Mobile Area

Chuyên gia Phạm Chi Lan: Đừng để doanh nghiệp lịm đi rồi mới hỗ trợ

Thứ Bảy,  23/5/2020, 11:19 
Vũ Dung

Chuyên gia Phạm Chi Lan: Đừng để doanh nghiệp lịm đi rồi mới hỗ trợ

Vũ Dung

(TBKTSG Online) - Ai cũng biết ngân sách hạn hẹp nhưng chính sách đã đưa ra thì phải kịp thời, đừng để khi doanh nghiệp lịm rồi, chết rồi mới hỗ trợ thì không còn ý nghĩa. Đây là điều mong mỏi chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nêu ra tại buổi tọa đàm "Hậu Covid-19: Làm gì để trở lại đường đua?" diễn ra ngày 22-5.

Sự kiện nói trên nằm trong chuỗi tọa đàm trực tuyến "Cùng doanh nghiệp vượt qua đại dịch" được tổ chức bởi Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Hội Doanh nhân trẻ TPHCM, và nhãn hàng Tôn Colorbond của Công ty NS Bluescope Việt Nam.

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, gói cứu trợ của Chính phủ giúp doanh nghiệp và người dân vượt qua Covid-19 lần này có định hướng, mục tiêu và quy định cụ thể. Tuy nhiên, quá trình triển khai của các đơn vị có liên quan còn chậm. Ảnh minh họa: TTXVN

Đánh giá về gói hỗ trợ nền kinh tế vượt qua đại dịch Covid-19, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho hay, gói hỗ trợ lần này tốt hơn nhiều so với gói hỗ trợ nền kinh tế trong đợt khủng hoảng kinh tế diễn ra hơn 10 năm trước.

“Nhìn lại cuộc khủng hoảng lần này thấy rằng việc Chính phủ đưa ra các gói giải pháp ứng phó khủng hoảng đã tốt hơn so với giai đoạn trước đây năm 2008”, bà nói.

Nếu như trong cuộc khủng hoảng 2008, Chính phủ đưa ra các gói kích cầu lớn, tương đương 10% GDP của Việt Nam lúc đó nhưng định hướng không rõ ràng, quy định không thật chắc nên dòng tiền thay vì đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh lại chảy vào bất động sản và gây ra bong bóng bất động sản thời kỳ đó. Thứ hai, gói kích cầu cũng thổi lãi suất ngân hàng lên cao kinh khủng, nên thay vì cứu trợ cho doanh nghiệp, rất nhiều doanh nghiệp bị chết vì lãi suất ngân hàng lên tới 26%.

Theo bà Lan, gói kích cầu thời điểm 2008 đã làm hàng loạt ngành kinh tế Việt Nam thậm chí còn kém cạnh tranh hơn vì cùng một lúc việc tiếp cận đất đai và vốn đều quá đắt đỏ.

Ngược lại, gói cứu trợ của Chính phủ rất tốt, có định hướng, mục tiêu và quy định cụ thể. Ví dụ, gói cứu trợ chủ yếu nhắm tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa, những người bị mất việc làm. Bên cạnh đó, gói cứu trợ còn hỗ trợ doanh nghiệp cả về thuế, tín dụng... Tuy nhiên, gói hỗ trợ này còn chậm, thủ tục lằng nhằng.

“Ai cũng thấy ngân sách rất hạn hẹp, thu giảm mạnh vì doanh nghiệp chết, không có người đóng thuế”, bà Lan nói. “Nhà nước không cần hỗ trợ thêm nữa nhưng những chính sách đã đưa ra thì phải kịp thời. Cứu người phải đúng lúc, chứ để dài quá, doanh nghiệp lịm dần, chết đi thì lúc đó không còn ý nghĩa".

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.

