Mobile Area

Lợi thế dân số, nên chất hơn lượng

Thứ Sáu,  15/5/2020, 09:49 
Triêu Dương

Lợi thế dân số, nên chất hơn lượng

Triêu Dương

(TBKTSG) - Nhìn vào những quốc gia có dân số già và tăng trưởng kinh tế trì trệ như Nhật Bản, hay một số nước có hệ thống y tế quá tải và chịu nhiều thiệt hại trong đại dịch Covid-19 như châu Âu, sẽ hiểu được việc Chính phủ luôn muốn duy trì một cơ cấu dân số trẻ quan trọng đến thế nào.

Dân số già đe dọa tăng trưởng của châu Á

TPHCM đang “gồng mình” trước nhiều áp lực về gia tăng dân số

Việt Nam đã bắt đầu bước vào thời kỳ già hóa dân số. Ảnh minh họa Thành Hoa

Vì sao phải khuyến khích sinh?

Khuyến khích nam nữ kết hôn trước 30 tuổi, sinh đủ hai con và sớm sinh trước 35 tuổi là mục tiêu quan trọng trong “Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030”, theo Quyết định 588 mà Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt. Một số cơ chế khuyến khích đã được đề xuất như cha mẹ sinh đủ hai con được giảm thuế, ưu tiên mua nhà, con được vào trường công lập, miễn giảm các khoản đóng góp công ích theo hộ gia đình...

Thông tin này gây chú ý vì từ trước đến nay, nhiều người vẫn cho rằng Việt Nam là một quốc gia thừa dân. Chính sách kế hoạch hóa gia đình đã được thực thi trong hàng chục năm qua, lực lượng dân số trẻ chiếm tỷ trọng cao, và Việt Nam luôn nằm trong những nước có mật độ dân số cao trên thế giới.

Tuy nhiên, điều ít ai biết là Việt Nam đã bắt đầu bước vào thời kỳ già hóa dân số, tức tình trạng dân số có tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% tổng dân số trở lên; hoặc khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% tổng dân số trở lên.

Theo Liên hiệp quốc, từ năm 2014, Việt Nam đã chính thức bước vào quá trình già hóa dân số, dự báo nước ta sẽ mất không tới 20 năm để tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 7% lên 14%. Thậm chí đến năm 2038, nhóm cao tuổi sẽ chiếm đến 20%, Việt Nam sẽ trở thành một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất trên thế giới.

Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Việt Nam có hơn 96,2 triệu người, với tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009-2019 là 1,14%/năm, giảm nhẹ so với giai đoạn 1999-2009 là 1,18%/năm. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn là 77,5%, tuy nhiên, tuổi kết hôn trung bình lần đầu đã tăng thêm 0,7 tuổi so với cách đó 10 năm, lên 25,2 tuổi. Đáng lưu ý là tổng tỷ suất sinh (TFR) là 2,09 con/phụ nữ, dưới mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ như mục tiêu đề ra.

Nếu xu hướng này tiếp tục, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động giảm nhanh là điều có thể thấy trước. Nó sẽ không chỉ tác động lên tăng trưởng kinh tế, mà còn gây áp lực lên ngân sách và các chương trình phúc lợi, trợ cấp, an sinh xã hội, mà việc Chính phủ gần đây đã phải tăng tuổi nghỉ hưu là một trong những minh chứng rõ nhất.

Nhìn vào những quốc gia có dân số già và tăng trưởng kinh tế trì trệ như Nhật Bản, hay một số nước có hệ thống y tế quá tải và chịu nhiều thiệt hại trong đại dịch Covid-19 như châu Âu, sẽ hiểu được việc Chính phủ luôn muốn duy trì một cơ cấu dân số trẻ quan trọng đến thế nào.

Nên chất hơn lượng

Dù vậy, việc tăng dân số không nên xem là mục tiêu tối thượng trong các động lực phát triển kinh tế. Một thực tế không thể chối cãi chính là nhờ vào dân số đông, lực lượng lao động dồi dào với chi phí rẻ, Việt Nam thu hút được một lượng lớn các dự án đầu tư vốn nước ngoài, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng thần kỳ kể từ khi mở cửa đến nay.

Lợi thế cơ cấu dân số trẻ đã được triệt để khai thác, nhưng chẳng lẽ chúng ta cứ mãi tìm cách thu hút đầu tư nước ngoài nhờ lực lượng lao động dồi dào với chi phí rẻ?

