Mobile Area

Luật nào sẽ tháo gỡ vướng mắc môi trường đầu tư?

Thứ Bảy,  13/6/2020, 09:19 
Lê Văn Hà

Luật nào sẽ tháo gỡ vướng mắc môi trường đầu tư?

Lê Văn Hà

(TBKTSG Online) - Theo Chương trình kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV, vào tuần tới, các đại biểu Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua một số luật quan trọng có tác động trong việc tháo gỡ các vướng mắc mội trường đầu tư như Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), Luật Đầu tư (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP)... trước khi đi vào phiên bế mạc chiều ngày 18-6.

Việc điều chỉnh các quy định vướng mắc, khó khăn trong việc thực thi và phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh cần được thực hiện một cách quyết liệt. Ảnh minh họa: TTXVN

Theo rà soát của Bộ Tư pháp, nhiều đạo luật đang có quy định vướng mắc, khó khăn trong việc thực thi và phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở... Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng tổng hợp ý kiến phản ánh của doanh nghiệp từ nhiều năm qua để kiến nghị Chính phủ và Quốc hội xem xét, tháo gỡ, sửa đổi sớm các luật hiện hành.

Đất đai - nơi tập trung nhiều vướng mắc của nhà đầu tư

Một trong những đạo luật nhiều ý kiến phản ánh vướng mắc nhất là Luật Đất đai. Các vướng mắc, bất cập của Luật kéo dài trong thực tế khiến nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn khi thực hiện dự án, nhất là các bất cập về: phân loại đất thuê trả tiền sử dụng đất một lần và đất trả tiền sử dụng đất hàng năm không hợp lý, chưa quy định rõ đất đô thị và đất xây dựng ở đô thị nên có thể dẫn đến quy hoạch đất đô thị, hướng dẫn sử dụng loại đất không minh bạch.

Luật Đất đai hiện hành chưa cho phép người nước ngoài được sở hữu nhà ở cũng là vấn đề gây tranh luận kéo dài. Các trường hợp giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất và không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất chưa rõ ràng khi nào áp dụng Luật Đất đai, khi nào áp dụng Luật Đấu thầu; chưa rõ ràng về thời điểm, cách thức xác định nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp đấu thầu dự án có sử dụng đất; chưa có quy định cụ thể, thống nhất giữa các trường hợp đấu thầu dự án có sử dụng đất để lựa chọn chủ đầu tư theo pháp luật về đấu thầu với các trường hợp giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đất đai...

Luật Đất đai và Luật Đầu tư cũng chưa có sự thống nhất về thời gian được giãn tiến độ đầu tư và thời gian được gia hạn tiến độ sử dụng đất: Luật Đất đai quy định dự án đầu tư có thể được sử dụng đất chậm đến 48 tháng (gồm thời gian chậm 24 tháng và thời gian gia hạn 24 tháng), còn Luật Đầu tư quy định tổng thời gian giãn tiến độ đầu tư không quá 24 tháng, nên nhà đầu tư băn khoăn không biết thực hiện theo quy định nào?

Luật Đất đai cũng chưa luật hóa cụ thể các quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt đã được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều này cũng dẫn đến hạn chế các giao dịch dân sự như trao đổi, chuyển nhượng, cũng như thu tiền sử dụng đất đối với quyền khai thác không gian để phát triển đô thị một cách hiệu quả đồng thời tăng nguồn thu cho các đô thị.

Một trong những quy định khiến nhà đầu tư sợ hãi nhất là trường hợp phải thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng tại Luật Đất đai, bởi vì có nhiều trường hợp đấu thầu dự án, sau khi trúng thầu, chủ đầu tư cũng phải tự đi thương lượng, đền bù đất. Một số dự án đã đền bù đến trên 90% diện tích đất nhưng không thể đạt được thỏa thuận đền bù đối với diện tích đất còn lại dẫn đến không triển khai được dự án và khiếu kiện về đất đai kéo dài. Cần làm rõ trong trường hợp này thì trách nhiệm của các Nhà nước đến đâu, trường hợp không thể thương lượng được, Nhà nước có thể đứng ra thu hồi phần diện tích đất còn lại để khích lệ được các nhà đầu tư thực hiện dự án, tăng tính khả thi đối với các dự án có quy mô sử dụng đất lớn.

Việc xác định ranh giới vùng phụ cận dự án nếu không quy định rõ ràng trong Luật thì sẽ còn nhiều khiếu kiện tương tự như dự án Thủ Thiêm. Từ việc nở rộ các khu đô thị lớn ở các đô thị trong những năm gần đây cho thấy, đối với các dự án khu đô thị thuộc diện thu hồi đất, Nhà nước gần như không có đủ tiềm lực tài chính để thực hiện và dựa hoàn toàn vào nguồn lực từ chính nhà đầu tư dự án. Trong trường này, Nhà nước cần tăng cường kiểm soát quy hoạch đô thị, quy hoạch chi tiết để quản lý chất lượng đô thị của các khu đô thị lớn để bảo đảm quản lý tổng thể, không phụ thuộc quá nhiều vào đề xuất của nhà đầu tư.

Chính các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng lúng túng khi xác định thẩm quyền thu hồi đất, quyết định đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đất đai và Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công. Luật Đất đai quy định căn cứ vào thẩm quyết quyết định đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, căn cứ quy định của Luật Đầu tư và Luật Đầu tư công, thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư có sự thay đổi (ngoài Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ còn có thẩm quyền của Chính phủ, Bộ trưởng,...) nên khó xác định chính xác các trường hợp thu hồi đất để thực hiện các dự án do Chính phủ hoặc Bộ trưởng quyết định.

Việc lựa chọn chủ đầu tư dự án các luật cũng quy định khác nhau: Luật Đất đai quy định nếu nhà đầu tư đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 58 Luật Đất đai thì được Nhà nước xem xét quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; Luật Đầu tư quy định chỉ định chủ đầu tư trong trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Trong khi đó, Luật Nhà ở quy định chỉ chỉ định chủ đầu tư trong trường hợp chủ đầu tư có đất ở hợp pháp.

Còn rất nhiều quy định cụ thể khác của Luật Đất đai cần được rà soát và đánh giá việc thi hành Luật trên thực tế. Tuy nhiên, rất tiếc là một lần nữa việc sửa đổi Luật Đất đai lại “lỡ hẹn” chưa được xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 9 của Quốc hội và chưa biết đến bao giờ các bất cập nói trên sẽ được xem xét, sửa đổi.

Có tháo gỡ triệt để vướng mắc trong môi trường đầu tư

Một đạo luật được coi là “luật gốc” về đầu tư cho tất cả các lĩnh vực kinh tế là Luật Đầu tư đang được Quốc hội xem xét để thông qua tại Kỳ họp thứ 9 này, theo dự kiến là vào ngày 17-6. Lần này việc sửa đổi Luật đã tháo gỡ được một số vướng mắc về: làm rõ nguyên tắc áp dụng Luật Đầu tư với các luật có liên quan đến đầu tư như: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật Hàng không, Luật Hàng hải, Luật Xây dựng, Luật Đất đai; làm rõ căn cứ để điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; bổ sung một số hình thức ưu đãi và hỗ trợ đầu tư phù hợp với thực tế; bổ sung một số ngành nghề được ưu đãi đầu tư; bổ sung cả trường hợp ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt đối với các dự án đầu tư có tác động lớn đến kinh tế - xã hội; quy định rõ các trường hợp lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án; điều kiện được điều chỉnh dự án rõ ràng, chặt chẽ hơn quy định hiện hành....

Mặc dù có nhiều sửa đổi được đánh giá là hoàn thiện hơn so với hiện hành, nhưng một số vướng mắc của Luật Đầu tư vẫn khiến nhà đầu tư lo ngại. Ví dụ như: quy định “nhà đầu tư bị đình chỉ, ngừng, chấm dứt hoạt động đầu tư kinh doanh nếu hoạt động gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia”, nhưng không rõ thế nào là “gây phương hại”.