Thiếu sự chung sức của những nền kinh tế lớn

Những khó khăn mà đại dịch Covid-19 gây ra cho nền kinh tế toàn cầu sẽ còn kéo dài, thậm chí có thể tới 2 năm nữa. Theo bà Lan, các tổ chức uy tín lớn trên thế giới đều đưa ra bức tranh kinh tế toàn cầu ảm đạm từ nay tới cuối năm. Những con số kinh tế vĩ mô đưa ra là rất đáng lo ngại.

Tại Mỹ, nếu như những năm đầu nhiệm kỳ, Tổng thống Trump đã rất tự hào về tỷ lệ thất nghiệp thấp kỷ lục trong nhiều năm, nhưng giờ chỉ sau vài tháng dịch, số người đăng ký nhận trợ cấp thất nghiệp cũng ở mức kỷ lục.

Tại nhiều nước khác cũng vậy, nạn thất nghiệp đang là vấn đề của rất nhiều nền kinh tế hiện nay. “Người lao động không có công  ăn việc làm, các ngành mà họ đang làm việc không hoạt động được, người ta không có thu nhập để tiêu dùng nghĩa là cầu trên thế giới chưa thể cải thiện”, bà Lan nói và dự báo về bức tranh kinh tế thế giới ảm đạm, thậm chí kéo dài tới 2 năm khi mà thế giới tìm ra được vaccine, thử nghiệm và sản xuất đại trà cho người dân.

Thậm chí, bà Lan còn cho rằng, khủng hoảng kinh tế lần này sẽ còn khó giải quyết hơn so với cuộc khủng hoảng diễn ra năm 2008. Thời điểm trước, khủng hoảng xuất phát từ hệ thống tài chính Mỹ và đã được Mỹ và các quốc gia phát triển khác cùng nhau giải quyết. Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế lần này xuất phát từ vấn đề y tế và đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu do các nhà máy, các công ty công nghệ chủ yếu gia công sản phẩm tại Trung Quốc.

Khác với lần trước, cuộc khủng hoảng lần này còn khiến quan hệ giữa hai cường quốc Mỹ - Trung vốn đã rạn nứt trong thương chiến, lại tiếp tục căng thẳng hơn bởi đại dịch. Vì vậy, cuộc khủng hoảng càng thêm nặng nề.

“Thế giới hiện nay đang lúng túng và rất cần sự hợp tác với nhau, trước hết là hai nền kinh tế lớn nhất thế giới”, bà Lan nói.

EVFTA có phải là cứu tinh cho doanh nghiệp xuất khẩu?

Dù khủng hoảng kinh tế lần này sẽ còn kéo dài, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn có lợi thế hơn so với các quốc gia trong khu vực xét về công tác chống dịch hiệu quả của Chính phủ. Hơn nữa, hiệp định thương mại tự do Việt Nam EU (EVFTA) dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua trong kỳ họp này sẽ là “lối đi riêng" cho hàng hoá Việt Nam vào EU trong dài hạn.

Theo bà Phạm Chi Lan, đại dịch Covid-19 sẽ làm giảm lợi ích của EVFTA trong ngắn hạn nhưng về trung và dài hạn sẽ làm tăng lợi ích của Việt Nam. Khi các nền kinh tế trong cộng đồng EU phải tái cấu trúc lại nguồn cung của mình và điều này sẽ làm gia tăng xu hướng dịch chuyển đầu tư sang Việt Nam nhằm phát triển những ngành có giá trị gia tăng cao hơn.

Trước mắt, xuất khẩu từ Việt Nam sang EU có thể bị sụt giảm, không đạt được như kỳ vọng được đặt ra (trước khi có dịch bệnh). Thế nhưng, sự sụt giảm này chỉ trong ngắn hạn, về lâu dài xuất khẩu sẽ tăng. Hơn nữa, nếu dòng vốn FDI của EU sang Việt Nam làm tốt có thể kéo được giá trị gia tăng cho Việt Nam, tạo công ăn việc làm tốt hơn và thu nhập cao hơn cho Việt Nam.

