Thứ Ba,  13/11/2018, 07:17 
Đặt báo in

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: “Thực tại mới đòi hỏi đối sách mới”

Nguyễn Vĩnh Nguyên thực hiện
Thứ Ba,  25/3/2014, 10:17 

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: “Thực tại mới đòi hỏi đối sách mới”

Nguyễn Vĩnh Nguyên thực hiện

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân.

(TBKTSG) - Chừng 15 năm trở lại đây, ông dụng công cho nghiên cứu sưu tầm, hệ thống hóa, giới thiệu trở lại hàng loạt tác phẩm của các tác gia quan trọng như Phan Khôi, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng... Nhiều tác phẩm quý đã được ông “trục vớt”, nhiều giai đoạn báo chí, văn nghệ phức tạp trong quá khứ nhờ vậy, dần dần được công chúng nhìn nhận lại khách quan hơn.

Nhân cuốn Tìm lại di sản, tập tiểu luận phê bình nói về các vấn đề xoay quanh việc “trục vớt” di sản ngôn ngữ, văn chương của Lại Nguyên Ân vừa được NXB Văn hóa Văn nghệ cho ra mắt, TBKTSG đã có cuộc trao đổi với ông.

TBKTSG: Trong diễn từ nhận giải thưởng Phan Châu Trinh (2010), ông nói đại ý, việc bằng lòng với những tác giả được cho là “tiêu biểu” của mỗi giai đoạn văn học, báo chí trong quá khứ dễ làm chúng ta yên tâm; nhưng cái gọi là “tiêu biểu” đó thật phiến diện và méo mó. Nó làm cho nhiều tác gia quan trọng trong đời sống văn chương, ngôn luận ngày hôm qua, vì nhiều lý do, bị quên lãng. Vậy thưa ông, tư duy lựa chọn “tiêu biểu” kia thường bị chi phối hay khống chế bởi điều gì?

- Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: Tư duy lựa chọn cái gọi là “tiêu biểu” của di sản quá khứ gần và xa, bộc lộ rõ rệt ở miền Bắc kể từ những năm 1957-1958, ví dụ, đối với văn học trước 1945, người ta lọc những gì là “tiêu biểu” chỉ trong phạm vi được coi là văn học cách mạng hoặc hiện thực phê phán, loại bỏ tất cả những gì được coi là lãng mạn, thoát ly, tiêu cực..., lại cũng loại bỏ tất cả những tác giả đã từng bị coi là tay sai phong kiến đế quốc. Tư duy này phát tác rộng ra cả nước từ sau năm 1975, đo đếm và loại bỏ tràn lan đối với các loại di sản gần và xa theo quan niệm, theo lợi ích của bên thắng cuộc. Cái tư duy phiến diện ấy, suy cho cùng, bộc lộ ý muốn của những người tự xem là chủ thể mới của cuộc sống này, từ đấy trở đi.

TBKTSG: Dữ liệu về lịch sử kỹ thuật, công nghệ xuất bản, phương thức kinh doanh ấn phẩm và thị trường trong từng thời kỳ, từng bối cảnh... sẽ giúp nhà nghiên cứu văn bản phát hiện và kiến giải, giới thiệu sâu hơn về các di sản “trục vớt” được. Nhưng tình hình những dữ liệu liên ngành như thế hiện nay ra sao, thưa ông?

- Có một sự trái ngược đến nản lòng những ai làm việc với di sản chữ Quốc ngữ thời trước, nếu định so đo với các đồng nghiệp ở khu vực Hán Nôm; những ván khắc đã dập ra hàng loạt cuốn sách rồi, tức là đã xong việc rồi, vẫn được lưu giữ, được phong cấp di sản quốc gia, di sản nhân loại để gìn giữ lâu dài. Trong khi ấy, đối với di sản chữ Quốc ngữ thì, hiện tại rất khó tìm ra những chiếc máy in typo với các khuôn chữ chì! Đến một vài cái nhà kho tử tế cũng chưa chắc đã có, nói gì đến bảo tàng! Thời của những chiếc máy in typo ấy chỉ mới kết thúc hồi những năm 1980-1990 đây thôi. Thế mà công chúng hiện tại đã không còn hình dung được, ví dụ, những con chữ bị rơi khỏi khuôn in, hoặc ngẫu nhiên hoặc được bàn tay thợ gạt vào một khe hở nào đấy, trở thành hiện tượng nhảy chữ kỳ lạ trên bản in! Người ta cũng không hiểu lý do tồn tại của những khoảng trắng trên trang in, khi những hàng chữ nhất định bị đục bỏ bởi kiểm duyệt! Có rất nhiều điều như thể “hư không đặt để nên lời” mà người sưu tầm nghiên cứu di sản Quốc ngữ thời trước phải đối mặt. Hiện tại thì tất cả giải pháp mới chỉ là kinh nghiệm cá nhân và sự hỗ trợ lẫn nhau của những người cùng chung ham mê, thế thôi.