Về nghĩa vụ pháp lý, nhà đầu tư chỉ bị cơ quan có thẩm quyền xử lý khi vi phạm các thủ tục, điều kiện, nghĩa vụ được pháp luật quy định cụ thể. Trong khi các ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện được quy định thành Danh mục cụ thể trong Luật (Danh mục này được Quốc hội thường xuyên cập nhật, sửa đổi), nhưng các ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường lại không được quy định cụ thể trong Luật mà giao cho Chính phủ quy định Danh mục, khiến cho nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư lâu dài tại Việt Nam băn khoăn về tính ổn định của Danh mục này.

Nội dung ưu đãi đầu tư trong Luật Đầu tư thực chất chỉ có ưu đãi về đất đai và về thuế, nhưng Luật Đất đai thì chưa sửa, ưu đãi về thuế thì quy định riêng ở các luật về thuế. Một trong những điểm mới sửa đổi là ưu đãi cho dự án đầu tư có quy mô vốn từ 6.000 tỉ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 6.000 tỉ đồng trong thời hạn 3 năm có doanh thu tối thiểu đạt 10.000 tỉ đồng/năm trong thời gian chậm chất sau 3 năm kể từ năm có doanh thu hoặc sử dụng trên 3.000 lao động. Quy định cụ thể tiêu chí ưu đãi như vậy nhưng thực tế việc đánh giá doanh nghiệp thực hiện các tiêu chí hưởng ưu đãi như thế nào không dễ dàng, vì các kết quả hoạt động của doanh nghiệp thường xuyên biến động, doanh nghiệp có thể đạt tiêu chí ưu đãi trong thời gian rất ngắn, đúng thời điểm ưu đãi, nhưng sau đó lại không đạt yêu cầu được ưu đãi, do vậy nên quy định ưu đãi có thời hạn, theo phân kỳ đầu tư của dự án để bảo đảm tính khả thi.

Việc quy định bảo đảm ưu đãi đầu tư khi thay đổi pháp luật là cần thiết để nhà đầu tư yên tâm, nhưng các nhà đầu tư cần được bảo đảm tất cả các quyền lợi hợp pháp tại thời điểm đăng ký đầu tư và bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc của Luật đầu tư về quyền lợi của nhà đầu tư cần được thực hiện nhất quán từ khi bắt đầu đến khi kết thúc dự án. Đây là một trong những nguyên tắc của Luật Đầu tư mà nhà đầu tư lo ngại có thể bị phá vỡ do quy định pháp luật khác ban hành sau Luật Đầu tư.

Một trong những quy định cũng còn ý kiến khác nhau là ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt được giao Chính phủ quyết định với mức ưu đãi không vượt quá 50% mức ưu đãi hiện hành; thời hạn ưu đãi tối đa không vượt quá 50% thời gian theo quy định hiện hành. Mức ưu đãi tối đa như vậy có thể vượt mức ưu đãi cao nhất của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Đất đai hiện hành. Cần có cơ chế, chính sách đầu tư để thu hút những nhà đầu tư lớn như Samsung để thúc đẩy môi trường đầu tư hấp dẫn những “con cá lớn” tìm đến Việt Nam. Nhưng nếu các luật quy định không thống nhất thì sẽ khó khăn khi người quyết định chủ trương cho các dự án lớn này sẽ áp dụng luật nào.

Một hệ thống cơ sở dữ liệu theo dõi đầy đủ hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ giúp việc lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, nộp thuế, chuẩn bị các hoạt động đầu tư dự án... sẽ càng minh bạch hơn. Ảnh minh họa: TTXVN

Việc Nhà nước có nên quyết định chủ trương đầu tư đối với vốn của tư nhân hay không cũng là vấn đề được tranh luận nhiều. Mặc dù, dự thảo Luật đã thu hẹp phạm vi các đối tượng phải xin ý kiến chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng, nhưng vẫn còn đến 8 loại dự án phải có ý kiến của Thủ tướng mới được tiến hành thủ tục đầu tư, ví dụ như: dự án trong lĩnh vực dầu khí, hàng không, cảng biển, sân bay, casino, dự án có vốn trên 10.000 tỉ đồng bất kể lĩnh vực nào (quy định hiện hành là 5.000 tỉ); dự án khu đô thị dưới 50 ha, có dân số 15.000 người, dưới 100 ha có dân số 10.000 người, dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp,...

Những dự án kiểu này sẽ ngày càng nhiều, nên con số dự án phải xin ý kiến Thủ tướng có thể lên đến hàng trăm dự án mỗi năm với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay. Việc này có cần thiết không khi tư nhân bỏ rất nhiều vốn, tâm sức để đầu tư dự án và trải qua một thời gian dài để được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, chấp thuận bằng rất nhiều giấy phép đầu tư khi bảo đảm tuân thủ quy hoạch và các điều kiện đầu tư kinh doanh theo quy định pháp luật. Do vậy, việc xem xét chủ trương đầu tư và quyết định được phép kinh doanh sẽ trùng lặp.

Tương tự như vậy, ở cấp tỉnh, UBND xem xét, chấp thuận chủ trương đầu tư dự án và chỉ 5 ngày sau cơ quan đăng ký đầu tư cấp phép đầu tư cho dự án với các nội dung đúng như nội dung chấp thuận chủ trương đầu tư.

Việc quy định UBND cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư dự án sau khi xem xét về tất cả các nội dung liên quan đến đất đai, quy hoạch chuyên ngành, ưu đãi đầu tư, công nghệ, môi trường, tác động và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án thường bị kéo dài hơn so với quy định là 50 ngày do việc chờ lấy đủ ý kiến của các cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương. Nhiều trường hợp các sở ngành địa phương lại hỏi ý kiến các cơ quan trung ương, nên việc tổng hợp các ý kiến để có ý kiến thẩm định, quyết định cuối cùng thường rất chậm, có dự án kéo dài vài năm, thậm chí hàng chục năm như dự án khai thác khoáng sản Duy Tân tại Phú Yên.

Đối với đầu tư nước ngoài lần đầu đến Việt Nam, vấn đề gây tranh cãi từ khi sửa đổi Luật đầu tư năm 2014 là nên cấp phép thành lập cho doanh nghiệp trước hay xem xét, cấp phép dự án đầu tư trước vẫn được các Đại biểu Quốc hội nêu ra lần này. Nhưng cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra của Quốc hội vẫn giữ quan điểm cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước khi thành lập doanh nghiệp nhằm thu hút đầu tư có chọn lọc khi xem xét dự án về địa điểm, tài nguyên, năng lượng, lao động, công nghệ... Dường như cơ quan đăng ký đầu tư vẫn muốn “nắm đằng chuôi”, chưa tin tưởng nhà đầu tư được thành lập doanh nghiệp khi chưa có dự án đầu tư.

Vấn đề này sẽ được giải tỏa nếu có một hệ thống cơ sở dữ liệu theo dõi đầy đủ hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam, thì việc lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, nộp thuế, chuẩn bị các hoạt động đầu tư dự án, có thể tiến hành nhiều dự án cùng một lúc càng minh bạch hơn, còn như hiện nay, nhà đầu tư phải xin cấp phép từng dự án, sau đó lại xin phép nhiều lần nếu muốn mở rộng đầu tư kinh doanh. Tiếc là đến nay hệ thống cơ sở dữ liệu của cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan đăng ký đầu tư vẫn độc lập với nhau, dù cùng thuộc Bộ Kế họach và Đầu tư.

Tuy nhiên, tại báo cáo thẩm tra của Quốc hội lại cho rằng, để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo không yêu cầu phải có dự án đầu tư khi đến Việt Nam. Lập luận này dường như mâu thuẫn với quan điểm quản lý nhà đầu tư nước ngoài nêu trên, chứng tỏ chưa có sự nhất quán với chủ trương của Đảng về thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài, đón sóng dịch chuyển của các nhà đầu tư trong bối cảnh chiến tranh thương mại và hậu dịch Covid-19.

