướng ra xuất khẩu có thể sẽ còn gặp khó khăn lâu dài một khi bệnh dịch còn chưa hoàn toàn biến mất ở các khu vực kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới. Do vậy, thúc đẩy đầu tư công trong nửa cuối năm là việc nên làm để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, thúc đẩy đầu tư công không phải là việc mở rộng đầu tư công một cách dàn trải, thiếu kiểm soát. Việt Nam chỉ nên đẩy nhanh những dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia, đã được phê duyệt và có sẵn vốn thực hiện. Việc chia nhỏ ra làm nhiều gói thầu và thực hiện rải rác ở nhiều địa phương để nhiều doanh nghiệp và nhiều địa phương có thể tiếp cận, tạo sự lan tỏa tốt hơn cũng có thể được cân nhắc.

Đồng thời, cắt giảm ngân sách thường xuyên (tiêu dùng) tối thiểu 10% nên được thực hiện nhằm dành nguồn lực cho việc khắc phục những hậu quả do dịch bệnh gây ra.

Cuối cùng, song hành với những chính sách mang tính ngắn hạn hiện tại trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch Covid-19, Việt Nam nên tiếp tục và cải thiện những chính sách dài hơi hơn để cải thiện nền tảng vĩ mô và giảm thiểu rủi ro trong tương lai. Trong mọi tình huống, lạm phát, lãi suất và tỷ giá cần được duy trì ổn định để chuẩn bị cho giai phục hồi sau dịch bệnh.

Trong khó khăn, nhiều bất cập trong việc điều hành chính sách kinh tế cũng đã bộc lộ nên các nỗ lực cải thiện môi trường thể chế kinh doanh cần tiếp tục được duy trì. Đặc biệt, dù có chậm trễ, Việt Nam nên từng bước xây dựng đệm tài khóa để phòng chống những cú sốc kiểu Covid-19.

(*) Kinh tế trưởng VEPR

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Đừng phá rừng, ngăn sông thì đâu đến nỗi
Nhà nước có thể tạo thêm xúc tác cho sự hào phóng
Từ nhu cầu làm từ thiện của người dân: Cần xây dựng luật về tổ chức và hoạt động phi lợi nhuận
Khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương
Doanh nghiệp Nhật Bản đổi “khẩu vị” nhân sự tại thị trường Việt Nam
Kinh tế Việt Nam năm nay sẽ ra sao?
TS. Phạm Thế Anh(*)
Thứ Sáu,  24/4/2020, 11:30 

Kinh tế Việt Nam năm nay sẽ ra sao?

TS. Phạm Thế Anh(*)

(TBKTSG) - Trong bản báo cáo triển vọng kinh tế thế giới gần đây vào giữa tháng 4-2020, Quỹ Tiền tệ quốc tế dự báo rằng, kinh tế toàn cầu năm nay sẽ suy giảm khoảng 3%. Trong đó, sự suy giảm mạnh và rộng nhất diễn ra ở các nền kinh tế phát triển với mức giảm trung bình lên tới 6,1%.

Trong khi đó, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển có sự suy giảm thấp hơn, khoảng 1%. Chỉ có một số rất ít các nước được dự báo có mức tăng trưởng dương, ở mức nhẹ, trong năm nay.

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam được dự báo đạt khoảng 4,2% trong cả năm 2020. Ảnh: Lê Anh

Những con số này đã phản ánh được phần nào hậu quả kinh tế mà đại dịch Covid-19 đem đến trên toàn thế giới.

Kinh tế Việt Nam không đứng ngoài vòng xoáy tiêu cực. Tăng trưởng kinh tế (GDP) quí 1-2020 so với cùng kỳ năm trước chỉ đạt 3,82%, thấp nhất trong vòng 11 năm qua. Xét trong bối cảnh suy thoái ở hầu hết các nước trên thế giới thì thành tựu kinh tế đạt được của Việt Nam trong quí 1 là khá tích cực.

