Mobile Area

Để hợp đồng lao động điện tử thành một quy định 'sống'

Chủ Nhật,  21/6/2020, 20:52 
Nguyễn Thị Kim Thanh (*)

Để hợp đồng lao động điện tử thành một quy định 'sống'

Nguyễn Thị Kim Thanh (*)

(TBKTSG) - Bộ luật Lao động 2019 (BLLĐ 2019) lần đầu tiên đã ghi nhận hợp đồng lao động điện tử qua điều 14.1: “Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản”.

Trong phạm vi bài này, người viết không đi sâu phân tích về việc áp dụng hợp đồng lao động điện tử như thế nào mà hướng đến khả năng áp dụng quy định này trong bối cảnh hiện nay.

Hợp đồng lao động: nhiều điểm mới doanh nghiệp cần lưu ý

“Điện tử” khoảng 10 năm về trước có thể chỉ được xem là sân chơi của khối “tư nhân tân tiến” thì ngày nay đã là xu thế phát triển của thời đại. Mọi hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội đang dịch chuyển sang “điện tử”.

Bên cạnh 65 dịch vụ công trực tuyến được triển khai và hoàn thành trong năm 2020 gồm hầu hết danh mục thuộc quản lý của các bộ ngành khác nhau, gần đây ngành giáo dục “buộc” phải chuyển đổi sang “giáo dục điện tử - trực tuyến” để thích ứng với điều kiện áp dụng các biện pháp cách ly, giãn cách xã hội trong thời gian dài vì đại dịch Covid 19.

“Điện tử” đã lặng lẽ đi vào mọi ngóc ngách của đời sống và biến đổi theo cách riêng của nó hoặc buộc người ta phải lựa chọn nó mà không còn cách nào khác khả dĩ hơn!

Quan hệ giao dịch, việc làm cũng không thể nằm ngoài xu thế điện tử hóa và việc phát triển trong tương lai ắt hẳn cũng gắn với “điện tử”. Có thể thấy việc áp dụng hợp đồng lao động bằng hình thức thông điệp dữ liệu trên Internet là có cơ sở và mang lại nhiều thuận lợi như:

- Kết nối và giao dịch một cách nhanh chóng, đặc biệt thuận lợi cho việc sử dụng lao động “xuyên biên giới” trong các ngành mà công việc không đòi hỏi sự hiện diện của người lao động tại một nơi làm việc cố định;

- Đảm bảo sự chính xác, hạn chế việc can thiệp vào dữ liệu;

- Giảm công việc hành chính cồng kềnh, giảm gánh nặng về không gian, cơ sở vật chất để lưu trữ, bảo quản hợp đồng và tài liệu;

- Tiết kiệm một khoản tài chính đáng kể liên quan đến việc in hợp đồng để ký và lưu trữ;

- Giúp cho việc quản lý nhân sự được thông minh, minh bạch hơn; việc truy xuất, sử dụng dữ liệu cũng thuận tiện hơn.

Điều 15.1 Bộ luật Lao động (BLLĐ) 2019 quy định nguyên tắc khi giao kết hợp đồng là “tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Tự nguyện là nguyên tắc cơ bản nhất của quan hệ lao động và cũng phản ánh rõ nhất quyền hiến định của công dân về quyền làm việc.

Tự nguyện được hiểu là các bên đồng thuận xác lập quan hệ làm việc với vị trí công việc, lương, các chế độ, nghĩa vụ và quyền lợi tương ứng. BLLĐ 2019 đã bổ sung thêm một lựa chọn là xác lập quan hệ lao động bằng hợp đồng lao động điện tử bên cạnh hình thức truyền thống là văn bản giấy.

Do vậy, nguyên tắc tự nguyện trong giao kết hợp đồng còn thể hiện ở khía cạnh các bên đồng thuận chọn hình thức của hợp đồng lao động là điện tử.

Thực tế là không phải người lao động nào cũng được tiếp cận với công nghệ, máy tính, mạng Internet, điển hình là lực lượng công nhân sản xuất, xây dựng, khai thác..., chưa kể đến mặt bằng chung về trình độ học vấn của các lao động này không cao.

Do vậy dường như các khái niệm về chữ ký điện tử, thông điệp dữ liệu là khá lạ lẫm đối với họ. Bên cạnh đó, một trong những thách thức lớn nhất theo quan điểm của người viết là cần sự đầu tư (về nguồn lực, tài chính) từ phía người sử dụng lao động trong xây dựng, vận hành hệ thống hợp đồng lao động điện tử trong bối cảnh Việt Nam có đến 98,1% các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.

Có thể sẽ tồn tại một bộ phận không mấy “mặn mà” với sự đổi mới này, hợp đồng giấy truyền thống vẫn nhanh chóng, tiện lợi mà không cần phải đầu tư thêm gì.