Mặc dù đã đi đến chỉnh lý dự thảo Luật cuối cùng, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề lớn của Luật Đầu tư chưa được giải quyết triệt để, các cơ quan của Quốc hội sẽ giải trình nhiều vấn đề trước khi Quốc hội bỏ phiếu vào ngày 17 tháng 6 tới đây.

Để tiếp tục tinh thần 'cởi trói', tạo thuận lợi cho doanh nghiệp

Trong những lần sửa đổi trước năm 2005, 2014, Luật Doanh nghiệp thường được chú ý là một điểm sáng về đổi mới tư duy, cải cách thể chế kinh tế nổi bật theo hướng tháo gỡ, cởi trói, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và hoạt động. Tuy nhiên, lần sửa đổi này, có vẻ khá dè dặt khi Chính phủ ban đầu chỉ đề nghị sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi thảo luận tại Quốc hội, có rất nhiều vấn đề được tiếp tục mổ xẻ, phân tích những bất cập cần phải hoàn thiện.

Một trong những vấn đề được tranh luận nhiều nhất là có nên bổ sung các quy định về hộ kinh doanh trong Luật hay không. Chính phủ cho rằng nên có cơ chế pháp lý rõ ràng hơn cho hộ kinh doanh để tạo khuôn khổ pháp lý cho hộ kinh doanh có quy mô nhỏ nhanh chóng ra đời, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có cơ chế khuyến khích phát triển hộ kinh doanh, xóa bỏ hạn chế quyền kinh doanh đối với hộ kinh doanh, không hạn chế địa bàn của hộ kinh doanh, làm rõ trách nhiệm và quyền của chủ hộ kinh doanh, thủ tục chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp... Tuy nhiên, các cơ quan thẩm tra của Quốc hội không đồng tình quan điểm này, cho rằng hộ kinh doanh không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp, khi nào đủ điều kiện thì sẽ xây dựng Luật riêng cho hộ kinh doanh.

Nếu thực hiện theo phương án này, việc Luật Doanh nghiệp giao Chính phủ quy định hướng dẫn về hộ kinh doanh sẽ mâu thuẫn với chính quan điểm về phạm vi điều chỉnh của Luật nói trên. Còn nếu thực hiện theo phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp, thì ngay sau khi Luật này có hiệu lực sẽ có khoảng trống pháp lý cho hộ kinh doanh, Nghị định số 78/2015 của Chính phủ sẽ không còn căn cứ pháp lý. Đáng ra, việc luật hóa một số nguyên tắc quản lý hộ kinh doanh từ các quy định hiện hành của Nghị định 78/2015 cần phải được các cơ quan của Quốc hội ủng hộ, nhằm tạo căn cứ pháp lý cho một trong những chủ thể hoạt động kinh doanh về bản chất không khác gì so với doanh nghiệp, sau này nếu cần thiết có thể tách thành luật riêng vào thời điểm phù hợp. Cũng có ý kiến chuyên gia cho rằng nên sửa đổi chương về doanh nghiệp tư nhân thành doanh nghiệp một chủ, thực chất là đó là các cá nhân kinh doanh để làm rõ quyền và trách nhiệm cá nhân đối với các quyết định đầu tư, kinh doanh, không gây hiểu nhầm về hộ kinh doanh như hiện nay.

Khái niệm doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng là vấn đề được phân tích sửa đổi Luật Doanh nghiệp từ năm 2005 (DNNN là doanh nghiệp trên 50% vốn Nhà nước), năm 2014 (DNNN là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước). Đến lần sửa đổi này, các đại biểu Quốc hội vẫn tiếp tục nêu 2 loại quan điểm khác nhau.

Loại quan điểm thứ nhất đề nghị tách riêng 2 loại khái niệm DNNN gồm “doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ” và “doanh nghiệp có sở hữu chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần biểu quyết”.

Loại quan điểm thứ hai đề nghị sử dụng trực tiếp 02 khái niệm “doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ” và “doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết”. Như vậy, cả 2 quan điểm này đều không sử dụng thống nhất một khái niệm DNNN, thay vào đó phải tách bạch các loại khái niệm về doanh nghiệp tùy theo mức độ sở hữu vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp.

Cho dù có tách hay không tách khái niệm DNNN thì nội dung Luật doanh nghiệp cũng đã điều chỉnh riêng các loại doanh nghiệp có mức sở hữu nhà nước khác nhau, phù hợp với đặc thù quản trị của từng loại doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc sử dụng khái niệm DNNN lại có thể được vận dụng ở pháp luật chuyên ngành khác về các cơ chế, chính sách riêng cho DNNN.

Các quy định của Luật Doanh nghiệp về doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp xã hội chưa đi vào cuộc sống nhiều do ít có chính sách khuyến khích cụ thể. Các doanh nghiệp công ích hiện nay phần lớn vẫn là các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp trực thuộc các cơ quan hành chính nhà nước, có cơ chế và thị trường riêng, đang được thực hiện theo Nghị định số 32/2019 về giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu cung cấp sản phẩm dịch vụ công, nên không muốn thay đổi.

Tuy nhiên, muốn nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm của các doanh nghiệp này không có cách nào khác là phải có cơ chế thu hút sự tham gia đầu tư kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng của các thành phần kinh tế khác, tương tự như cổ phần hóa, cải cách DNNN. Vấn đề này chưa được quan tâm, điều chỉnh tại Luật doanh nghiệp. Doanh nghiêp xã hội được quy định trong Luật nhưng hàm lượng chính sách còn rất hạn chế, chưa tìm ra cơ chế bảo đảm doanh nghiệp xã hội hoạt động lâu dài, đúng mục tiêu, vừa hạn chế xin - cho vừa tránh lợi dụng chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp.

Về việc hoàn thiện khung pháp lý về quản trị doanh nghiệp, thì lần sửa đổi nào cũng có rất nhiều ý kiến góp ý cụ thể về địa vụ pháp lý, quyền, nghĩa vụ của các đối tượng tham gia hoạt động doanh nghiệp (người đại diện theo pháp luật, người quản lý doanh nghiệp, Đại hội đồng cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng giám đốc, thành viên Ban kiểm soát/Kiểm soát viên, cổ đông có quyền biểu quyết, cổ đông nhỏ, ...).

Dường như cơ quan soạn thảo không bao giờ có thể thỏa mãn hết tất cả các ý kiến về các vấn đề này, bởi vì các mối quan hệ, quyền và nghĩa vụ của các đối tượng liên quan thường xuyên phát sinh nên không thể quy định cụ thể tất cả các vấn đề. Để giải quyết vấn đề này, Luật Doanh nghiệp chỉ nên quy định các điều cấm, nguyên tắc và quyền, nghĩa vụ cơ bản, còn các quy định cụ thể thì để doanh nghiệp tự quyết định theo Điều lệ công ty, bảo đảm quyền tự chủ của doanh nghiệp. Nếu sửa đổi theo hướng này, Luật Doanh nghiệp sẽ gọn nhẹ hơn nhiều và các đối tượng tham gia doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm theo quy định  pháp luật và theo Điều lệ doanh nghiệp.
                                                                