Cũng cần biết rằng lực lượng lao động có tay nghề thấp thì chỉ thu hút các dự án cũ kỹ, lạc hậu, thâm dụng lao động và có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu lên môi trường. Thay vì vậy, chúng ta nên tập trung nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động hiện tại, cải tiến năng suất lao động, nhất là trước xu hướng dịch chuyển vốn đầu tư kể từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc và đại dịch Covid-19 vừa qua. Muốn như vậy, cái gốc phải đến từ giáo dục và sức khỏe.

Lượng tuy cần thiết, nhưng chất lượng dân số còn quan trọng hơn nhiều. Ảnh minh họa Thành Hoa

Ngoài ra, cần phải nhìn nhận rằng những điều kiện y tế, giáo dục, thu nhập vẫn còn quá nhiều bất cập hiện nay cũng phần nào ảnh hưởng lên kế hoạch, tâm lý muốn kết hôn, sinh con của những người trẻ, nhất là trước nhịp sống hối hả, áp lực tại các thành phố lớn.

Vì vậy, có lẽ trước khi nói đến chuyện tăng tỷ lệ sinh, chúng ta nên cải thiện các chính sách y tế, giáo dục một cách thực chất. Nguồn lực rót cho hai lĩnh vực này hiện vẫn chiếm một tỷ trọng khá khiêm tốn trong chi tiêu ngân sách, mà lại còn được sử dụng thiếu hiệu quả. Sinh nhiều mà làm gì khi các chỉ số phát triển (HDI) con người không có nhiều tiến triển?

Thống kê cho thấy chỉ số HDI (được đánh giá theo ba tiêu chí là sức khỏe đo bằng tuổi thọ trung bình; tri thức đo bằng số năm đi học bình quân và số năm đi học kỳ vọng; thu nhập bình quân đầu người (GNI)) của Việt Nam vào năm 2019 là 0,693, tăng nhẹ 0,003 điểm so với năm 2018, thuộc nhóm trung bình và giữ nguyên xếp hạng thứ 118/189 quốc gia như năm 2018.

Đối với lo ngại dân số già sẽ ảnh hưởng lên tốc độ tăng trưởng kinh tế, thiết nghĩ Chính phủ nên có chính sách phù hợp để tận dụng lao động lớn tuổi vẫn có khả năng lao động, nhất là trong bối cảnh tự động hóa và những tiến bộ công nghệ được áp dụng ngày càng phổ biến.

Mặc dù so với năm 1990, HDI của Việt Nam đã tăng 45,9% từ mức 0,475, nhưng tốc độ cải thiện trong năm năm trở lại đây khá chậm, với năm 2014 là 0,663, xếp thứ 117. Có nên đặt mục tiêu cải thiện HDI, lọt vào tốp 100 trước khi nghĩ đến việc sinh thêm?

Một nghịch lý nữa là những khu vực thành phố có điều kiện phát triển thì sinh ít, nông thôn thì lại sinh nhiều.

Cụ thể, thống kê cuối năm 2019 cho thấy tỷ lệ TFR của khu vực thành thị là 1,83 con/phụ nữ, khu vực nông thôn là 2,26 con/phụ nữ; TPHCM là địa phương có mức sinh thấp nhất cả nước (1,39 con/phụ nữ), Hà Tĩnh là tỉnh có mức sinh cao nhất (2,83 con/phụ nữ).

Tỷ lệ này cũng có sự chênh lệch theo trình độ giáo dục, theo đó phụ nữ có trình độ đại học có mức sinh thấp nhất (1,85 con/phụ nữ), thấp hơn khá nhiều so với phụ nữ chưa bao giờ đi học (2,59 con/phụ nữ).

Điều này đưa đến hệ quả là tỷ lệ trẻ sinh mới ít có cơ hội tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế phát triển hơn. Chính vì vậy, đi kèm với giải pháp giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn, thành thị, miền núi và đồng bằng, Chính phủ nên tiếp tục tăng cường các chương trình phúc lợi cho các khu vực nông thôn, chính sách đầu tư phát triển cân bằng hướng tới mục tiêu tạo nên sự phát triển đồng đều giữa các khu vực, cũng đồng thời giảm tải lên các thành phố lớn.