Theo bà Lan, lâu nay, Việt Nam vẫn tự hào xuất khẩu nhiều nhưng có tới  70% giá trị là đến từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Phần Việt Nam tự làm được và hưởng được rất nhỏ bé. Nhiều khi Việt Nam xuất khẩu hộ cho người khác, nhất là hộ cho Trung Quốc, đặc biệt là công nghiệp phụ trợ.

Lấy ví dụ trong ngành công nghiệp phụ trợ, Việt Nam chỉ được hưởng khoảng 10% giá trị, trong khi Trung Quốc, với tư cách là người cung ứng hỗ trợ ngành công nghiệp dịch vụ phụ trợ có thể được hưởng 30-40%.

“Điều này là không đáng trong khi mình vừa phải mở cửa thị trường, vừa phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn dồn lên toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, dồn lên doanh nghiệp Việt Nam và thậm chí người nông dân Việt Nam trở đi”, bà Lan nói. “Tôi vẫn băn khoăn là lâu nay các FTA của Việt nam, thực sự người Việt Nam được hưởng ít quá và chúng ta dành rất nhiều cơ hội cho người bên ngoài”,

Bà Lan hy vọng nếu Việt Nam giành được cơ hội từ nguồn vốn FDI của EU, nội lực nền kinh tế sẽ phát triển bền vững hơn rất nhiều và thực sự mang lại lợi ích cho hai bên. Bởi trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN) thì EU mới chỉ có hiệp định thương mại với Singapore và Việt Nam, trong khi Singapore không phải là nước mạnh về sản xuất. Như vậy, dòng vốn chất lượng cao từ EU sẽ có nhiều khả năng chảy vào Việt Nam thời gian tới.

Mời đọc thêm:

Vì sao các gói hỗ trợ của ngân hàng vẫn chậm giải ngân?

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Chỉ trong 4 tháng, Việt Nam chi hơn 1 tỉ đô la Mỹ để mua thịt
Gần 300.000 tấn gạo được xuất sang Trung Quốc
Thúc đẩy tiêu thụ nông sản Việt tại thị trường Trung Quốc
Nông nghiệp hưởng lợi lớn nhất từ EVFTA
Ít doanh nghiệp đạt các tiêu chuẩn xuất khẩu hàng phòng chống dịch Covid-19
Chuyên gia Phạm Chi Lan: Đừng để doanh nghiệp lịm đi rồi mới hỗ trợ
Vũ Dung
Thứ Bảy,  23/5/2020, 11:19 

Chuyên gia Phạm Chi Lan: Đừng để doanh nghiệp lịm đi rồi mới hỗ trợ

Vũ Dung

(TBKTSG Online) - Ai cũng biết ngân sách hạn hẹp nhưng chính sách đã đưa ra thì phải kịp thời, đừng để khi doanh nghiệp lịm rồi, chết rồi mới hỗ trợ thì không còn ý nghĩa. Đây là điều mong mỏi chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nêu ra tại buổi tọa đàm "Hậu Covid-19: Làm gì để trở lại đường đua?" diễn ra ngày 22-5.

Sự kiện nói trên nằm trong chuỗi tọa đàm trực tuyến "Cùng doanh nghiệp vượt qua đại dịch" được tổ chức bởi Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Hội Doanh nhân trẻ TPHCM, và nhãn hàng Tôn Colorbond của Công ty NS Bluescope Việt Nam.

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, gói cứu trợ của Chính phủ giúp doanh nghiệp và người dân vượt qua Covid-19 lần này có định hướng, mục tiêu và quy định cụ thể. Tuy nhiên, quá trình triển khai của các đơn vị có liên quan còn chậm. Ảnh minh họa: TTXVN

Đánh giá về gói hỗ trợ nền kinh tế vượt qua đại dịch Covid-19, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho hay, gói hỗ trợ lần này tốt hơn nhiều so với gói hỗ trợ nền kinh tế trong đợt khủng hoảng kinh tế diễn ra hơn 10 năm trước.