TBKTSG: Công việc của nhà sưu tầm, khảo cứu, nghiên cứu văn bản có thể hiểu là chạy đua với thời gian, chống lại sự quên lãng, nhưng lại cần sự điềm tĩnh, trầm lặng và thận trọng. Hẳn là một sự điều tiết tự thân đầy khó khăn và thú vị?

- Khảo cứu sưu tầm văn bản cũng là tiến trình kiếm tìm và xử lý thông tin. Kiếm tìm thường tốn nhiều thời gian, có khi khá dài, và thất bại nhiều hơn thành công; tìm từng chút một, cần lưu giữ, tích lũy lại, đến một mức nào đó cho là đủ mới có thể xử lý, rồi thông báo, tái công bố. Người đi tìm có khi đột nhiên lanh lẹ khác thường, khi thấy có thể “tóm” được một dữ liệu đáng kể nào đấy. Nhưng thường ngày thì đấy là người trầm tĩnh, ôn tồn. Nét tính cách này cũng định hình dần dần, do công việc, thời gian, tuổi tác, và chưa chắc đã thú vị đâu, nhất là đối với tuổi trẻ!

TBKTSG: Ngày nay, sự phát triển về kỹ thuật số dẫn đến những thay đổi về phương thức xuất bản, cách đọc... Theo ông dự báo, điều đó lợi, hại thế nào đối với những nhà nghiên cứu văn bản tương lai khi tìm cách “trục vớt” những di sản của thời kỳ mà chúng ta đang sống?

- Với kỹ thuật số, có thể nói, tất cả những gì là văn hóa chữ viết, vốn dĩ tồn tại trên các bề mặt phẳng vật chất của đất, đá, gỗ, đồng, da thú, lá cây, và nhất là giấy, tức là thuộc phạm trù văn hóa vật thể, đã tự động chuyển dạng thành những sản phẩm của văn hóa phi vật thể, văn hóa ảo. Chúng ta đang trải nghiệm thứ văn hóa chữ viết đồng thời tồn tại trên giấy in và trên trang điện tử, có thể in từ trang điện tử ra giấy. Nhưng khi một văn phẩm nào đó chỉ tồn tại duy nhất trên trang điện tử thôi, nếu lúc nào đó nó bị xóa mất bởi ai đó, thì làm sao tìm lại? Đó là vấn đề. Có vẻ như, tính đến hiện nay thì đây dường như là điều không thể làm được? Trên thực tế, trong vòng trên 10 năm qua, chúng ta cũng đã biết có một lượng sản phẩm nhất định của giới làm văn học chữ Việt trên Internet đã bị hacker xóa mất không khôi phục được. Quả thật đây là những thực tại mới, đòi hỏi những đối sách mới. Nếu đó là điều dường như quá tầm đối với thế hệ tôi, chẳng hạn, thì đó là việc buộc phải xử lý của các thế hệ mới. Nhân loại đã sáng tạo ra cái thực tại ảo như Internet thì hẳn sớm muộn gì cũng tìm được đủ cách để quản trị nó, khắc phục những rủi ro nảy sinh bởi nó.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
CHUYỂN ĐỘNG CÔNG THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHUYẾN MÃI
WEB GIÁ RẺ
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
QUẢN TRỊ SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
DỮ LIỆU DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
QUY HOẠCH - HẠ TẦNG
DỰ ÁN
GÓC TƯ VẤN
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: “Thực tại mới đòi hỏi đối sách mới”
Thứ Ba,  25/3/2014, 10:17 
Nguyễn Vĩnh Nguyên thực hiện

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: “Thực tại mới đòi hỏi đối sách mới”

Nguyễn Vĩnh Nguyên thực hiện

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân.

(TBKTSG) - Chừng 15 năm trở lại đây, ông dụng công cho nghiên cứu sưu tầm, hệ thống hóa, giới thiệu trở lại hàng loạt tác phẩm của các tác gia quan trọng như Phan Khôi, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng... Nhiều tác phẩm quý đã được ông “trục vớt”, nhiều giai đoạn báo chí, văn nghệ phức tạp trong quá khứ nhờ vậy, dần dần được công chúng nhìn nhận lại khách quan hơn.