Hầu hết ý kiến mặc định cho rằng dân số già là gánh nặng của xã hội. Nhưng cũng cần biết rằng trẻ mới sinh nếu không được chăm sóc y tế, giáo dục tốt ngay giai đoạn đầu đời có thể dẫn đến sức khỏe kém, dân trí thấp, thất nghiệp do thiếu tay nghề, nhất là khi máy móc sẽ thay thế dần nhiều nhóm công việc, từ đó dễ dẫn đến vi phạm pháp luật, thì gánh nặng lên xã hội còn lớn hơn nhiều. Chính vì vậy lượng tuy cần thiết, nhưng chất lượng dân số còn quan trọng hơn nhiều.

Đối với lo ngại dân số già sẽ ảnh hưởng lên tốc độ tăng trưởng kinh tế, thiết nghĩ Chính phủ nên có chính sách phù hợp để tận dụng lao động lớn tuổi vẫn có khả năng lao động, nhất là trong bối cảnh tự động hóa và những tiến bộ công nghệ được áp dụng ngày càng phổ biến.

Thống kê cho thấy tính đến cuối năm 2019, tuy gần 88% dân số trong độ tuổi từ 25-59 tham gia lực lượng lao động, nhưng dân số ở nhóm tuổi trẻ (nhóm 15-19 tuổi và nhóm 20-24 tuổi) và nhóm tuổi già (từ 60 tuổi trở lên) đều chiếm tỷ trọng tham gia lực lượng lao động khá thấp, dưới 10%.

Ngoài ra, việc tăng năng suất lao động, có các chính sách thu hút kiều bào và lao động trẻ từ nước ngoài có tay nghề cao nhập tịch Việt Nam, cũng phần nào bù đắp được ảnh hưởng của xu hướng già hóa dân số. Cũng cần lưu ý người già là lực lượng tiêu dùng đáng kể trong xã hội khi là nhóm có tích lũy tài sản cao hơn bình quân xã hội.

Điều này giúp tổng cầu duy trì đà tăng trưởng và là cơ hội cho một số ngành kinh tế dịch vụ dành cho người già phát triển mạnh hơn. Đơn cử như dịch vụ y tế, các nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi 55-77 tuổi chi tiêu cho y tế gấp hơn hai lần nhóm trẻ em 0-15 tuổi.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
'Saigon Times - Nối vòng tay lớn' lan tỏa du lịch xanh Quảng Nam
Saigon Times - Quảng Nam khuấy động Ngày du lịch Việt Nam bằng hoạt động môi trường
Giám đốc Sở Công Thương TPHCM giữ chức Bí thư Quận 3
Giám đốc Sở Công Thương TPHCM tham gia Ban chấp hành Quận ủy quận 3
Hợp tác nâng cao chất lượng nhân lực quản trị y tế
Lợi thế dân số, nên chất hơn lượng
Triêu Dương
Thứ Sáu,  15/5/2020, 09:49 

Lợi thế dân số, nên chất hơn lượng

Triêu Dương

(TBKTSG) - Nhìn vào những quốc gia có dân số già và tăng trưởng kinh tế trì trệ như Nhật Bản, hay một số nước có hệ thống y tế quá tải và chịu nhiều thiệt hại trong đại dịch Covid-19 như châu Âu, sẽ hiểu được việc Chính phủ luôn muốn duy trì một cơ cấu dân số trẻ quan trọng đến thế nào.

Dân số già đe dọa tăng trưởng của châu Á

TPHCM đang “gồng mình” trước nhiều áp lực về gia tăng dân số

Việt Nam đã bắt đầu bước vào thời kỳ già hóa dân số. Ảnh minh họa Thành Hoa

Vì sao phải khuyến khích sinh?

Khuyến khích nam nữ kết hôn trước 30 tuổi, sinh đủ hai con và sớm sinh trước 35 tuổi là mục tiêu quan trọng trong “Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030”, theo Quyết định 588 mà Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt. Một số cơ chế khuyến khích đã được đề xuất như cha mẹ sinh đủ hai con được giảm thuế, ưu tiên mua nhà, con được vào trường công lập, miễn giảm các khoản đóng góp công ích theo hộ gia đình...

Thông tin này gây chú ý vì từ trước đến nay, nhiều người vẫn cho rằng Việt Nam là một quốc gia thừa dân. Chính sách kế hoạch hóa gia đình đã được thực thi trong hàng chục năm qua, lực lượng dân số trẻ chiếm tỷ trọng cao, và Việt Nam luôn nằm trong những nước có mật độ dân số cao trên thế giới.

Tuy nhiên, điều ít ai biết là Việt Nam đã bắt đầu bước vào thời kỳ già hóa dân số, tức tình trạng dân số có tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% tổng dân số trở lên; hoặc khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% tổng dân số trở lên.