Ở nước phát triển như Singapore, đạo luật về giao dịch điện tử ra đời lần đầu năm 1998. Phiên bản 2010 (ETA 2010) quy định về giao tiếp, thỏa thuận và chữ ký điện tử, theo đó hợp đồng điện tử và chữ ký điện tử được coi là có giá trị pháp lý và được sử dụng rộng rãi từ lĩnh vực thương mại, lao động (hợp đồng lao động, thỏa thuận bảo mật thông tin...), sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở các quy định trên, đã có nhiều dịch vụ cung cấp nền tảng giao kết và chữ ký điện tử cho việc thực hiện ETA 2010.

Ở Việt Nam, với quy định lần đầu này tại BLLĐ 2019 thì các bên có liên quan cần chuẩn bị những gì để triển khai áp dụng?

Về phía cơ quan quản lý nhà nước: Sau khi Luật Giao dịch điện tử 2005 có hiệu lực, các cơ quan quản lý chuyên ngành đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện liên quan đến nhiều lĩnh vực như ngân hàng, thuế, kinh doanh thương mại, lưu trữ tài liệu điện tử.

Không nằm ngoài xu hướng trên, người viết cho rằng sau khi BLLĐ 2019 được ban hành thì cơ quan quản lý cũng lên kế hoạch ban hành các văn bản hướng dẫn, áp dụng đặc thù cho lĩnh vực lao động, có tính đến việc triển khai thực hiện và các cơ chế quản lý phù hợp với sự đổi mới của hình thức hợp đồng lao động điện tử.

Về phía người sử dụng lao động: có thể được xem là chủ thể giữ vai trò chủ động trong “cuộc chơi đổi mới” này. Trong giai đoạn chờ hướng dẫn áp dụng pháp luật từ cơ quan Nhà Nước, người sử dụng lao động có thể cân nhắc đưa chủ đề này vào chương trình mục tiêu chuyển đổi dài hạn để có định hướng hành động phù hợp, kịp thời từ bây giờ. Một trong những việc có thể tiến hành ngay là trang bị (nâng cấp) các thiết bị cơ bản như máy tính, phương tiện lưu trữ thông tin, hạ tầng kết nối Intetnet thông suốt và an toàn.

Đồng thời, cần lên kế hoạch thiết kế nền tảng ứng dụng về hợp đồng điện tử nói chung và hợp đồng lao động điện tử nói riêng áp dụng cho doanh nghiệp mình. Một phương án khác là doanh nghiệp có thể chờ một nền tảng chung được phát triển bởi bên thứ ba có thể là tổ chức cung cấp dịch vụ hoặc cơ quan quản lý trong tương lai. Tuy vậy, việc chờ đợi, phụ thuộc vào bên thứ ba sẽ làm mất đi tính chủ động, trì hoãn sự thay đổi và có thể làm giảm giá trị doanh nghiệp.

Sự đổi mới cũng đặt ra thách thức về quản lý, do vậy, doanh nghiệp cũng cần xây dựng chính sách nội bộ để triển khai áp dụng hợp đồng lao động điện tử, huấn luyện cho người lao động về chính sách, hướng dẫn nhân sự phụ trách sử dụng, quản lý và giám sát hệ thống.

Về phía người lao động: Một bộ phận lớn hiện nay còn xa lạ với khái niệm “phương tiện điện tử”, “thông điệp dữ liệu”, chưa kể đến tâm lý chọn an toàn, ngại thay đổi hoặc khi bị bắt buộc thay đổi thì cũng không mặn mà tìm hiểu. Do vậy, việc phổ biến, nâng cao nhận thức và kỹ năng tương tác thông qua các phương tiện điện tử của người lao động ở mọi ngành nghề trên không gian mạng là tiền đề cho việc áp dụng hiệu quả hợp đồng lao động điện tử sau này.

Một chính sách pháp luật thật sự hữu dụng khi xã hội, người dân có đủ nội lực bên trong và tận dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài để thực thi. Để biến hợp đồng lao động điện tử thành một quy định “sống”, nghĩa là được áp dụng rộng rãi, phổ biến chứ không phải một quy định “trên giấy”, cần sự chung tay xây dựng của nhiều chủ thể liên quan như đã đề cập.