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


2.2. Về đối tượng dự án phải quyết định chủ trương đầu tư   
a) Nội dung vướng mắc:
Tại điểm a khoản 1 Điều 32 Luật Đầu tư 2014 quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với: “dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu hoặc nhận chuyển nhượng; dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất”.
Đối với dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá, đấu thầu; dự án không có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất (trong đó có các dự án đầu tư bất động sản, nhà ở, khu đô thị) thì chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư.
Đối với các dự án này nếu không bắt buộc phải thực hiện quyết định chủ trương đầu tư là xảy ra tình trạng sử dụng lãng phí đất đai vì Nhà nước sẽ không kiểm soát được các nội dung về mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, tỷ lệ vốn sở hữu của nhà đầu tư, phương án huy động vốn, tiến độ đầu tư, đánh giá tác động… (các nội dung này chưa được xác định đầy đủ và cụ thể khi thực hiện đấu giá, đấu thầu hoặc chuyển nhượng dự án); Nhà nước không quản lý được nguồn cung sản phẩm bất động sản và không thể điều tiết được thị trường bất động sản khi có biến động lớn.
b) Đề xuất: bổ sung đối tượng dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá, đấu thầu hoặc nhận chuyển nhượng; dự án không có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư. Trường hợp để đơn giản hóa thủ tục hành chính, thì có thể lồng ghép thủ tục quyết định chủ trương đầu tư với thủ tục đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất nhưng cần điều chỉnh, bổ sung nội dung thẩm định chủ trương đầu tư vào nội dung thẩm định các điều kiện giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khi đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất.
2.3. Về thẩm định nhu cầu sử dụng đất
a) Nội dung vướng mắc: thời gian thẩm định nhu cầu sử dụng đất trong hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo Luật Đầu tư năm 2014 và thẩm định nhu cầu sử dụng đất trong hồ sơ xác định nhu cầu đất theo pháp luật về đất đai không thống nhất với nhau, cụ thể:
- Theo quy định tại khoản 4 Điều 33 của Luật Đầu tư năm 2014 thì thời gian thẩm định đối với những nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước trong hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư (trong đó có nội dung thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất) là 15 ngày; thời gian thẩm định hồ sơ chủ trương đầu tư là 25 ngày. Tại điểm đ khoản 6 Điều 33 của Luật Đầu tư năm 2014 quy định: “trường hợp có đề xuất giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì thực hiện thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai”,
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của của Luật Đất đai thì thời gian thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là 30 ngày.
b) Đề xuất: quy định về thời gian thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư và hồ sơ xác định nhu cầu đất cần thống nhất để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, thuận tiện trong áp dụng.
- Luật Nhà ở năm 2014 quy định việc lựa chọn chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại được thực hiện thông qua 3 hình thức, trong đó có cả hình thức đấu thầu dự án có sử dụng đất.
-
Luật phòng cháy chữa cháy:
- Sửa Điều 15 của Luật Phòng cháy và chữa cháy theo hướng: Lồng ghép thủ tục cho ý kiến về địa điểm xây dựng đối với công trình có nguy hiểm về cháy, nổ vào thủ tục quyết định chủ trương đầu tư hoặc đăng ký đầu tư; Lồng ghép thủ tục cho ý kiến về giải pháp phòng cháy, chữa cháy vào thủ tục thẩm định dự án/ thiết kế cơ sở; Lồng ghép thủ tục thẩm duyệt về phòng cháy, chữa cháy vào thủ tục thẩm định thiết kế kỹ thuật/ thiết kế bản vẽ thi công.
Luật đấu thầu:
- Bổ sung hình thức thi tuyển, chỉ định (không hạn chế quy mô gói thầu) đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập quy hoạch xây dựng vào Điều 22 của Luật Đấu thầu năm 2013; đồng thời bãi bỏ Điều 11 của Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 để thống nhất thực hiện theo Luật Đấu thầu.
Luật xây dựng
- Sửa đổi, bổ sung Điều 89 theo hướng: (1) bổ sung đối tượng được miễn giấy phép xây dựng, bao gồm: công trình xây dựng thuộc dự án đã có quy hoạch chi tiết 1/500 được phê duyệt và đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định thiết kế xây dựng hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư; một số công trình quảng cáo, công trình quy mô nhỏ khác; (2) thể hiện lại các trường hợp được miễn giấy phép xây dựng để tránh trùng lặp; (3) bổ sung trường hợp cấp giấy phép xây dựng theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
- Khoản 4 Điều 89 Luật Xây dựng, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP đã quy định công trình cấp đặc biệt, cấp I được cấp giấy phép theo giai đoạn khi đã có thiết kế xây dựng được thẩm định. Thực tế nhiều công trình cấp II, cấp III các chủ đầu tư cũng có nhu cầu cấp giấy phép xây dựng theo giai đoạn để phù hợp với quá trình đầu tư và hiệu quả đầu tư. Do vậy, nên quy định cấp giấy phép xây dựng theo giai đoạn cho tất cả các công trình xây dựng nếu chủ đầu tư có nhu cầu thay vì hạn chế cấp công trình được cấp giấy phép theo giai đoạn như hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ đầu tư, góp phần giảm thời gian đầu tư dự án. Nên cần sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 89, khoản 2 Điều 50 theo hướng không giới hạn loại dự án được phân chia dự án thành phần hoặc phân kỳ đầu tư; không hạn chế cấp công trình được cấp giấy phép theo giai đoạn.
- Quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 94 điều kiện cấp giấy phép xây dựng đối với công trình xây dựng có thời hạn phải “phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt” là không khả thi vì về bản chất, những công trình này không phù hợp với quy hoạch xây dựng nên không thể phù hợp với mục đích sử dụng đất và những công trình này chỉ được phép tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định khi Nhà nước chưa thực hiện quy hoạch. Vì vậy, đối với công trình xây dựng có thời hạn thì không yêu cầu phải đáp ứng điều kiện “phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt”.
- Khoản 6 Điều 95 quy định trong thành phần hồ sơ cấp giấy phép xây dựng đối với công trình quảng cáo phải có “bản sao giấy phép hoặc văn bản chấp thuận về sự cần thiết xây dựng và quy mô công trình của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về quảng cáo”, tuy nhiên, Luật Quảng cáo năm 2012 không còn quy định về giấy phép thực hiện quảng cáo nên quy định này là không còn phù hợp.
- Sửa đổi Điều 102 theo hướng giảm thời gian cấp giấy phép xây dựng đối với công trình từ 30 ngày xuống còn 20 ngày.
- Khoản 2 Điều 132, khoản 3 Điều 136 các chỉ tiêu, hệ thống định mức xây dựng, chỉ số giá, giá xây dựng do Nhà nước công bố để chủ đầu tư sử dụng, tham khảo, chủ đầu tư có quyền vận dụng hoặc sửa đổi, hoặc xây dựng định mức mới khi không phù hợp. Tuy nhiên trong thực tế đối với công trình sử dụng vốn ngân sách, nhiều chủ đầu tư, cơ quan tư vấn vẫn áp dụng cứng, hoặc sửa đổi, hoặc lập định mức mới để áp dụng theo hướng có lợi cho mình gây thất thoát, lãng phí ngân sách. Ngoài ra, trong quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, khi thanh tra, kiểm toán về cơ bản vẫn sử dụng hệ thống định mức công bố.
- Điều 62 quy định về hình thức quản lý dự án. Đối với các dự án đầu tư có quy mô lớn hơn 15 tỷ đồng (chủ yếu là phần thiết bị) sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách hoặc vốn khác, theo quy định của Luật Xây dựng thì hình thức quản lý dự án phải thuê tư vấn quản lý dự án.
- Bổ sung giải thích một số thuật ngữ để thuận tiện trong áp dụng vào điểm c khoản 2 Điều 7 theo hướng đối với dự án thực hiện theo hình thức hợp đồng dự án, hợp đồng đối tác công tư, chủ đầu tư là doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư thỏa thuận thành lập theo quy định của pháp luật hoặc là nhà đầu tư (trong trường hợp không thành lập doanh nghiệp dự án).
- Bãi bỏ điểm h khoản 3 Điều 140 nhằm không giới hạn hình thức hợp đồng xây dựng sử dụng vốn nhà nước chỉ áp dụng một số loại hợp đồng
Luật nhà ở và Luật đầu tư: Đề nghị bãi bỏ Điều 171 của Luật Nhà ở; thực hiện thống nhất theo Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công về chấp thuận/quyết định chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Trả giá đắt cho sự mất cảnh giác
Cần có một tờ báo ngày về kinh tế
Thư ký công ty không phải người để sai vặt
Biên chế và hộ khẩu, câu chuyện ở xứ Tây và quê ta
Đổi biển số vàng: đẩy khó cho chủ xe
Luật nào sẽ tháo gỡ vướng mắc môi trường đầu tư?
Lê Văn Hà
Thứ Bảy,  13/6/2020, 09:19 

Luật nào sẽ tháo gỡ vướng mắc môi trường đầu tư?