“Nhìn lại cuộc khủng hoảng lần này thấy rằng việc Chính phủ đưa ra các gói giải pháp ứng phó khủng hoảng đã tốt hơn so với giai đoạn trước đây năm 2008”, bà nói.

Nếu như trong cuộc khủng hoảng 2008, Chính phủ đưa ra các gói kích cầu lớn, tương đương 10% GDP của Việt Nam lúc đó nhưng định hướng không rõ ràng, quy định không thật chắc nên dòng tiền thay vì đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh lại chảy vào bất động sản và gây ra bong bóng bất động sản thời kỳ đó. Thứ hai, gói kích cầu cũng thổi lãi suất ngân hàng lên cao kinh khủng, nên thay vì cứu trợ cho doanh nghiệp, rất nhiều doanh nghiệp bị chết vì lãi suất ngân hàng lên tới 26%.

Theo bà Lan, gói kích cầu thời điểm 2008 đã làm hàng loạt ngành kinh tế Việt Nam thậm chí còn kém cạnh tranh hơn vì cùng một lúc việc tiếp cận đất đai và vốn đều quá đắt đỏ.

Ngược lại, gói cứu trợ của Chính phủ rất tốt, có định hướng, mục tiêu và quy định cụ thể. Ví dụ, gói cứu trợ chủ yếu nhắm tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa, những người bị mất việc làm. Bên cạnh đó, gói cứu trợ còn hỗ trợ doanh nghiệp cả về thuế, tín dụng... Tuy nhiên, gói hỗ trợ này còn chậm, thủ tục lằng nhằng.

“Ai cũng thấy ngân sách rất hạn hẹp, thu giảm mạnh vì doanh nghiệp chết, không có người đóng thuế”, bà Lan nói. “Nhà nước không cần hỗ trợ thêm nữa nhưng những chính sách đã đưa ra thì phải kịp thời. Cứu người phải đúng lúc, chứ để dài quá, doanh nghiệp lịm dần, chết đi thì lúc đó không còn ý nghĩa".

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.

Thiếu sự chung sức của những nền kinh tế lớn

Những khó khăn mà đại dịch Covid-19 gây ra cho nền kinh tế toàn cầu sẽ còn kéo dài, thậm chí có thể tới 2 năm nữa. Theo bà Lan, các tổ chức uy tín lớn trên thế giới đều đưa ra bức tranh kinh tế toàn cầu ảm đạm từ nay tới cuối năm. Những con số kinh tế vĩ mô đưa ra là rất đáng lo ngại.

Tại Mỹ, nếu như những năm đầu nhiệm kỳ, Tổng thống Trump đã rất tự hào về tỷ lệ thất nghiệp thấp kỷ lục trong nhiều năm, nhưng giờ chỉ sau vài tháng dịch, số người đăng ký nhận trợ cấp thất nghiệp cũng ở mức kỷ lục.

Tại nhiều nước khác cũng vậy, nạn thất nghiệp đang là vấn đề của rất nhiều nền kinh tế hiện nay. “Người lao động không có công  ăn việc làm, các ngành mà họ đang làm việc không hoạt động được, người ta không có thu nhập để tiêu dùng nghĩa là cầu trên thế giới chưa thể cải thiện”, bà Lan nói và dự báo về bức tranh kinh tế thế giới ảm đạm, thậm chí kéo dài tới 2 năm khi mà thế giới tìm ra được vaccine, thử nghiệm và sản xuất đại trà cho người dân.

Thậm chí, bà Lan còn cho rằng, khủng hoảng kinh tế lần này sẽ còn khó giải quyết hơn so với cuộc khủng hoảng diễn ra năm 2008. Thời điểm trước, khủng hoảng xuất phát từ hệ thống tài chính Mỹ và đã được Mỹ và các quốc gia phát triển khác cùng nhau giải quyết. Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế lần này xuất phát từ vấn đề y tế và đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu do các nhà máy, các công ty công nghệ chủ yếu gia công sản phẩm tại Trung Quốc.