Tuy nhiên, những con số tăng trưởng này chưa phản ánh hết những khó khăn mà nền kinh tế đang phải trải qua khi nhiều đơn hàng xuất khẩu mới chỉ bắt đầu bị ảnh hưởng từ giữa tháng 3, hay các biện pháp giãn cách xã hội ở Việt Nam mới chỉ được thực hiện một cách chặt chẽ từ đầu quí 2.

Đặc biệt, những con số tăng trưởng này cũng không phản ánh được những khó khăn thực sự của khu vực phi chính thức vốn hầu như không được phản ánh trong GDP.

Nông nghiệp và khai khoáng lần lượt là những ngành có mức tăng trưởng âm trong trong khu vực 1 và 2 do biến đổi khí hậu, dịch bệnh trong chăn nuôi gia súc, và thị trường sản phẩm khai khoáng không thuận lợi trên thế giới. Ngành chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng khá (+7,12%) nhưng đang báo hiệu một triển vọng khá tiêu cực trong quí 2 khi chỉ số PMI phản ánh số đơn đặt hàng mới của ngành đã sụt giảm xuống chỉ còn 41,9 điểm trong tháng 3, dưới xa ngưỡng trung tính (50 điểm).

Khu vực dịch vụ chịu tác động nặng nề nhất của việc phong tỏa biên giới và giãn cách xã hội. Một số ngành có mức tăng trưởng âm ngay trong quí 1 bao gồm dịch vụ lưu trú và ăn uống (-11,0%), hành chính và dịch vụ hỗ trợ (-3,5%), vận tải, kho bãi (-0,9%).  Những ngành này được dự kiến tiếp tục giảm mạnh trong quí 2 khi các biện pháp phòng chống bệnh dịch ngày càng mạnh mẽ hơn.

Nếu nhìn từ phía cầu, tiêu thụ sản phẩm từ các ngành ở cấp độ sâu hơn cũng thấy có xu thế sụt giảm tương tự. Với sự phụ thuộc lớn vào nhu cầu từ các thị trường bên ngoài, nhiều ngành mặc dù vẫn đạt mức tăng trưởng dương nhưng đã bắt đầu chịu tác động mạnh ngay trong quí 1, đặc biệt là kể từ tháng 3 khi giá trị xuất khẩu một loạt ngành xuất khẩu chủ lực sụt giảm mạnh so với cùng kỳ.

Tổng giá trị xuất khẩu trong quí 1-2020 của Việt Nam tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước và thặng dư thương mại đạt 3,84 tỉ đô la Mỹ. Tuy nhiên, những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sẽ chịu tác động tiêu cực lớn hơn trong thời gian tới khi Mỹ mới chỉ bắt đầu áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội từ cuối tháng 3, trong khi bệnh dịch ngày càng lan rộng ra nhiều nước trong khu vực Liên minh châu Âu (EU).

Nhu cầu hàng xuất khẩu của Việt Nam từ các thị trường lớn khác như Trung Quốc hay Nhật Bản nhiều khả năng sẽ không còn tích cực như trong quí 1 khi Trung Quốc đã khôi phục sản xuất, hay Nhật Bản đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn quốc vì dịch Covid-19 kể từ đầu tháng 4.

Triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2020 và xa hơn phụ thuộc vào khả năng khống chế bệnh dịch không chỉ trong nước mà còn ở cả trên thế giới.

Kịch bản lạc quan nhất được xây dựng dựa trên giả định bệnh dịch trong nước được khống chế hoàn toàn vào giữa tháng 5 và hoạt động kinh tế dần trở lại bình thường. Trong khi đó, thế giới cũng bắt đầu nới dần các biện pháp phong tỏa. Tuy nhiên, các hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch, lưu trú, vận tải hành khách vẫn còn dè dặt và chỉ dần hồi phục.

Tác động xấu nhất của dịch Covid-19 sẽ rơi vào quí 2 với mức suy giảm từ  2-3% trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp. Ngành chế biến, chế tạo có thể lần đầu tiên chứng kiến mức tăng trưởng âm do đứt gãy nguồn cung và nhiều đơn hàng xuất khẩu bị cắt giảm, hủy bỏ hoặc trì hoãn.

