Mobile

Lạm phát: nhìn từ chính sách công nghiệp
Thứ Bảy,  23/4/2011, 09:46 
Hoàng Xuân Huy

Lạm phát: nhìn từ chính sách công nghiệp

Hoàng Xuân Huy

Công nhân lắp ráp máy nổ ở Công ty Vinapro. Ảnh: Thế Anh.

(TBKTSG) - Tác giả đưa ra một số nhận xét về các khía cạnh yếu kém của chính sách công nghiệp Việt Nam thời gian qua, hiểu theo nghĩa rộng gồm các chính sách về cải thiện môi trường kinh doanh, chính sách thuế, trợ cấp, thúc đẩy cạnh tranh... để chứng minh rằng đây là nguyên nhân cốt lõi của lạm phát ở Việt Nam.

Một trong những khiếm khuyết lớn nhất trong chính sách công nghiệp của Việt Nam là chính sách quản trị hệ thống doanh nghiệp. Từ sau đổi mới, hệ thống doanh nghiệp Việt Nam được chia làm ba khu vực, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), khu vực dân doanh và khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Đây không chỉ là phân chia theo hình thức sở hữu mà còn là sự phân biệt đối xử về chính sách. Điều này làm méo mó sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp.

Trong khi khu vực FDI thường tận dụng chính sách ưu đãi để đầu tư vào các ngành có lợi thế chi phí thấp như chi phí nhân công, chi phí đất đai, ưu đãi thuế... mà không đầu tư vào ngành có công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và do đó tác động lan tỏa, chuyển giao công nghệ thấp.

Khu vực DNNN, đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được nhận nhiều ưu đãi về vốn, đất đai và được bảo hộ cao, tạo nên vị thế độc quyền trên thị trường nội địa nên thường mang nặng tâm lý ỷ lại, thiếu động lực cạnh tranh để phát triển. Kết quả là các doanh nghiệp này có hiệu quả thấp và một số còn dẫn đến phá sản, gây thất thoát lớn tài sản nhà nước.

Trong khi đó, khu vực dân doanh là khu vực bị thiệt thòi nhất do bị chèn ép về vốn, đất đai và ít nhận được tác động lan tỏa của khu vực FDI và DNNN nên sau thời gian đầu có tốc độ phát triển nhanh nhờ sự tăng trưởng về vốn nay đã có dấu hiệu phát triển chậm lại.

So sánh kết quả phát triển của ba loại hình doanh nghiệp (xem biểu đồ) chúng ta có thể thấy có sự phân bổ nguồn lực sai lầm theo hướng quá chú trọng đầu tư và bảo hộ đối với DNNN, vốn có hiệu quả hoạt động thấp, đã tạo hiệu ứng chèn lấn đối với khu vực dân doanh có hiệu quả hoạt động cao hơn nhiều, làm hạn chế sự phát triển khu vực này. Khu vực dân doanh bị hạn chế phát triển đã làm yếu đi sự liên kết giữa khu vực trong nước với khu vực FDI, điều này được minh chứng là chỉ 38% sản phẩm trung gian được mua trong nước trong chuỗi sản xuất FDI. Có nghĩa là vai trò thúc đẩy công nghiệp nội địa phát triển của FDI là rất thấp.

Một khía cạnh khác của chính sách công nghiệp là chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng. Có vẻ như Chính phủ đầu tư quá dàn trải mà không có thứ tự ưu tiên nhất định, làm nảy sinh tình trạng những vùng kém phát triển có cơ sở hạ tầng vượt quá nhu cầu trong khi những vùng có tốc độ tăng trưởng cao thì diễn ra tình trạng thắt cổ chai về cơ sở hạ tầng.

Liệu có cần thiết hay không khi mà ở eo đất nhỏ hẹp ở miền Trung có đến ba con đường có thể xem là quốc lộ nối liền các tỉnh miền Trung với nhau và với cả nước, trong khi khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, vốn là trung tâm công nghiệp của cả nước thì hệ thống giao thông chưa được đầu tư đúng mức, luôn xảy ra tình trạng kẹt xe nghiêm trọng, làm lãng phí hàng tỉ đồng mỗi ngày. Tương tự như vậy, cơ sở hạ tầng điện, nước, giao thông đường thủy và đường sắt chưa được đầu tư hiệu quả đã làm tăng chi phí của doanh nghiệp, môi trường đầu tư ngày càng trở nên kém cạnh tranh so với các nước.

Về chính sách tỷ giá, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế mở và định hướng xuất khẩu, chính sách tỷ giá đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Cách điều hành chính sách tỷ giá ở Việt Nam chưa cho thấy sự chủ động có mục tiêu, mà là sự thụ động và thiếu linh hoạt. Trong giai đoạn 2004-2008, việc kìm giữ tỷ giá danh nghĩa (chỉ tăng 3,5%) trong khi lạm phát trong nước tăng đến 50% đã làm cho tiền đồng lên giá thực đến 30% so với đô la Mỹ. Sự lên giá này đã ảnh hưởng xấu đến sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước, góp phần gây nên tình trạng nhập siêu nghiêm trọng trong giai đoạn này.

