Mobile Area

Giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp: Cần nhưng không thể cào bằng

Thứ Sáu,  25/9/2020, 11:33 
Phan Minh Ngọc

Giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp: Cần nhưng không thể cào bằng

Phan Minh Ngọc

(TBKTSG) - Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, thuộc Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính, đã kiến nghị giảm 30% thuế thu nhập cho tất cả doanh nghiệp năm 2020. Tuy nhiên, kiến nghị này đã đối mặt với nhiều ý kiến trái chiều. Từ một góc độ khác, người viết cũng cho rằng cách thức thực hiện kiến nghị này là chưa hợp lý.

Cụ thể, theo Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), kiến nghị giảm thuế xuất phát từ nguyện vọng của các doanh nghiệp sau ba cuộc khảo sát tình hình doanh nghiệp từ tháng 3-2020 do Ban IV thực hiện. Trong các cuộc khảo sát này, nhiều doanh nghiệp đã kiến nghị giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho cả năm 2019 và 2020.

Như vậy, kiến nghị của Ban IV thuần túy được dựa trên cơ sở khảo sát, hỏi ý kiến doanh nghiệp. Nhưng thường khi được khảo sát, doanh nghiệp nào mà chẳng “than nghèo, kể khổ” rồi kiến nghị những điều có lợi cho mình, đặc biệt là trong bối cảnh dịch bệnh như hiện nay.

Do đó, nếu dựa hoàn toàn vào kiến nghị của doanh nghiệp khi được khảo sát thì kết quả sẽ bị méo mó, thổi phồng hay tô đậm quá mức và các kiến nghị dựa trên kết quả này đương nhiên sẽ không hợp lý, khách quan, phản ánh đúng thực tế, và do đó, không nên được sử dụng làm căn cứ duy nhất cho các quyết sách kinh tế tương ứng.

Để công tâm, khách quan và có ý nghĩa hơn, mọi kiến nghị giảm thuế cho doanh nghiệp cần được xây dựng dựa trên những bằng chứng xác đáng, những tính toán tổng thể hơn, có cân nhắc đến nhiều mặt.

Để công tâm, khách quan và có ý nghĩa hơn, mọi kiến nghị giảm thuế cho doanh nghiệp cần được xây dựng dựa trên những bằng chứng xác đáng, những tính toán tổng thể hơn, có cân nhắc đến nhiều mặt.

Trước hết, Ban IV, hay bất cứ đơn vị nào thực hiện các kiến nghị chính sách liên quan đến cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, cần thu thập những bằng chứng khoa học về “đại bộ phận” (70%, 80%, 90%?) doanh nghiệp đang gặp thua lỗ, không thể hoạt động, đóng cửa, hoặc giải thể... Số doanh nghiệp được điều tra này có thể là một mẫu doanh nghiệp lựa chọn ngẫu nhiên, gồm nhiều ngành, nghề, quy mô và địa phương...

Những bằng chứng về khó khăn của doanh nghiệp có thể là kết quả hoạt động kinh doanh đã kiểm toán hoặc nộp cho cơ quan thuế vụ, cơ quan chức năng trong các quí từ đầu năm nay. Nó cũng có thể đơn giản chỉ là bằng chứng chứng minh là doanh nghiệp đang gặp khó khăn như theo quy định áp dụng khi doanh nghiệp nào đó làm đơn xin hỗ trợ trong các gói hỗ trợ kinh tế lần thứ nhất và thứ hai trong năm nay.

Tiếp đó, Ban IV cần tính toán cụ thể ra được tác động của việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp lên kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong năm nay và năm sau ở từng mức giảm thuế, ví dụ 30%, 50%. Một trong những tác động này có thể là, ví dụ, với mức giảm thuế 30% thì có bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp điều tra sẽ không bị đóng cửa, ngừng sản xuất, kinh doanh.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý bóc tách hoặc tính đến cả những biện pháp hỗ trợ khác của Nhà nước cho các doanh nghiệp, như cho doanh nghiệp vay để giữ chân người lao động, cắt giảm các loại thuế, phí và chi phí khác như đã và đang được đề xuất hay thi hành.

Chỉ khi dựa trên những bằng chứng điều tra, thu thập khách quan này, Ban IV mới có thể xây dựng một chính sách giảm thuế phù hợp hơn, cụ thể như cho toàn bộ doanh nghiệp hay chỉ cho một số nhóm đối tượng doanh nghiệp, nếu có cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp thì sẽ cắt giảm bao nhiêu là đủ...