(*) Công ty Luật TNHH MTV Lawlink Việt Nam

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Việt Nam nỗ lực chạy đua sản xuất vaccine ngừa Covid-19
Doanh nghiệp báo mất 4 triệu du khách vì Covid-19
Mô hình doanh nghiệp trong trường đại học: Hoàn thiện chuỗi giá trị từ nhà trường đến thực tiễn
Tìm đường thoát hiểm lần 2
Bán máy bay, đàm phán lại nợ, Vietnam Airlines có vượt khó?
Để hợp đồng lao động điện tử thành một quy định 'sống'
Nguyễn Thị Kim Thanh (*)
Chủ Nhật,  21/6/2020, 20:52 

Để hợp đồng lao động điện tử thành một quy định 'sống'

Nguyễn Thị Kim Thanh (*)

(TBKTSG) - Bộ luật Lao động 2019 (BLLĐ 2019) lần đầu tiên đã ghi nhận hợp đồng lao động điện tử qua điều 14.1: “Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản”.

Trong phạm vi bài này, người viết không đi sâu phân tích về việc áp dụng hợp đồng lao động điện tử như thế nào mà hướng đến khả năng áp dụng quy định này trong bối cảnh hiện nay.

Hợp đồng lao động: nhiều điểm mới doanh nghiệp cần lưu ý

“Điện tử” khoảng 10 năm về trước có thể chỉ được xem là sân chơi của khối “tư nhân tân tiến” thì ngày nay đã là xu thế phát triển của thời đại. Mọi hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội đang dịch chuyển sang “điện tử”.

Bên cạnh 65 dịch vụ công trực tuyến được triển khai và hoàn thành trong năm 2020 gồm hầu hết danh mục thuộc quản lý của các bộ ngành khác nhau, gần đây ngành giáo dục “buộc” phải chuyển đổi sang “giáo dục điện tử - trực tuyến” để thích ứng với điều kiện áp dụng các biện pháp cách ly, giãn cách xã hội trong thời gian dài vì đại dịch Covid 19.

“Điện tử” đã lặng lẽ đi vào mọi ngóc ngách của đời sống và biến đổi theo cách riêng của nó hoặc buộc người ta phải lựa chọn nó mà không còn cách nào khác khả dĩ hơn!

Quan hệ giao dịch, việc làm cũng không thể nằm ngoài xu thế điện tử hóa và việc phát triển trong tương lai ắt hẳn cũng gắn với “điện tử”. Có thể thấy việc áp dụng hợp đồng lao động bằng hình thức thông điệp dữ liệu trên Internet là có cơ sở và mang lại nhiều thuận lợi như:

- Kết nối và giao dịch một cách nhanh chóng, đặc biệt thuận lợi cho việc sử dụng lao động “xuyên biên giới” trong các ngành mà công việc không đòi hỏi sự hiện diện của người lao động tại một nơi làm việc cố định;

- Đảm bảo sự chính xác, hạn chế việc can thiệp vào dữ liệu;

- Giảm công việc hành chính cồng kềnh, giảm gánh nặng về không gian, cơ sở vật chất để lưu trữ, bảo quản hợp đồng và tài liệu;

- Tiết kiệm một khoản tài chính đáng kể liên quan đến việc in hợp đồng để ký và lưu trữ;

- Giúp cho việc quản lý nhân sự được thông minh, minh bạch hơn; việc truy xuất, sử dụng dữ liệu cũng thuận tiện hơn.

Điều 15.1 Bộ luật Lao động (BLLĐ) 2019 quy định nguyên tắc khi giao kết hợp đồng là “tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Tự nguyện là nguyên tắc cơ bản nhất của quan hệ lao động và cũng phản ánh rõ nhất quyền hiến định của công dân về quyền làm việc.

Tự nguyện được hiểu là các bên đồng thuận xác lập quan hệ làm việc với vị trí công việc, lương, các chế độ, nghĩa vụ và quyền lợi tương ứng. BLLĐ 2019 đã bổ sung thêm một lựa chọn là xác lập quan hệ lao động bằng hợp đồng lao động điện tử bên cạnh hình thức truyền thống là văn bản giấy.

Do vậy, nguyên tắc tự nguyện trong giao kết hợp đồng còn thể hiện ở khía cạnh các bên đồng thuận chọn hình thức của hợp đồng lao động là điện tử.

Thực tế là không phải người lao động nào cũng được tiếp cận với công nghệ, máy tính, mạng Internet, điển hình là lực lượng công nhân sản xuất, xây dựng, khai thác..., chưa kể đến mặt bằng chung về trình độ học vấn của các lao động này không cao.

Do vậy dường như các khái niệm về chữ ký điện tử, thông điệp dữ liệu là khá lạ lẫm đối với họ. Bên cạnh đó, một trong những thách thức lớn nhất theo quan điểm của người viết là cần sự đầu tư (về nguồn lực, tài chính) từ phía người sử dụng lao động trong xây dựng, vận hành hệ thống hợp đồng lao động điện tử trong bối cảnh Việt Nam có đến 98,1% các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.