Ngược lại, từ năm 2008 đến nay, tình trạng phá giá diễn ra liên tục đã làm tiền đồng bị mất đến 30% giá trị danh nghĩa và khoảng 15% giá trị thực. Việc liên tục phá giá mà không đi kèm với giảm lạm phát đã làm niềm tin vào tiền đồng suy giảm nghiêm trọng, gây nên tình trạng đầu cơ ngoại tệ và bất ổn vĩ mô tăng cao.

Về lĩnh vực ngân hàng, trong khi nợ xấu trong các ngân hàng thương mại quốc doanh chưa được giải quyết thì việc cho ra đời hàng chục ngân hàng TMCP nhỏ với những khoản cho vay và đầu tư mạo hiểm vào các lĩnh vực nóng như chứng khoán, bất động sản... là những việc làm không phù hợp.

Trong nền kinh tế đang phát triển và tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư như Việt Nam, chính sách công nghiệp thiếu hiệu quả đã làm cho sản lượng không tăng trưởng tương xứng với mức đầu tư, mà biểu hiện là hệ số ICOR gia tăng liên tục trong những năm gần đây. Điều này cũng giải thích cho tình trạng nhập siêu ngày càng cao ở Việt Nam. Trong một nền kinh tế kém hiệu quả như vậy, bất kỳ một sự gia tăng cung tiền nào để thúc đẩy tăng trưởng hay thậm chí để kích thích tăng trưởng sau quá trình suy giảm của nền kinh tế cũng có thể gây nên lạm phát lớn.

Như vậy, việc mở rộng cung tiền và mở rộng ngân sách chỉ là nguyên nhân kích hoạt lạm phát ở Việt Nam, còn nguyên nhân cốt lõi nằm ở hiệu quả của nền kinh tế mà chính sách công nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Do đó, các giải pháp thu hẹp cung tiền và thu hẹp ngân sách chỉ là những giải pháp cắt cơn chứ không thể là giải pháp căn cơ cho vấn đề lạm phát ở Việt Nam.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Thứ Sáu,  18/1/2019, 06:00 
Đặt báo in

Lạm phát: nhìn từ chính sách công nghiệp

Hoàng Xuân Huy
Thứ Bảy,  23/4/2011, 09:46 

Lạm phát: nhìn từ chính sách công nghiệp

Hoàng Xuân Huy

Công nhân lắp ráp máy nổ ở Công ty Vinapro. Ảnh: Thế Anh.

(TBKTSG) - Tác giả đưa ra một số nhận xét về các khía cạnh yếu kém của chính sách công nghiệp Việt Nam thời gian qua, hiểu theo nghĩa rộng gồm các chính sách về cải thiện môi trường kinh doanh, chính sách thuế, trợ cấp, thúc đẩy cạnh tranh... để chứng minh rằng đây là nguyên nhân cốt lõi của lạm phát ở Việt Nam.

Một trong những khiếm khuyết lớn nhất trong chính sách công nghiệp của Việt Nam là chính sách quản trị hệ thống doanh nghiệp. Từ sau đổi mới, hệ thống doanh nghiệp Việt Nam được chia làm ba khu vực, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), khu vực dân doanh và khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Đây không chỉ là phân chia theo hình thức sở hữu mà còn là sự phân biệt đối xử về chính sách. Điều này làm méo mó sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp.

Trong khi khu vực FDI thường tận dụng chính sách ưu đãi để đầu tư vào các ngành có lợi thế chi phí thấp như chi phí nhân công, chi phí đất đai, ưu đãi thuế... mà không đầu tư vào ngành có công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và do đó tác động lan tỏa, chuyển giao công nghệ thấp.

Khu vực DNNN, đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được nhận nhiều ưu đãi về vốn, đất đai và được bảo hộ cao, tạo nên vị thế độc quyền trên thị trường nội địa nên thường mang nặng tâm lý ỷ lại, thiếu động lực cạnh tranh để phát triển. Kết quả là các doanh nghiệp này có hiệu quả thấp và một số còn dẫn đến phá sản, gây thất thoát lớn tài sản nhà nước.

Trong khi đó, khu vực dân doanh là khu vực bị thiệt thòi nhất do bị chèn ép về vốn, đất đai và ít nhận được tác động lan tỏa của khu vực FDI và DNNN nên sau thời gian đầu có tốc độ phát triển nhanh nhờ sự tăng trưởng về vốn nay đã có dấu hiệu phát triển chậm lại.