Cần lưu ý rằng không phải tất cả doanh nghiệp đều gặp khó khăn nên cần phải được cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho tất cả doanh nghiệp như đang được đề xuất. Thực tế cho thấy, có nhiều doanh nghiệp lại thậm chí đang được hưởng lợi từ đại dịch. Do đó, mọi biện pháp hỗ trợ đều phải xuất phát từ nguyên tắc là tránh tình trạng cào bằng, là thiếu sót hiện tại trong kiến nghị của Ban IV.

Sau cùng, kiến nghị về mức và quy mô, đối tượng được cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cần phải tính đến khả năng chịu đựng của ngân sách nhà nước, chứ không chỉ đơn giản là dựa trên lập luận như của Ban IV là nếu không giảm thuế thì doanh nghiệp có doanh thu âm và nhà nước cũng không có thuế (nên phải giảm!).

Cũng giống như ở bất cứ nước nào trên thế giới, cứu trợ hay không, cứu trợ như thế nào và bao nhiêu... bao giờ cũng phải được thiết kế và tính toán trên khả năng của ngân sách. Và cũng xin lặp lại rằng, doanh nghiệp luôn có xu hướng kêu than; khó khăn thì luôn vượt quá tầm cứu trợ của ngân sách mọi quốc gia. Nên kể cả ở những nước giàu như Mỹ và Liên minh châu Âu (EU), hầu như không có gói cứu trợ nào mang tính đại trà như kiểu giảm thuế đại trà cho mọi doanh nghiệp như đang được kiến nghị ở Việt Nam.

Do vậy, với ngân sách hạn hẹp, không kham nổi các gói cứu trợ trên diện rộng như ở Việt Nam thì dù biết là (một số) doanh nghiệp khó khăn nhưng chúng ta thậm chí vẫn phải để cho một số doanh nghiệp bị đào thải.

Xét trên khía cạnh này thì chí ít điều Ban IV cần làm là tính toán được thiệt hại và tác động của việc giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp cho mọi doanh nghiệp trong năm 2020 lên ngân sách nhà nước. Lưu ý rằng, Chính phủ đã ước tính được nếu giảm 30% thuế thu nhập cho các doanh nghiệp có doanh thu năm 2020 dưới 200 tỉ đồng, như đã được Quốc hội chấp thuận, thì ngân sách hụt thu 23.000 tỉ đồng.

Vì vậy, con số hụt thu tương tự cho ngân sách khi phải thực hiện giảm 30% thuế thu nhập cho mọi doanh nghiệp là con số cần phải được tính toán ra để Chính phủ và Quốc hội có cơ sở cân nhắc trước khi thông qua kiến nghị của Ban IV. Lập luận mang tính định tính để biện minh cho kiến nghị của mình như hiện tại của Ban IV là không phù hợp để xây dựng chính sách.

Với doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ, giảm thuế gần như là vô nghĩa

Theo Nghị quyết số 116/2020/QH14, Quốc hội đồng ý giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm 2020 cho doanh nghiệp có doanh thu dưới 200 tỉ đồng. Mục đích của nghị quyết này là nhằm hỗ trợ, doanh nghiệp bớt khó khăn do đại dịch Covid-19.

Tuy nhiên, một điều cần lưu ý là theo Sách trắng về doanh nghiệp Việt Nam 2020 được công bố bởi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm 93% trong tổng số doanh nghiệp nhưng tổng lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp này trong cả giai đoạn 2011-2018 luôn âm.

Như vậy, có thể thấy với những doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ, ngay cả khi không có đại dịch Covid-19 cũng đã không có lợi nhuận, nên giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với 93% doanh nghiệp loại này không có nhiều ý nghĩa.

Số liệu trong Sách trắng về doanh nghiệp Việt Nam còn cho thấy tỷ lệ lợi nhuận trước thuế trên vốn của toàn bộ khối doanh nghiệp bình quân giai đoạn 2016-2018 là 2,5%, tỷ lệ này của khối doanh nghiệp tư nhân chỉ là 1,4%, không những thấp hơn lãi suất huy động của ngân hàng mà còn thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2018 (3,54%). Trong các loại hình doanh nghiệp, chỉ có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn khá cao so với các doanh nghiệp trong nước, ở mức xấp xỉ 7%.

Như vậy có thể thấy, nếu số liệu của các cơ quan hữu quan là chính xác thì việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cơ bản mang tính hình thức đối với doanh nghiệp tư nhân trong nước mà chỉ khối FDI là có lợi. Chính phủ nên giúp các doanh nghiệp trong lúc khó khăn này bằng miễn, giảm chi phí bảo hiểm xã hội.