Lê Văn Hà

(TBKTSG Online) - Theo Chương trình kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV, vào tuần tới, các đại biểu Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua một số luật quan trọng có tác động trong việc tháo gỡ các vướng mắc mội trường đầu tư như Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), Luật Đầu tư (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP)... trước khi đi vào phiên bế mạc chiều ngày 18-6.

Việc điều chỉnh các quy định vướng mắc, khó khăn trong việc thực thi và phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh cần được thực hiện một cách quyết liệt. Ảnh minh họa: TTXVN

Theo rà soát của Bộ Tư pháp, nhiều đạo luật đang có quy định vướng mắc, khó khăn trong việc thực thi và phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở... Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng tổng hợp ý kiến phản ánh của doanh nghiệp từ nhiều năm qua để kiến nghị Chính phủ và Quốc hội xem xét, tháo gỡ, sửa đổi sớm các luật hiện hành.

Đất đai - nơi tập trung nhiều vướng mắc của nhà đầu tư

Một trong những đạo luật nhiều ý kiến phản ánh vướng mắc nhất là Luật Đất đai. Các vướng mắc, bất cập của Luật kéo dài trong thực tế khiến nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn khi thực hiện dự án, nhất là các bất cập về: phân loại đất thuê trả tiền sử dụng đất một lần và đất trả tiền sử dụng đất hàng năm không hợp lý, chưa quy định rõ đất đô thị và đất xây dựng ở đô thị nên có thể dẫn đến quy hoạch đất đô thị, hướng dẫn sử dụng loại đất không minh bạch.

Luật Đất đai hiện hành chưa cho phép người nước ngoài được sở hữu nhà ở cũng là vấn đề gây tranh luận kéo dài. Các trường hợp giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất và không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất chưa rõ ràng khi nào áp dụng Luật Đất đai, khi nào áp dụng Luật Đấu thầu; chưa rõ ràng về thời điểm, cách thức xác định nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp đấu thầu dự án có sử dụng đất; chưa có quy định cụ thể, thống nhất giữa các trường hợp đấu thầu dự án có sử dụng đất để lựa chọn chủ đầu tư theo pháp luật về đấu thầu với các trường hợp giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đất đai...

Luật Đất đai và Luật Đầu tư cũng chưa có sự thống nhất về thời gian được giãn tiến độ đầu tư và thời gian được gia hạn tiến độ sử dụng đất: Luật Đất đai quy định dự án đầu tư có thể được sử dụng đất chậm đến 48 tháng (gồm thời gian chậm 24 tháng và thời gian gia hạn 24 tháng), còn Luật Đầu tư quy định tổng thời gian giãn tiến độ đầu tư không quá 24 tháng, nên nhà đầu tư băn khoăn không biết thực hiện theo quy định nào?

Luật Đất đai cũng chưa luật hóa cụ thể các quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt đã được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều này cũng dẫn đến hạn chế các giao dịch dân sự như trao đổi, chuyển nhượng, cũng như thu tiền sử dụng đất đối với quyền khai thác không gian để phát triển đô thị một cách hiệu quả đồng thời tăng nguồn thu cho các đô thị.

Một trong những quy định khiến nhà đầu tư sợ hãi nhất là trường hợp phải thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng tại Luật Đất đai, bởi vì có nhiều trường hợp đấu thầu dự án, sau khi trúng thầu, chủ đầu tư cũng phải tự đi thương lượng, đền bù đất. Một số dự án đã đền bù đến trên 90% diện tích đất nhưng không thể đạt được thỏa thuận đền bù đối với diện tích đất còn lại dẫn đến không triển khai được dự án và khiếu kiện về đất đai kéo dài. Cần làm rõ trong trường hợp này thì trách nhiệm của các Nhà nước đến đâu, trường hợp không thể thương lượng được, Nhà nước có thể đứng ra thu hồi phần diện tích đất còn lại để khích lệ được các nhà đầu tư thực hiện dự án, tăng tính khả thi đối với các dự án có quy mô sử dụng đất lớn.

Việc xác định ranh giới vùng phụ cận dự án nếu không quy định rõ ràng trong Luật thì sẽ còn nhiều khiếu kiện tương tự như dự án Thủ Thiêm. Từ việc nở rộ các khu đô thị lớn ở các đô thị trong những năm gần đây cho thấy, đối với các dự án khu đô thị thuộc diện thu hồi đất, Nhà nước gần như không có đủ tiềm lực tài chính để thực hiện và dựa hoàn toàn vào nguồn lực từ chính nhà đầu tư dự án. Trong trường này, Nhà nước cần tăng cường kiểm soát quy hoạch đô thị, quy hoạch chi tiết để quản lý chất lượng đô thị của các khu đô thị lớn để bảo đảm quản lý tổng thể, không phụ thuộc quá nhiều vào đề xuất của nhà đầu tư.

Chính các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng lúng túng khi xác định thẩm quyền thu hồi đất, quyết định đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đất đai và Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công. Luật Đất đai quy định căn cứ vào thẩm quyết quyết định đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, căn cứ quy định của Luật Đầu tư và Luật Đầu tư công, thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư có sự thay đổi (ngoài Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ còn có thẩm quyền của Chính phủ, Bộ trưởng,...) nên khó xác định chính xác các trường hợp thu hồi đất để thực hiện các dự án do Chính phủ hoặc Bộ trưởng quyết định.

Việc lựa chọn chủ đầu tư dự án các luật cũng quy định khác nhau: Luật Đất đai quy định nếu nhà đầu tư đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 58 Luật Đất đai thì được Nhà nước xem xét quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; Luật Đầu tư quy định chỉ định chủ đầu tư trong trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Trong khi đó, Luật Nhà ở quy định chỉ chỉ định chủ đầu tư trong trường hợp chủ đầu tư có đất ở hợp pháp.

Còn rất nhiều quy định cụ thể khác của Luật Đất đai cần được rà soát và đánh giá việc thi hành Luật trên thực tế. Tuy nhiên, rất tiếc là một lần nữa việc sửa đổi Luật Đất đai lại “lỡ hẹn” chưa được xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 9 của Quốc hội và chưa biết đến bao giờ các bất cập nói trên sẽ được xem xét, sửa đổi.

Có tháo gỡ triệt để vướng mắc trong môi trường đầu tư

Một đạo luật được coi là “luật gốc” về đầu tư cho tất cả các lĩnh vực kinh tế là Luật Đầu tư đang được Quốc hội xem xét để thông qua tại Kỳ họp thứ 9 này, theo dự kiến là vào ngày 17-6. Lần này việc sửa đổi Luật đã tháo gỡ được một số vướng mắc về: làm rõ nguyên tắc áp dụng Luật Đầu tư với các luật có liên quan đến đầu tư như: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật Hàng không, Luật Hàng hải, Luật Xây dựng, Luật Đất đai; làm rõ căn cứ để điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; bổ sung một số hình thức ưu đãi và hỗ trợ đầu tư phù hợp với thực tế; bổ sung một số ngành nghề được ưu đãi đầu tư; bổ sung cả trường hợp ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt đối với các dự án đầu tư có tác động lớn đến kinh tế - xã hội; quy định rõ các trường hợp lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án; điều kiện được điều chỉnh dự án rõ ràng, chặt chẽ hơn quy định hiện hành....

Mặc dù có nhiều sửa đổi được đánh giá là hoàn thiện hơn so với hiện hành, nhưng một số vướng mắc của Luật Đầu tư vẫn khiến nhà đầu tư lo ngại. Ví dụ như: quy định “nhà đầu tư bị đình chỉ, ngừng, chấm dứt hoạt động đầu tư kinh doanh nếu hoạt động gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia”, nhưng không rõ thế nào là “gây phương hại”.