So sánh kết quả phát triển của ba loại hình doanh nghiệp (xem biểu đồ) chúng ta có thể thấy có sự phân bổ nguồn lực sai lầm theo hướng quá chú trọng đầu tư và bảo hộ đối với DNNN, vốn có hiệu quả hoạt động thấp, đã tạo hiệu ứng chèn lấn đối với khu vực dân doanh có hiệu quả hoạt động cao hơn nhiều, làm hạn chế sự phát triển khu vực này. Khu vực dân doanh bị hạn chế phát triển đã làm yếu đi sự liên kết giữa khu vực trong nước với khu vực FDI, điều này được minh chứng là chỉ 38% sản phẩm trung gian được mua trong nước trong chuỗi sản xuất FDI. Có nghĩa là vai trò thúc đẩy công nghiệp nội địa phát triển của FDI là rất thấp.

Một khía cạnh khác của chính sách công nghiệp là chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng. Có vẻ như Chính phủ đầu tư quá dàn trải mà không có thứ tự ưu tiên nhất định, làm nảy sinh tình trạng những vùng kém phát triển có cơ sở hạ tầng vượt quá nhu cầu trong khi những vùng có tốc độ tăng trưởng cao thì diễn ra tình trạng thắt cổ chai về cơ sở hạ tầng.

Liệu có cần thiết hay không khi mà ở eo đất nhỏ hẹp ở miền Trung có đến ba con đường có thể xem là quốc lộ nối liền các tỉnh miền Trung với nhau và với cả nước, trong khi khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, vốn là trung tâm công nghiệp của cả nước thì hệ thống giao thông chưa được đầu tư đúng mức, luôn xảy ra tình trạng kẹt xe nghiêm trọng, làm lãng phí hàng tỉ đồng mỗi ngày. Tương tự như vậy, cơ sở hạ tầng điện, nước, giao thông đường thủy và đường sắt chưa được đầu tư hiệu quả đã làm tăng chi phí của doanh nghiệp, môi trường đầu tư ngày càng trở nên kém cạnh tranh so với các nước.

Về chính sách tỷ giá, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế mở và định hướng xuất khẩu, chính sách tỷ giá đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Cách điều hành chính sách tỷ giá ở Việt Nam chưa cho thấy sự chủ động có mục tiêu, mà là sự thụ động và thiếu linh hoạt. Trong giai đoạn 2004-2008, việc kìm giữ tỷ giá danh nghĩa (chỉ tăng 3,5%) trong khi lạm phát trong nước tăng đến 50% đã làm cho tiền đồng lên giá thực đến 30% so với đô la Mỹ. Sự lên giá này đã ảnh hưởng xấu đến sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước, góp phần gây nên tình trạng nhập siêu nghiêm trọng trong giai đoạn này.

Ngược lại, từ năm 2008 đến nay, tình trạng phá giá diễn ra liên tục đã làm tiền đồng bị mất đến 30% giá trị danh nghĩa và khoảng 15% giá trị thực. Việc liên tục phá giá mà không đi kèm với giảm lạm phát đã làm niềm tin vào tiền đồng suy giảm nghiêm trọng, gây nên tình trạng đầu cơ ngoại tệ và bất ổn vĩ mô tăng cao.

Về lĩnh vực ngân hàng, trong khi nợ xấu trong các ngân hàng thương mại quốc doanh chưa được giải quyết thì việc cho ra đời hàng chục ngân hàng TMCP nhỏ với những khoản cho vay và đầu tư mạo hiểm vào các lĩnh vực nóng như chứng khoán, bất động sản... là những việc làm không phù hợp.

Trong nền kinh tế đang phát triển và tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư như Việt Nam, chính sách công nghiệp thiếu hiệu quả đã làm cho sản lượng không tăng trưởng tương xứng với mức đầu tư, mà biểu hiện là hệ số ICOR gia tăng liên tục trong những năm gần đây. Điều này cũng giải thích cho tình trạng nhập siêu ngày càng cao ở Việt Nam. Trong một nền kinh tế kém hiệu quả như vậy, bất kỳ một sự gia tăng cung tiền nào để thúc đẩy tăng trưởng hay thậm chí để kích thích tăng trưởng sau quá trình suy giảm của nền kinh tế cũng có thể gây nên lạm phát lớn.

Như vậy, việc mở rộng cung tiền và mở rộng ngân sách chỉ là nguyên nhân kích hoạt lạm phát ở Việt Nam, còn nguyên nhân cốt lõi nằm ở hiệu quả của nền kinh tế mà chính sách công nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Do đó, các giải pháp thu hẹp cung tiền và thu hẹp ngân sách chỉ là những giải pháp cắt cơn chứ không thể là giải pháp căn cơ cho vấn đề lạm phát ở Việt Nam.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
CHUYỂN ĐỘNG CÔNG THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHUYẾN MÃI
WEB GIÁ RẺ
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
QUẢN TRỊ SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
DỮ LIỆU DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
QUY HOẠCH - HẠ TẦNG
DỰ ÁN
GÓC TƯ VẤN
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.