Theo Liên hiệp quốc, từ năm 2014, Việt Nam đã chính thức bước vào quá trình già hóa dân số, dự báo nước ta sẽ mất không tới 20 năm để tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 7% lên 14%. Thậm chí đến năm 2038, nhóm cao tuổi sẽ chiếm đến 20%, Việt Nam sẽ trở thành một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất trên thế giới.

Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Việt Nam có hơn 96,2 triệu người, với tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009-2019 là 1,14%/năm, giảm nhẹ so với giai đoạn 1999-2009 là 1,18%/năm. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn là 77,5%, tuy nhiên, tuổi kết hôn trung bình lần đầu đã tăng thêm 0,7 tuổi so với cách đó 10 năm, lên 25,2 tuổi. Đáng lưu ý là tổng tỷ suất sinh (TFR) là 2,09 con/phụ nữ, dưới mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ như mục tiêu đề ra.

Nếu xu hướng này tiếp tục, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động giảm nhanh là điều có thể thấy trước. Nó sẽ không chỉ tác động lên tăng trưởng kinh tế, mà còn gây áp lực lên ngân sách và các chương trình phúc lợi, trợ cấp, an sinh xã hội, mà việc Chính phủ gần đây đã phải tăng tuổi nghỉ hưu là một trong những minh chứng rõ nhất.

Nhìn vào những quốc gia có dân số già và tăng trưởng kinh tế trì trệ như Nhật Bản, hay một số nước có hệ thống y tế quá tải và chịu nhiều thiệt hại trong đại dịch Covid-19 như châu Âu, sẽ hiểu được việc Chính phủ luôn muốn duy trì một cơ cấu dân số trẻ quan trọng đến thế nào.

Nên chất hơn lượng

Dù vậy, việc tăng dân số không nên xem là mục tiêu tối thượng trong các động lực phát triển kinh tế. Một thực tế không thể chối cãi chính là nhờ vào dân số đông, lực lượng lao động dồi dào với chi phí rẻ, Việt Nam thu hút được một lượng lớn các dự án đầu tư vốn nước ngoài, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng thần kỳ kể từ khi mở cửa đến nay.

Lợi thế cơ cấu dân số trẻ đã được triệt để khai thác, nhưng chẳng lẽ chúng ta cứ mãi tìm cách thu hút đầu tư nước ngoài nhờ lực lượng lao động dồi dào với chi phí rẻ?

Cũng cần biết rằng lực lượng lao động có tay nghề thấp thì chỉ thu hút các dự án cũ kỹ, lạc hậu, thâm dụng lao động và có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu lên môi trường. Thay vì vậy, chúng ta nên tập trung nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động hiện tại, cải tiến năng suất lao động, nhất là trước xu hướng dịch chuyển vốn đầu tư kể từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc và đại dịch Covid-19 vừa qua. Muốn như vậy, cái gốc phải đến từ giáo dục và sức khỏe.

Lượng tuy cần thiết, nhưng chất lượng dân số còn quan trọng hơn nhiều. Ảnh minh họa Thành Hoa

Ngoài ra, cần phải nhìn nhận rằng những điều kiện y tế, giáo dục, thu nhập vẫn còn quá nhiều bất cập hiện nay cũng phần nào ảnh hưởng lên kế hoạch, tâm lý muốn kết hôn, sinh con của những người trẻ, nhất là trước nhịp sống hối hả, áp lực tại các thành phố lớn.

Vì vậy, có lẽ trước khi nói đến chuyện tăng tỷ lệ sinh, chúng ta nên cải thiện các chính sách y tế, giáo dục một cách thực chất. Nguồn lực rót cho hai lĩnh vực này hiện vẫn chiếm một tỷ trọng khá khiêm tốn trong chi tiêu ngân sách, mà lại còn được sử dụng thiếu hiệu quả. Sinh nhiều mà làm gì khi các chỉ số phát triển (HDI) con người không có nhiều tiến triển?

Thống kê cho thấy chỉ số HDI (được đánh giá theo ba tiêu chí là sức khỏe đo bằng tuổi thọ trung bình; tri thức đo bằng số năm đi học bình quân và số năm đi học kỳ vọng; thu nhập bình quân đầu người (GNI)) của Việt Nam vào năm 2019 là 0,693, tăng nhẹ 0,003 điểm so với năm 2018, thuộc nhóm trung bình và giữ nguyên xếp hạng thứ 118/189 quốc gia như năm 2018.