Về nghĩa vụ pháp lý, nhà đầu tư chỉ bị cơ quan có thẩm quyền xử lý khi vi phạm các thủ tục, điều kiện, nghĩa vụ được pháp luật quy định cụ thể. Trong khi các ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện được quy định thành Danh mục cụ thể trong Luật (Danh mục này được Quốc hội thường xuyên cập nhật, sửa đổi), nhưng các ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường lại không được quy định cụ thể trong Luật mà giao cho Chính phủ quy định Danh mục, khiến cho nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư lâu dài tại Việt Nam băn khoăn về tính ổn định của Danh mục này.

Nội dung ưu đãi đầu tư trong Luật Đầu tư thực chất chỉ có ưu đãi về đất đai và về thuế, nhưng Luật Đất đai thì chưa sửa, ưu đãi về thuế thì quy định riêng ở các luật về thuế. Một trong những điểm mới sửa đổi là ưu đãi cho dự án đầu tư có quy mô vốn từ 6.000 tỉ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 6.000 tỉ đồng trong thời hạn 3 năm có doanh thu tối thiểu đạt 10.000 tỉ đồng/năm trong thời gian chậm chất sau 3 năm kể từ năm có doanh thu hoặc sử dụng trên 3.000 lao động. Quy định cụ thể tiêu chí ưu đãi như vậy nhưng thực tế việc đánh giá doanh nghiệp thực hiện các tiêu chí hưởng ưu đãi như thế nào không dễ dàng, vì các kết quả hoạt động của doanh nghiệp thường xuyên biến động, doanh nghiệp có thể đạt tiêu chí ưu đãi trong thời gian rất ngắn, đúng thời điểm ưu đãi, nhưng sau đó lại không đạt yêu cầu được ưu đãi, do vậy nên quy định ưu đãi có thời hạn, theo phân kỳ đầu tư của dự án để bảo đảm tính khả thi.

Việc quy định bảo đảm ưu đãi đầu tư khi thay đổi pháp luật là cần thiết để nhà đầu tư yên tâm, nhưng các nhà đầu tư cần được bảo đảm tất cả các quyền lợi hợp pháp tại thời điểm đăng ký đầu tư và bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc của Luật đầu tư về quyền lợi của nhà đầu tư cần được thực hiện nhất quán từ khi bắt đầu đến khi kết thúc dự án. Đây là một trong những nguyên tắc của Luật Đầu tư mà nhà đầu tư lo ngại có thể bị phá vỡ do quy định pháp luật khác ban hành sau Luật Đầu tư.

Một trong những quy định cũng còn ý kiến khác nhau là ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt được giao Chính phủ quyết định với mức ưu đãi không vượt quá 50% mức ưu đãi hiện hành; thời hạn ưu đãi tối đa không vượt quá 50% thời gian theo quy định hiện hành. Mức ưu đãi tối đa như vậy có thể vượt mức ưu đãi cao nhất của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Đất đai hiện hành. Cần có cơ chế, chính sách đầu tư để thu hút những nhà đầu tư lớn như Samsung để thúc đẩy môi trường đầu tư hấp dẫn những “con cá lớn” tìm đến Việt Nam. Nhưng nếu các luật quy định không thống nhất thì sẽ khó khăn khi người quyết định chủ trương cho các dự án lớn này sẽ áp dụng luật nào.

Một hệ thống cơ sở dữ liệu theo dõi đầy đủ hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ giúp việc lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, nộp thuế, chuẩn bị các hoạt động đầu tư dự án... sẽ càng minh bạch hơn. Ảnh minh họa: TTXVN

Việc Nhà nước có nên quyết định chủ trương đầu tư đối với vốn của tư nhân hay không cũng là vấn đề được tranh luận nhiều. Mặc dù, dự thảo Luật đã thu hẹp phạm vi các đối tượng phải xin ý kiến chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng, nhưng vẫn còn đến 8 loại dự án phải có ý kiến của Thủ tướng mới được tiến hành thủ tục đầu tư, ví dụ như: dự án trong lĩnh vực dầu khí, hàng không, cảng biển, sân bay, casino, dự án có vốn trên 10.000 tỉ đồng bất kể lĩnh vực nào (quy định hiện hành là 5.000 tỉ); dự án khu đô thị dưới 50 ha, có dân số 15.000 người, dưới 100 ha có dân số 10.000 người, dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp,...

Những dự án kiểu này sẽ ngày càng nhiều, nên con số dự án phải xin ý kiến Thủ tướng có thể lên đến hàng trăm dự án mỗi năm với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay. Việc này có cần thiết không khi tư nhân bỏ rất nhiều vốn, tâm sức để đầu tư dự án và trải qua một thời gian dài để được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, chấp thuận bằng rất nhiều giấy phép đầu tư khi bảo đảm tuân thủ quy hoạch và các điều kiện đầu tư kinh doanh theo quy định pháp luật. Do vậy, việc xem xét chủ trương đầu tư và quyết định được phép kinh doanh sẽ trùng lặp.

Tương tự như vậy, ở cấp tỉnh, UBND xem xét, chấp thuận chủ trương đầu tư dự án và chỉ 5 ngày sau cơ quan đăng ký đầu tư cấp phép đầu tư cho dự án với các nội dung đúng như nội dung chấp thuận chủ trương đầu tư.

Việc quy định UBND cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư dự án sau khi xem xét về tất cả các nội dung liên quan đến đất đai, quy hoạch chuyên ngành, ưu đãi đầu tư, công nghệ, môi trường, tác động và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án thường bị kéo dài hơn so với quy định là 50 ngày do việc chờ lấy đủ ý kiến của các cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương. Nhiều trường hợp các sở ngành địa phương lại hỏi ý kiến các cơ quan trung ương, nên việc tổng hợp các ý kiến để có ý kiến thẩm định, quyết định cuối cùng thường rất chậm, có dự án kéo dài vài năm, thậm chí hàng chục năm như dự án khai thác khoáng sản Duy Tân tại Phú Yên.

Đối với đầu tư nước ngoài lần đầu đến Việt Nam, vấn đề gây tranh cãi từ khi sửa đổi Luật đầu tư năm 2014 là nên cấp phép thành lập cho doanh nghiệp trước hay xem xét, cấp phép dự án đầu tư trước vẫn được các Đại biểu Quốc hội nêu ra lần này. Nhưng cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra của Quốc hội vẫn giữ quan điểm cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước khi thành lập doanh nghiệp nhằm thu hút đầu tư có chọn lọc khi xem xét dự án về địa điểm, tài nguyên, năng lượng, lao động, công nghệ... Dường như cơ quan đăng ký đầu tư vẫn muốn “nắm đằng chuôi”, chưa tin tưởng nhà đầu tư được thành lập doanh nghiệp khi chưa có dự án đầu tư.

Vấn đề này sẽ được giải tỏa nếu có một hệ thống cơ sở dữ liệu theo dõi đầy đủ hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam, thì việc lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, nộp thuế, chuẩn bị các hoạt động đầu tư dự án, có thể tiến hành nhiều dự án cùng một lúc càng minh bạch hơn, còn như hiện nay, nhà đầu tư phải xin cấp phép từng dự án, sau đó lại xin phép nhiều lần nếu muốn mở rộng đầu tư kinh doanh. Tiếc là đến nay hệ thống cơ sở dữ liệu của cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan đăng ký đầu tư vẫn độc lập với nhau, dù cùng thuộc Bộ Kế họach và Đầu tư.

Tuy nhiên, tại báo cáo thẩm tra của Quốc hội lại cho rằng, để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo không yêu cầu phải có dự án đầu tư khi đến Việt Nam. Lập luận này dường như mâu thuẫn với quan điểm quản lý nhà đầu tư nước ngoài nêu trên, chứng tỏ chưa có sự nhất quán với chủ trương của Đảng về thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài, đón sóng dịch chuyển của các nhà đầu tư trong bối cảnh chiến tranh thương mại và hậu dịch Covid-19.