Trong lĩnh vực dịch vụ, các ngành vận tải và kho bãi, dịch vụ lưu trú và ăn uống, nghệ thuật và giải trí giảm mạnh, từ 20-50%, trong khi đó y tế, truyền thông hay tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có thể duy trì mức tăng trưởng khá do những hoạt động liên quan đến phòng chống và khắc phục hậu quả của bệnh dịch.

Với kịch bản lạc quan này, tăng trưởng kinh tế Việt Nam được dự báo đạt khoảng 4,2% trong cả năm 2020.

Với các kịch bản trung tính hoặc bi quan, bệnh dịch trong nước được giả định kéo dài hơn sang nửa sau quí 3 thậm chí là quí 4-2020. Thế giới có thể phải tiếp tục các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội do sự tái phát của bệnh dịch ở nhiều trung tâm kinh tế tài chính quan trọng.

Mức độ tác động của dịch Covid-19 lên các ngành nông, lâm, ngư nghiệp; sản xuất chế biến, chế tạo và các ngành trong khu vực dịch vụ sẽ nghiêm trọng hơn. Mức tăng trưởng trong năm 2020 của kinh tế Việt Nam có thể chỉ là 1,5% trong kịch bản trung tính, hoặc thậm chí là âm 1% trong kịch bản bi quan.

Trong bất kỳ kịch bản nào, trong thời kỳ hậu Covid-19 ở Việt Nam, sự phục hồi hoàn toàn của nhiều ngành như hàng không, du lịch hay thời trang xuất khẩu sẽ gặp nhiều khó khăn và kéo dài một khi thế giới chưa khống chế hoàn toàn được bệnh dịch. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động thích ứng, dịch chuyển sản xuất trong thời kỳ khó khăn. Sản xuất khẩu trang và đồ bảo hộ y tế là một ví dụ điển hình trong ngành dệt may.

Trong ngắn hạn, thúc đẩy đầu tư công trong nửa sau của năm có thể bù đắp được những khó khăn tạm thời của nhiều ngành sản xuất. Tuy nhiên, chúng ta không thể thúc đẩy chi tiêu công mãi do nguồn lực hạn hẹp. Do vậy, triển vọng kinh tế Việt Nam những năm sau sẽ phụ thuộc nhiều vào việc phát triển thành công vaccin hoặc thuốc đặc trị trên thế giới.

Một điểm đáng chú ý nữa là các con số tăng trưởng GDP không phản ánh được hết những khó khăn thực sự của nền kinh tế do chúng không phản ánh được đầy đủ hoạt động của khu vực phi chính thức vốn bị ảnh hưởng nặng nề hơn hẳn so với những đợt suy thoái trước đây. Việc thực hiện phong tỏa và giãn cách xã hội khiến khu vực này, ước tính tương đương khoảng 30% GDP, gần như bị đóng cửa hoàn toàn.

Với thâm hụt tài khóa kéo dài dai dẳng trong nhiều thập kỷ qua, Việt Nam là nước có nguồn lực tài khóa hạn hẹp. Ngay cả trong các năm nền kinh tế có tăng trưởng cao, thu ngân sách vượt dự toán, thì Nhà nước vẫn chi nhiều hơn thu tối thiểu khoảng 3,5% GDP. Do vậy, Việt Nam thiếu vắng các đệm tài khóa để ứng phó với những cú sốc đòi hỏi tiêu tốn nhiều nguồn lực như dịch Covid-19. Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ cũng bị ràng buộc bởi các mục tiêu về lạm phát và tỷ giá.

Với các nguồn lực hạn hẹp như vậy, các chính sách cần phải đúng trọng tâm, tránh dàn trải gây tốn kém nguồn lực. Việt Nam đã phản ứng sớm, quyết liệt và đang làm tốt trong việc phòng chống sự lây lan của bệnh dịch. Tuy nhiên, thời gian cách ly xã hội càng lâu, chi phí kinh tế càng tốn kém trong khi dịch bệnh có nguy cơ kéo dài. Do vậy, các kịch bản ứng phó về chính sách khác nhau đối với các cấp độ về dịch bệnh nên được xây dựng.

Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải xây dựng được các phương án phòng chống dịch bệnh đi kèm sản xuất, phải tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp còn có khả năng hoạt động, tránh ngăn sông cấm chợ cực đoan như ở một số địa phương. Tầm quan trọng của phát triển kinh tế nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực nên được đặt ngang hàng với công cuộc phòng chống dịch bệnh.

Các chính sách an sinh xã hội như chi trả bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ người bị tạm thời ngưng việc, trợ cấp cho người nghèo, người bị mất kế sinh nhai do tác động của giãn cách xã hội nên được ưu tiên hàng đầu và cần phải được triển khai nhanh chóng trước khi người dân rơi vào những bi kịch không đáng có. Đặc biệt, lao động trong khu vực phi chính thức cần được quan tâm hơn khi chiếm một tỷ trọng lớn, dễ tổn thương, chịu tác nặng nề nhất, và có thể nằm ngoài phạm vi được thụ hưởng của các chính sách hiện tại.

Trong khi đó, đối với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cũng cần có sự phân loại và tập trung hơn. Việc khoanh/ngưng hoặc miễn giảm các chi phí tài chính như lãi vay và tiền thuê đất nên được áp dụng đối với nhóm doanh nghiệp phải dừng hoạt động; các chính sách hoãn đóng bảo hiểm xã hội, giảm tiền thuê đất, giảm lãi vay và khoanh nợ, giãn thu thuế VAT nên được thực hiện với các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực nhưng còn hoạt động, nhưng phải có các tiêu chí rõ ràng về các mức độ hỗ trợ để tránh cào bằng, dàn trải.

Còn lại, đối với nhóm các doanh nghiệp ít hoặc không bị ảnh hưởng, hoặc có hướng chuyển đổi hiệu quả, thì nên khuyến khích tín dụng, hết sức tạo điều kiện về môi trường thể chế và chính sách ngành bởi họ là gánh đỡ cho nền kinh tế trong thời kỳ khó khăn này.

Ngay cả khi dịch bệnh trong nước được kiểm soát hoàn toàn thì nhiều ngành dịch vụ và sản xuất hướng ra xuất khẩu có thể sẽ còn gặp khó khăn lâu dài một khi bệnh dịch còn chưa hoàn toàn biến mất ở các khu vực kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới. Do vậy, thúc đẩy đầu tư công trong nửa cuối năm là việc nên làm để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, thúc đẩy đầu tư công không phải là việc mở rộng đầu tư công một cách dàn trải, thiếu kiểm soát. Việt Nam chỉ nên đẩy nhanh những dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia, đã được phê duyệt và có sẵn vốn thực hiện. Việc chia nhỏ ra làm nhiều gói thầu và thực hiện rải rác ở nhiều địa phương để nhiều doanh nghiệp và nhiều địa phương có thể tiếp cận, tạo sự lan tỏa tốt hơn cũng có thể được cân nhắc.

Đồng thời, cắt giảm ngân sách thường xuyên (tiêu dùng) tối thiểu 10% nên được thực hiện nhằm dành nguồn lực cho việc khắc phục những hậu quả do dịch bệnh gây ra.

Cuối cùng, song hành với những chính sách mang tính ngắn hạn hiện tại trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch Covid-19, Việt Nam nên tiếp tục và cải thiện những chính sách dài hơi hơn để cải thiện nền tảng vĩ mô và giảm thiểu rủi ro trong tương lai. Trong mọi tình huống, lạm phát, lãi suất và tỷ giá cần được duy trì ổn định để chuẩn bị cho giai phục hồi sau dịch bệnh.

Trong khó khăn, nhiều bất cập trong việc điều hành chính sách kinh tế cũng đã bộc lộ nên các nỗ lực cải thiện môi trường thể chế kinh doanh cần tiếp tục được duy trì. Đặc biệt, dù có chậm trễ, Việt Nam nên từng bước xây dựng đệm tài khóa để phòng chống những cú sốc kiểu Covid-19.

(*) Kinh tế trưởng VEPR

In bài
Gửi bài cho bạn bè
TIN BÀI KHÁC  
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập phụ trách online: Phan Chiến Thắng.
Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung, Minh Châu.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.