Đối với lo ngại dân số già sẽ ảnh hưởng lên tốc độ tăng trưởng kinh tế, thiết nghĩ Chính phủ nên có chính sách phù hợp để tận dụng lao động lớn tuổi vẫn có khả năng lao động, nhất là trong bối cảnh tự động hóa và những tiến bộ công nghệ được áp dụng ngày càng phổ biến.

Mặc dù so với năm 1990, HDI của Việt Nam đã tăng 45,9% từ mức 0,475, nhưng tốc độ cải thiện trong năm năm trở lại đây khá chậm, với năm 2014 là 0,663, xếp thứ 117. Có nên đặt mục tiêu cải thiện HDI, lọt vào tốp 100 trước khi nghĩ đến việc sinh thêm?

Một nghịch lý nữa là những khu vực thành phố có điều kiện phát triển thì sinh ít, nông thôn thì lại sinh nhiều.

Cụ thể, thống kê cuối năm 2019 cho thấy tỷ lệ TFR của khu vực thành thị là 1,83 con/phụ nữ, khu vực nông thôn là 2,26 con/phụ nữ; TPHCM là địa phương có mức sinh thấp nhất cả nước (1,39 con/phụ nữ), Hà Tĩnh là tỉnh có mức sinh cao nhất (2,83 con/phụ nữ).

Tỷ lệ này cũng có sự chênh lệch theo trình độ giáo dục, theo đó phụ nữ có trình độ đại học có mức sinh thấp nhất (1,85 con/phụ nữ), thấp hơn khá nhiều so với phụ nữ chưa bao giờ đi học (2,59 con/phụ nữ).

Điều này đưa đến hệ quả là tỷ lệ trẻ sinh mới ít có cơ hội tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế phát triển hơn. Chính vì vậy, đi kèm với giải pháp giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn, thành thị, miền núi và đồng bằng, Chính phủ nên tiếp tục tăng cường các chương trình phúc lợi cho các khu vực nông thôn, chính sách đầu tư phát triển cân bằng hướng tới mục tiêu tạo nên sự phát triển đồng đều giữa các khu vực, cũng đồng thời giảm tải lên các thành phố lớn.

Hầu hết ý kiến mặc định cho rằng dân số già là gánh nặng của xã hội. Nhưng cũng cần biết rằng trẻ mới sinh nếu không được chăm sóc y tế, giáo dục tốt ngay giai đoạn đầu đời có thể dẫn đến sức khỏe kém, dân trí thấp, thất nghiệp do thiếu tay nghề, nhất là khi máy móc sẽ thay thế dần nhiều nhóm công việc, từ đó dễ dẫn đến vi phạm pháp luật, thì gánh nặng lên xã hội còn lớn hơn nhiều. Chính vì vậy lượng tuy cần thiết, nhưng chất lượng dân số còn quan trọng hơn nhiều.

Đối với lo ngại dân số già sẽ ảnh hưởng lên tốc độ tăng trưởng kinh tế, thiết nghĩ Chính phủ nên có chính sách phù hợp để tận dụng lao động lớn tuổi vẫn có khả năng lao động, nhất là trong bối cảnh tự động hóa và những tiến bộ công nghệ được áp dụng ngày càng phổ biến.

Thống kê cho thấy tính đến cuối năm 2019, tuy gần 88% dân số trong độ tuổi từ 25-59 tham gia lực lượng lao động, nhưng dân số ở nhóm tuổi trẻ (nhóm 15-19 tuổi và nhóm 20-24 tuổi) và nhóm tuổi già (từ 60 tuổi trở lên) đều chiếm tỷ trọng tham gia lực lượng lao động khá thấp, dưới 10%.

Ngoài ra, việc tăng năng suất lao động, có các chính sách thu hút kiều bào và lao động trẻ từ nước ngoài có tay nghề cao nhập tịch Việt Nam, cũng phần nào bù đắp được ảnh hưởng của xu hướng già hóa dân số. Cũng cần lưu ý người già là lực lượng tiêu dùng đáng kể trong xã hội khi là nhóm có tích lũy tài sản cao hơn bình quân xã hội.

Điều này giúp tổng cầu duy trì đà tăng trưởng và là cơ hội cho một số ngành kinh tế dịch vụ dành cho người già phát triển mạnh hơn. Đơn cử như dịch vụ y tế, các nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi 55-77 tuổi chi tiêu cho y tế gấp hơn hai lần nhóm trẻ em 0-15 tuổi.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
TIN BÀI KHÁC  
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập phụ trách online: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung, Minh Châu.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.