Khác với lần trước, cuộc khủng hoảng lần này còn khiến quan hệ giữa hai cường quốc Mỹ - Trung vốn đã rạn nứt trong thương chiến, lại tiếp tục căng thẳng hơn bởi đại dịch. Vì vậy, cuộc khủng hoảng càng thêm nặng nề.

“Thế giới hiện nay đang lúng túng và rất cần sự hợp tác với nhau, trước hết là hai nền kinh tế lớn nhất thế giới”, bà Lan nói.

EVFTA có phải là cứu tinh cho doanh nghiệp xuất khẩu?

Dù khủng hoảng kinh tế lần này sẽ còn kéo dài, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn có lợi thế hơn so với các quốc gia trong khu vực xét về công tác chống dịch hiệu quả của Chính phủ. Hơn nữa, hiệp định thương mại tự do Việt Nam EU (EVFTA) dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua trong kỳ họp này sẽ là “lối đi riêng" cho hàng hoá Việt Nam vào EU trong dài hạn.

Theo bà Phạm Chi Lan, đại dịch Covid-19 sẽ làm giảm lợi ích của EVFTA trong ngắn hạn nhưng về trung và dài hạn sẽ làm tăng lợi ích của Việt Nam. Khi các nền kinh tế trong cộng đồng EU phải tái cấu trúc lại nguồn cung của mình và điều này sẽ làm gia tăng xu hướng dịch chuyển đầu tư sang Việt Nam nhằm phát triển những ngành có giá trị gia tăng cao hơn.

Trước mắt, xuất khẩu từ Việt Nam sang EU có thể bị sụt giảm, không đạt được như kỳ vọng được đặt ra (trước khi có dịch bệnh). Thế nhưng, sự sụt giảm này chỉ trong ngắn hạn, về lâu dài xuất khẩu sẽ tăng. Hơn nữa, nếu dòng vốn FDI của EU sang Việt Nam làm tốt có thể kéo được giá trị gia tăng cho Việt Nam, tạo công ăn việc làm tốt hơn và thu nhập cao hơn cho Việt Nam.

Theo bà Lan, lâu nay, Việt Nam vẫn tự hào xuất khẩu nhiều nhưng có tới  70% giá trị là đến từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Phần Việt Nam tự làm được và hưởng được rất nhỏ bé. Nhiều khi Việt Nam xuất khẩu hộ cho người khác, nhất là hộ cho Trung Quốc, đặc biệt là công nghiệp phụ trợ.

Lấy ví dụ trong ngành công nghiệp phụ trợ, Việt Nam chỉ được hưởng khoảng 10% giá trị, trong khi Trung Quốc, với tư cách là người cung ứng hỗ trợ ngành công nghiệp dịch vụ phụ trợ có thể được hưởng 30-40%.

“Điều này là không đáng trong khi mình vừa phải mở cửa thị trường, vừa phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn dồn lên toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, dồn lên doanh nghiệp Việt Nam và thậm chí người nông dân Việt Nam trở đi”, bà Lan nói. “Tôi vẫn băn khoăn là lâu nay các FTA của Việt nam, thực sự người Việt Nam được hưởng ít quá và chúng ta dành rất nhiều cơ hội cho người bên ngoài”,

Bà Lan hy vọng nếu Việt Nam giành được cơ hội từ nguồn vốn FDI của EU, nội lực nền kinh tế sẽ phát triển bền vững hơn rất nhiều và thực sự mang lại lợi ích cho hai bên. Bởi trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN) thì EU mới chỉ có hiệp định thương mại với Singapore và Việt Nam, trong khi Singapore không phải là nước mạnh về sản xuất. Như vậy, dòng vốn chất lượng cao từ EU sẽ có nhiều khả năng chảy vào Việt Nam thời gian tới.

Mời đọc thêm:

Vì sao các gói hỗ trợ của ngân hàng vẫn chậm giải ngân?

In bài
Gửi bài cho bạn bè
TIN BÀI KHÁC  
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập phụ trách online: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung, Minh Châu.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.