Bùi Trinh

 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Đừng phá rừng, ngăn sông thì đâu đến nỗi
Nhà nước có thể tạo thêm xúc tác cho sự hào phóng
Từ nhu cầu làm từ thiện của người dân: Cần xây dựng luật về tổ chức và hoạt động phi lợi nhuận
Khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương
Doanh nghiệp Nhật Bản đổi “khẩu vị” nhân sự tại thị trường Việt Nam
Giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp: Cần nhưng không thể cào bằng
Phan Minh Ngọc
Thứ Sáu,  25/9/2020, 11:33 

Giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp: Cần nhưng không thể cào bằng

Phan Minh Ngọc

(TBKTSG) - Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, thuộc Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính, đã kiến nghị giảm 30% thuế thu nhập cho tất cả doanh nghiệp năm 2020. Tuy nhiên, kiến nghị này đã đối mặt với nhiều ý kiến trái chiều. Từ một góc độ khác, người viết cũng cho rằng cách thức thực hiện kiến nghị này là chưa hợp lý.

Cụ thể, theo Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), kiến nghị giảm thuế xuất phát từ nguyện vọng của các doanh nghiệp sau ba cuộc khảo sát tình hình doanh nghiệp từ tháng 3-2020 do Ban IV thực hiện. Trong các cuộc khảo sát này, nhiều doanh nghiệp đã kiến nghị giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho cả năm 2019 và 2020.

Như vậy, kiến nghị của Ban IV thuần túy được dựa trên cơ sở khảo sát, hỏi ý kiến doanh nghiệp. Nhưng thường khi được khảo sát, doanh nghiệp nào mà chẳng “than nghèo, kể khổ” rồi kiến nghị những điều có lợi cho mình, đặc biệt là trong bối cảnh dịch bệnh như hiện nay.

Do đó, nếu dựa hoàn toàn vào kiến nghị của doanh nghiệp khi được khảo sát thì kết quả sẽ bị méo mó, thổi phồng hay tô đậm quá mức và các kiến nghị dựa trên kết quả này đương nhiên sẽ không hợp lý, khách quan, phản ánh đúng thực tế, và do đó, không nên được sử dụng làm căn cứ duy nhất cho các quyết sách kinh tế tương ứng.

Để công tâm, khách quan và có ý nghĩa hơn, mọi kiến nghị giảm thuế cho doanh nghiệp cần được xây dựng dựa trên những bằng chứng xác đáng, những tính toán tổng thể hơn, có cân nhắc đến nhiều mặt.

Để công tâm, khách quan và có ý nghĩa hơn, mọi kiến nghị giảm thuế cho doanh nghiệp cần được xây dựng dựa trên những bằng chứng xác đáng, những tính toán tổng thể hơn, có cân nhắc đến nhiều mặt.

Trước hết, Ban IV, hay bất cứ đơn vị nào thực hiện các kiến nghị chính sách liên quan đến cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, cần thu thập những bằng chứng khoa học về “đại bộ phận” (70%, 80%, 90%?) doanh nghiệp đang gặp thua lỗ, không thể hoạt động, đóng cửa, hoặc giải thể... Số doanh nghiệp được điều tra này có thể là một mẫu doanh nghiệp lựa chọn ngẫu nhiên, gồm nhiều ngành, nghề, quy mô và địa phương...

Những bằng chứng về khó khăn của doanh nghiệp có thể là kết quả hoạt động kinh doanh đã kiểm toán hoặc nộp cho cơ quan thuế vụ, cơ quan chức năng trong các quí từ đầu năm nay. Nó cũng có thể đơn giản chỉ là bằng chứng chứng minh là doanh nghiệp đang gặp khó khăn như theo quy định áp dụng khi doanh nghiệp nào đó làm đơn xin hỗ trợ trong các gói hỗ trợ kinh tế lần thứ nhất và thứ hai trong năm nay.

Tiếp đó, Ban IV cần tính toán cụ thể ra được tác động của việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp lên kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong năm nay và năm sau ở từng mức giảm thuế, ví dụ 30%, 50%. Một trong những tác động này có thể là, ví dụ, với mức giảm thuế 30% thì có bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp điều tra sẽ không bị đóng cửa, ngừng sản xuất, kinh doanh.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý bóc tách hoặc tính đến cả những biện pháp hỗ trợ khác của Nhà nước cho các doanh nghiệp, như cho doanh nghiệp vay để giữ chân người lao động, cắt giảm các loại thuế, phí và chi phí khác như đã và đang được đề xuất hay thi hành.

Chỉ khi dựa trên những bằng chứng điều tra, thu thập khách quan này, Ban IV mới có thể xây dựng một chính sách giảm thuế phù hợp hơn, cụ thể như cho toàn bộ doanh nghiệp hay chỉ cho một số nhóm đối tượng doanh nghiệp, nếu có cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp thì sẽ cắt giảm bao nhiêu là đủ...