Mặc dù đã đi đến chỉnh lý dự thảo Luật cuối cùng, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề lớn của Luật Đầu tư chưa được giải quyết triệt để, các cơ quan của Quốc hội sẽ giải trình nhiều vấn đề trước khi Quốc hội bỏ phiếu vào ngày 17 tháng 6 tới đây.

Để tiếp tục tinh thần 'cởi trói', tạo thuận lợi cho doanh nghiệp

Trong những lần sửa đổi trước năm 2005, 2014, Luật Doanh nghiệp thường được chú ý là một điểm sáng về đổi mới tư duy, cải cách thể chế kinh tế nổi bật theo hướng tháo gỡ, cởi trói, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và hoạt động. Tuy nhiên, lần sửa đổi này, có vẻ khá dè dặt khi Chính phủ ban đầu chỉ đề nghị sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi thảo luận tại Quốc hội, có rất nhiều vấn đề được tiếp tục mổ xẻ, phân tích những bất cập cần phải hoàn thiện.

Một trong những vấn đề được tranh luận nhiều nhất là có nên bổ sung các quy định về hộ kinh doanh trong Luật hay không. Chính phủ cho rằng nên có cơ chế pháp lý rõ ràng hơn cho hộ kinh doanh để tạo khuôn khổ pháp lý cho hộ kinh doanh có quy mô nhỏ nhanh chóng ra đời, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có cơ chế khuyến khích phát triển hộ kinh doanh, xóa bỏ hạn chế quyền kinh doanh đối với hộ kinh doanh, không hạn chế địa bàn của hộ kinh doanh, làm rõ trách nhiệm và quyền của chủ hộ kinh doanh, thủ tục chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp... Tuy nhiên, các cơ quan thẩm tra của Quốc hội không đồng tình quan điểm này, cho rằng hộ kinh doanh không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp, khi nào đủ điều kiện thì sẽ xây dựng Luật riêng cho hộ kinh doanh.

Nếu thực hiện theo phương án này, việc Luật Doanh nghiệp giao Chính phủ quy định hướng dẫn về hộ kinh doanh sẽ mâu thuẫn với chính quan điểm về phạm vi điều chỉnh của Luật nói trên. Còn nếu thực hiện theo phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp, thì ngay sau khi Luật này có hiệu lực sẽ có khoảng trống pháp lý cho hộ kinh doanh, Nghị định số 78/2015 của Chính phủ sẽ không còn căn cứ pháp lý. Đáng ra, việc luật hóa một số nguyên tắc quản lý hộ kinh doanh từ các quy định hiện hành của Nghị định 78/2015 cần phải được các cơ quan của Quốc hội ủng hộ, nhằm tạo căn cứ pháp lý cho một trong những chủ thể hoạt động kinh doanh về bản chất không khác gì so với doanh nghiệp, sau này nếu cần thiết có thể tách thành luật riêng vào thời điểm phù hợp. Cũng có ý kiến chuyên gia cho rằng nên sửa đổi chương về doanh nghiệp tư nhân thành doanh nghiệp một chủ, thực chất là đó là các cá nhân kinh doanh để làm rõ quyền và trách nhiệm cá nhân đối với các quyết định đầu tư, kinh doanh, không gây hiểu nhầm về hộ kinh doanh như hiện nay.

Khái niệm doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng là vấn đề được phân tích sửa đổi Luật Doanh nghiệp từ năm 2005 (DNNN là doanh nghiệp trên 50% vốn Nhà nước), năm 2014 (DNNN là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước). Đến lần sửa đổi này, các đại biểu Quốc hội vẫn tiếp tục nêu 2 loại quan điểm khác nhau.

Loại quan điểm thứ nhất đề nghị tách riêng 2 loại khái niệm DNNN gồm “doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ” và “doanh nghiệp có sở hữu chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần biểu quyết”.

Loại quan điểm thứ hai đề nghị sử dụng trực tiếp 02 khái niệm “doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ” và “doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết”. Như vậy, cả 2 quan điểm này đều không sử dụng thống nhất một khái niệm DNNN, thay vào đó phải tách bạch các loại khái niệm về doanh nghiệp tùy theo mức độ sở hữu vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp.

Cho dù có tách hay không tách khái niệm DNNN thì nội dung Luật doanh nghiệp cũng đã điều chỉnh riêng các loại doanh nghiệp có mức sở hữu nhà nước khác nhau, phù hợp với đặc thù quản trị của từng loại doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc sử dụng khái niệm DNNN lại có thể được vận dụng ở pháp luật chuyên ngành khác về các cơ chế, chính sách riêng cho DNNN.

Các quy định của Luật Doanh nghiệp về doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp xã hội chưa đi vào cuộc sống nhiều do ít có chính sách khuyến khích cụ thể. Các doanh nghiệp công ích hiện nay phần lớn vẫn là các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp trực thuộc các cơ quan hành chính nhà nước, có cơ chế và thị trường riêng, đang được thực hiện theo Nghị định số 32/2019 về giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu cung cấp sản phẩm dịch vụ công, nên không muốn thay đổi.

Tuy nhiên, muốn nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm của các doanh nghiệp này không có cách nào khác là phải có cơ chế thu hút sự tham gia đầu tư kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng của các thành phần kinh tế khác, tương tự như cổ phần hóa, cải cách DNNN. Vấn đề này chưa được quan tâm, điều chỉnh tại Luật doanh nghiệp. Doanh nghiêp xã hội được quy định trong Luật nhưng hàm lượng chính sách còn rất hạn chế, chưa tìm ra cơ chế bảo đảm doanh nghiệp xã hội hoạt động lâu dài, đúng mục tiêu, vừa hạn chế xin - cho vừa tránh lợi dụng chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp.

Về việc hoàn thiện khung pháp lý về quản trị doanh nghiệp, thì lần sửa đổi nào cũng có rất nhiều ý kiến góp ý cụ thể về địa vụ pháp lý, quyền, nghĩa vụ của các đối tượng tham gia hoạt động doanh nghiệp (người đại diện theo pháp luật, người quản lý doanh nghiệp, Đại hội đồng cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng giám đốc, thành viên Ban kiểm soát/Kiểm soát viên, cổ đông có quyền biểu quyết, cổ đông nhỏ, ...).

Dường như cơ quan soạn thảo không bao giờ có thể thỏa mãn hết tất cả các ý kiến về các vấn đề này, bởi vì các mối quan hệ, quyền và nghĩa vụ của các đối tượng liên quan thường xuyên phát sinh nên không thể quy định cụ thể tất cả các vấn đề. Để giải quyết vấn đề này, Luật Doanh nghiệp chỉ nên quy định các điều cấm, nguyên tắc và quyền, nghĩa vụ cơ bản, còn các quy định cụ thể thì để doanh nghiệp tự quyết định theo Điều lệ công ty, bảo đảm quyền tự chủ của doanh nghiệp. Nếu sửa đổi theo hướng này, Luật Doanh nghiệp sẽ gọn nhẹ hơn nhiều và các đối tượng tham gia doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm theo quy định  pháp luật và theo Điều lệ doanh nghiệp.
                                                                