Có thể sẽ tồn tại một bộ phận không mấy “mặn mà” với sự đổi mới này, hợp đồng giấy truyền thống vẫn nhanh chóng, tiện lợi mà không cần phải đầu tư thêm gì.

Ở nước phát triển như Singapore, đạo luật về giao dịch điện tử ra đời lần đầu năm 1998. Phiên bản 2010 (ETA 2010) quy định về giao tiếp, thỏa thuận và chữ ký điện tử, theo đó hợp đồng điện tử và chữ ký điện tử được coi là có giá trị pháp lý và được sử dụng rộng rãi từ lĩnh vực thương mại, lao động (hợp đồng lao động, thỏa thuận bảo mật thông tin...), sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở các quy định trên, đã có nhiều dịch vụ cung cấp nền tảng giao kết và chữ ký điện tử cho việc thực hiện ETA 2010.

Ở Việt Nam, với quy định lần đầu này tại BLLĐ 2019 thì các bên có liên quan cần chuẩn bị những gì để triển khai áp dụng?

Về phía cơ quan quản lý nhà nước: Sau khi Luật Giao dịch điện tử 2005 có hiệu lực, các cơ quan quản lý chuyên ngành đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện liên quan đến nhiều lĩnh vực như ngân hàng, thuế, kinh doanh thương mại, lưu trữ tài liệu điện tử.

Không nằm ngoài xu hướng trên, người viết cho rằng sau khi BLLĐ 2019 được ban hành thì cơ quan quản lý cũng lên kế hoạch ban hành các văn bản hướng dẫn, áp dụng đặc thù cho lĩnh vực lao động, có tính đến việc triển khai thực hiện và các cơ chế quản lý phù hợp với sự đổi mới của hình thức hợp đồng lao động điện tử.

Về phía người sử dụng lao động: có thể được xem là chủ thể giữ vai trò chủ động trong “cuộc chơi đổi mới” này. Trong giai đoạn chờ hướng dẫn áp dụng pháp luật từ cơ quan Nhà Nước, người sử dụng lao động có thể cân nhắc đưa chủ đề này vào chương trình mục tiêu chuyển đổi dài hạn để có định hướng hành động phù hợp, kịp thời từ bây giờ. Một trong những việc có thể tiến hành ngay là trang bị (nâng cấp) các thiết bị cơ bản như máy tính, phương tiện lưu trữ thông tin, hạ tầng kết nối Intetnet thông suốt và an toàn.

Đồng thời, cần lên kế hoạch thiết kế nền tảng ứng dụng về hợp đồng điện tử nói chung và hợp đồng lao động điện tử nói riêng áp dụng cho doanh nghiệp mình. Một phương án khác là doanh nghiệp có thể chờ một nền tảng chung được phát triển bởi bên thứ ba có thể là tổ chức cung cấp dịch vụ hoặc cơ quan quản lý trong tương lai. Tuy vậy, việc chờ đợi, phụ thuộc vào bên thứ ba sẽ làm mất đi tính chủ động, trì hoãn sự thay đổi và có thể làm giảm giá trị doanh nghiệp.

Sự đổi mới cũng đặt ra thách thức về quản lý, do vậy, doanh nghiệp cũng cần xây dựng chính sách nội bộ để triển khai áp dụng hợp đồng lao động điện tử, huấn luyện cho người lao động về chính sách, hướng dẫn nhân sự phụ trách sử dụng, quản lý và giám sát hệ thống.

Về phía người lao động: Một bộ phận lớn hiện nay còn xa lạ với khái niệm “phương tiện điện tử”, “thông điệp dữ liệu”, chưa kể đến tâm lý chọn an toàn, ngại thay đổi hoặc khi bị bắt buộc thay đổi thì cũng không mặn mà tìm hiểu. Do vậy, việc phổ biến, nâng cao nhận thức và kỹ năng tương tác thông qua các phương tiện điện tử của người lao động ở mọi ngành nghề trên không gian mạng là tiền đề cho việc áp dụng hiệu quả hợp đồng lao động điện tử sau này.

Một chính sách pháp luật thật sự hữu dụng khi xã hội, người dân có đủ nội lực bên trong và tận dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài để thực thi. Để biến hợp đồng lao động điện tử thành một quy định “sống”, nghĩa là được áp dụng rộng rãi, phổ biến chứ không phải một quy định “trên giấy”, cần sự chung tay xây dựng của nhiều chủ thể liên quan như đã đề cập.

(*) Công ty Luật TNHH MTV Lawlink Việt Nam

In bài
Gửi bài cho bạn bè
TIN BÀI KHÁC  
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập phụ trách online: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung, Minh Châu.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.