Cần lưu ý rằng không phải tất cả doanh nghiệp đều gặp khó khăn nên cần phải được cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho tất cả doanh nghiệp như đang được đề xuất. Thực tế cho thấy, có nhiều doanh nghiệp lại thậm chí đang được hưởng lợi từ đại dịch. Do đó, mọi biện pháp hỗ trợ đều phải xuất phát từ nguyên tắc là tránh tình trạng cào bằng, là thiếu sót hiện tại trong kiến nghị của Ban IV.

Sau cùng, kiến nghị về mức và quy mô, đối tượng được cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cần phải tính đến khả năng chịu đựng của ngân sách nhà nước, chứ không chỉ đơn giản là dựa trên lập luận như của Ban IV là nếu không giảm thuế thì doanh nghiệp có doanh thu âm và nhà nước cũng không có thuế (nên phải giảm!).

Cũng giống như ở bất cứ nước nào trên thế giới, cứu trợ hay không, cứu trợ như thế nào và bao nhiêu... bao giờ cũng phải được thiết kế và tính toán trên khả năng của ngân sách. Và cũng xin lặp lại rằng, doanh nghiệp luôn có xu hướng kêu than; khó khăn thì luôn vượt quá tầm cứu trợ của ngân sách mọi quốc gia. Nên kể cả ở những nước giàu như Mỹ và Liên minh châu Âu (EU), hầu như không có gói cứu trợ nào mang tính đại trà như kiểu giảm thuế đại trà cho mọi doanh nghiệp như đang được kiến nghị ở Việt Nam.

Do vậy, với ngân sách hạn hẹp, không kham nổi các gói cứu trợ trên diện rộng như ở Việt Nam thì dù biết là (một số) doanh nghiệp khó khăn nhưng chúng ta thậm chí vẫn phải để cho một số doanh nghiệp bị đào thải.

Xét trên khía cạnh này thì chí ít điều Ban IV cần làm là tính toán được thiệt hại và tác động của việc giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp cho mọi doanh nghiệp trong năm 2020 lên ngân sách nhà nước. Lưu ý rằng, Chính phủ đã ước tính được nếu giảm 30% thuế thu nhập cho các doanh nghiệp có doanh thu năm 2020 dưới 200 tỉ đồng, như đã được Quốc hội chấp thuận, thì ngân sách hụt thu 23.000 tỉ đồng.

Vì vậy, con số hụt thu tương tự cho ngân sách khi phải thực hiện giảm 30% thuế thu nhập cho mọi doanh nghiệp là con số cần phải được tính toán ra để Chính phủ và Quốc hội có cơ sở cân nhắc trước khi thông qua kiến nghị của Ban IV. Lập luận mang tính định tính để biện minh cho kiến nghị của mình như hiện tại của Ban IV là không phù hợp để xây dựng chính sách.

Với doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ, giảm thuế gần như là vô nghĩa

Theo Nghị quyết số 116/2020/QH14, Quốc hội đồng ý giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm 2020 cho doanh nghiệp có doanh thu dưới 200 tỉ đồng. Mục đích của nghị quyết này là nhằm hỗ trợ, doanh nghiệp bớt khó khăn do đại dịch Covid-19.

Tuy nhiên, một điều cần lưu ý là theo Sách trắng về doanh nghiệp Việt Nam 2020 được công bố bởi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm 93% trong tổng số doanh nghiệp nhưng tổng lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp này trong cả giai đoạn 2011-2018 luôn âm.

Như vậy, có thể thấy với những doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ, ngay cả khi không có đại dịch Covid-19 cũng đã không có lợi nhuận, nên giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với 93% doanh nghiệp loại này không có nhiều ý nghĩa.

Số liệu trong Sách trắng về doanh nghiệp Việt Nam còn cho thấy tỷ lệ lợi nhuận trước thuế trên vốn của toàn bộ khối doanh nghiệp bình quân giai đoạn 2016-2018 là 2,5%, tỷ lệ này của khối doanh nghiệp tư nhân chỉ là 1,4%, không những thấp hơn lãi suất huy động của ngân hàng mà còn thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2018 (3,54%). Trong các loại hình doanh nghiệp, chỉ có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn khá cao so với các doanh nghiệp trong nước, ở mức xấp xỉ 7%.

Như vậy có thể thấy, nếu số liệu của các cơ quan hữu quan là chính xác thì việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cơ bản mang tính hình thức đối với doanh nghiệp tư nhân trong nước mà chỉ khối FDI là có lợi. Chính phủ nên giúp các doanh nghiệp trong lúc khó khăn này bằng miễn, giảm chi phí bảo hiểm xã hội.

Bùi Trinh

 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
TIN BÀI KHÁC  
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập phụ trách online: Phan Chiến Thắng.
Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung, Minh Châu.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.