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


2.2. Về đối tượng dự án phải quyết định chủ trương đầu tư   
a) Nội dung vướng mắc:
Tại điểm a khoản 1 Điều 32 Luật Đầu tư 2014 quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với: “dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu hoặc nhận chuyển nhượng; dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất”.
Đối với dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá, đấu thầu; dự án không có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất (trong đó có các dự án đầu tư bất động sản, nhà ở, khu đô thị) thì chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư.
Đối với các dự án này nếu không bắt buộc phải thực hiện quyết định chủ trương đầu tư là xảy ra tình trạng sử dụng lãng phí đất đai vì Nhà nước sẽ không kiểm soát được các nội dung về mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, tỷ lệ vốn sở hữu của nhà đầu tư, phương án huy động vốn, tiến độ đầu tư, đánh giá tác động… (các nội dung này chưa được xác định đầy đủ và cụ thể khi thực hiện đấu giá, đấu thầu hoặc chuyển nhượng dự án); Nhà nước không quản lý được nguồn cung sản phẩm bất động sản và không thể điều tiết được thị trường bất động sản khi có biến động lớn.
b) Đề xuất: bổ sung đối tượng dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá, đấu thầu hoặc nhận chuyển nhượng; dự án không có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư. Trường hợp để đơn giản hóa thủ tục hành chính, thì có thể lồng ghép thủ tục quyết định chủ trương đầu tư với thủ tục đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất nhưng cần điều chỉnh, bổ sung nội dung thẩm định chủ trương đầu tư vào nội dung thẩm định các điều kiện giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khi đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất.
2.3. Về thẩm định nhu cầu sử dụng đất
a) Nội dung vướng mắc: thời gian thẩm định nhu cầu sử dụng đất trong hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo Luật Đầu tư năm 2014 và thẩm định nhu cầu sử dụng đất trong hồ sơ xác định nhu cầu đất theo pháp luật về đất đai không thống nhất với nhau, cụ thể:
- Theo quy định tại khoản 4 Điều 33 của Luật Đầu tư năm 2014 thì thời gian thẩm định đối với những nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước trong hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư (trong đó có nội dung thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất) là 15 ngày; thời gian thẩm định hồ sơ chủ trương đầu tư là 25 ngày. Tại điểm đ khoản 6 Điều 33 của Luật Đầu tư năm 2014 quy định: “trường hợp có đề xuất giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì thực hiện thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai”,
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của của Luật Đất đai thì thời gian thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là 30 ngày.
b) Đề xuất: quy định về thời gian thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư và hồ sơ xác định nhu cầu đất cần thống nhất để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, thuận tiện trong áp dụng.
- Luật Nhà ở năm 2014 quy định việc lựa chọn chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thương mại được thực hiện thông qua 3 hình thức, trong đó có cả hình thức đấu thầu dự án có sử dụng đất.
-
Luật phòng cháy chữa cháy:
- Sửa Điều 15 của Luật Phòng cháy và chữa cháy theo hướng: Lồng ghép thủ tục cho ý kiến về địa điểm xây dựng đối với công trình có nguy hiểm về cháy, nổ vào thủ tục quyết định chủ trương đầu tư hoặc đăng ký đầu tư; Lồng ghép thủ tục cho ý kiến về giải pháp phòng cháy, chữa cháy vào thủ tục thẩm định dự án/ thiết kế cơ sở; Lồng ghép thủ tục thẩm duyệt về phòng cháy, chữa cháy vào thủ tục thẩm định thiết kế kỹ thuật/ thiết kế bản vẽ thi công.
Luật đấu thầu:
- Bổ sung hình thức thi tuyển, chỉ định (không hạn chế quy mô gói thầu) đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập quy hoạch xây dựng vào Điều 22 của Luật Đấu thầu năm 2013; đồng thời bãi bỏ Điều 11 của Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 để thống nhất thực hiện theo Luật Đấu thầu.
Luật xây dựng
- Sửa đổi, bổ sung Điều 89 theo hướng: (1) bổ sung đối tượng được miễn giấy phép xây dựng, bao gồm: công trình xây dựng thuộc dự án đã có quy hoạch chi tiết 1/500 được phê duyệt và đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định thiết kế xây dựng hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư; một số công trình quảng cáo, công trình quy mô nhỏ khác; (2) thể hiện lại các trường hợp được miễn giấy phép xây dựng để tránh trùng lặp; (3) bổ sung trường hợp cấp giấy phép xây dựng theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
- Khoản 4 Điều 89 Luật Xây dựng, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP đã quy định công trình cấp đặc biệt, cấp I được cấp giấy phép theo giai đoạn khi đã có thiết kế xây dựng được thẩm định. Thực tế nhiều công trình cấp II, cấp III các chủ đầu tư cũng có nhu cầu cấp giấy phép xây dựng theo giai đoạn để phù hợp với quá trình đầu tư và hiệu quả đầu tư. Do vậy, nên quy định cấp giấy phép xây dựng theo giai đoạn cho tất cả các công trình xây dựng nếu chủ đầu tư có nhu cầu thay vì hạn chế cấp công trình được cấp giấy phép theo giai đoạn như hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ đầu tư, góp phần giảm thời gian đầu tư dự án. Nên cần sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 89, khoản 2 Điều 50 theo hướng không giới hạn loại dự án được phân chia dự án thành phần hoặc phân kỳ đầu tư; không hạn chế cấp công trình được cấp giấy phép theo giai đoạn.
- Quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 94 điều kiện cấp giấy phép xây dựng đối với công trình xây dựng có thời hạn phải “phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt” là không khả thi vì về bản chất, những công trình này không phù hợp với quy hoạch xây dựng nên không thể phù hợp với mục đích sử dụng đất và những công trình này chỉ được phép tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định khi Nhà nước chưa thực hiện quy hoạch. Vì vậy, đối với công trình xây dựng có thời hạn thì không yêu cầu phải đáp ứng điều kiện “phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt”.
- Khoản 6 Điều 95 quy định trong thành phần hồ sơ cấp giấy phép xây dựng đối với công trình quảng cáo phải có “bản sao giấy phép hoặc văn bản chấp thuận về sự cần thiết xây dựng và quy mô công trình của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về quảng cáo”, tuy nhiên, Luật Quảng cáo năm 2012 không còn quy định về giấy phép thực hiện quảng cáo nên quy định này là không còn phù hợp.
- Sửa đổi Điều 102 theo hướng giảm thời gian cấp giấy phép xây dựng đối với công trình từ 30 ngày xuống còn 20 ngày.
- Khoản 2 Điều 132, khoản 3 Điều 136 các chỉ tiêu, hệ thống định mức xây dựng, chỉ số giá, giá xây dựng do Nhà nước công bố để chủ đầu tư sử dụng, tham khảo, chủ đầu tư có quyền vận dụng hoặc sửa đổi, hoặc xây dựng định mức mới khi không phù hợp. Tuy nhiên trong thực tế đối với công trình sử dụng vốn ngân sách, nhiều chủ đầu tư, cơ quan tư vấn vẫn áp dụng cứng, hoặc sửa đổi, hoặc lập định mức mới để áp dụng theo hướng có lợi cho mình gây thất thoát, lãng phí ngân sách. Ngoài ra, trong quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, khi thanh tra, kiểm toán về cơ bản vẫn sử dụng hệ thống định mức công bố.
- Điều 62 quy định về hình thức quản lý dự án. Đối với các dự án đầu tư có quy mô lớn hơn 15 tỷ đồng (chủ yếu là phần thiết bị) sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách hoặc vốn khác, theo quy định của Luật Xây dựng thì hình thức quản lý dự án phải thuê tư vấn quản lý dự án.
- Bổ sung giải thích một số thuật ngữ để thuận tiện trong áp dụng vào điểm c khoản 2 Điều 7 theo hướng đối với dự án thực hiện theo hình thức hợp đồng dự án, hợp đồng đối tác công tư, chủ đầu tư là doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư thỏa thuận thành lập theo quy định của pháp luật hoặc là nhà đầu tư (trong trường hợp không thành lập doanh nghiệp dự án).
- Bãi bỏ điểm h khoản 3 Điều 140 nhằm không giới hạn hình thức hợp đồng xây dựng sử dụng vốn nhà nước chỉ áp dụng một số loại hợp đồng
Luật nhà ở và Luật đầu tư: Đề nghị bãi bỏ Điều 171 của Luật Nhà ở; thực hiện thống nhất theo Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công về chấp thuận/quyết định chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
TIN BÀI KHÁC  
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập phụ trách online: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung, Minh Châu.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.