Nhân cuốn Tìm lại di sản, tập tiểu luận phê bình nói về các vấn đề xoay quanh việc “trục vớt” di sản ngôn ngữ, văn chương của Lại Nguyên Ân vừa được NXB Văn hóa Văn nghệ cho ra mắt, TBKTSG đã có cuộc trao đổi với ông.

TBKTSG: Trong diễn từ nhận giải thưởng Phan Châu Trinh (2010), ông nói đại ý, việc bằng lòng với những tác giả được cho là “tiêu biểu” của mỗi giai đoạn văn học, báo chí trong quá khứ dễ làm chúng ta yên tâm; nhưng cái gọi là “tiêu biểu” đó thật phiến diện và méo mó. Nó làm cho nhiều tác gia quan trọng trong đời sống văn chương, ngôn luận ngày hôm qua, vì nhiều lý do, bị quên lãng. Vậy thưa ông, tư duy lựa chọn “tiêu biểu” kia thường bị chi phối hay khống chế bởi điều gì?

- Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: Tư duy lựa chọn cái gọi là “tiêu biểu” của di sản quá khứ gần và xa, bộc lộ rõ rệt ở miền Bắc kể từ những năm 1957-1958, ví dụ, đối với văn học trước 1945, người ta lọc những gì là “tiêu biểu” chỉ trong phạm vi được coi là văn học cách mạng hoặc hiện thực phê phán, loại bỏ tất cả những gì được coi là lãng mạn, thoát ly, tiêu cực..., lại cũng loại bỏ tất cả những tác giả đã từng bị coi là tay sai phong kiến đế quốc. Tư duy này phát tác rộng ra cả nước từ sau năm 1975, đo đếm và loại bỏ tràn lan đối với các loại di sản gần và xa theo quan niệm, theo lợi ích của bên thắng cuộc. Cái tư duy phiến diện ấy, suy cho cùng, bộc lộ ý muốn của những người tự xem là chủ thể mới của cuộc sống này, từ đấy trở đi.

TBKTSG: Dữ liệu về lịch sử kỹ thuật, công nghệ xuất bản, phương thức kinh doanh ấn phẩm và thị trường trong từng thời kỳ, từng bối cảnh... sẽ giúp nhà nghiên cứu văn bản phát hiện và kiến giải, giới thiệu sâu hơn về các di sản “trục vớt” được. Nhưng tình hình những dữ liệu liên ngành như thế hiện nay ra sao, thưa ông?

- Có một sự trái ngược đến nản lòng những ai làm việc với di sản chữ Quốc ngữ thời trước, nếu định so đo với các đồng nghiệp ở khu vực Hán Nôm; những ván khắc đã dập ra hàng loạt cuốn sách rồi, tức là đã xong việc rồi, vẫn được lưu giữ, được phong cấp di sản quốc gia, di sản nhân loại để gìn giữ lâu dài. Trong khi ấy, đối với di sản chữ Quốc ngữ thì, hiện tại rất khó tìm ra những chiếc máy in typo với các khuôn chữ chì! Đến một vài cái nhà kho tử tế cũng chưa chắc đã có, nói gì đến bảo tàng! Thời của những chiếc máy in typo ấy chỉ mới kết thúc hồi những năm 1980-1990 đây thôi. Thế mà công chúng hiện tại đã không còn hình dung được, ví dụ, những con chữ bị rơi khỏi khuôn in, hoặc ngẫu nhiên hoặc được bàn tay thợ gạt vào một khe hở nào đấy, trở thành hiện tượng nhảy chữ kỳ lạ trên bản in! Người ta cũng không hiểu lý do tồn tại của những khoảng trắng trên trang in, khi những hàng chữ nhất định bị đục bỏ bởi kiểm duyệt! Có rất nhiều điều như thể “hư không đặt để nên lời” mà người sưu tầm nghiên cứu di sản Quốc ngữ thời trước phải đối mặt. Hiện tại thì tất cả giải pháp mới chỉ là kinh nghiệm cá nhân và sự hỗ trợ lẫn nhau của những người cùng chung ham mê, thế thôi.

TBKTSG: Công việc của nhà sưu tầm, khảo cứu, nghiên cứu văn bản có thể hiểu là chạy đua với thời gian, chống lại sự quên lãng, nhưng lại cần sự điềm tĩnh, trầm lặng và thận trọng. Hẳn là một sự điều tiết tự thân đầy khó khăn và thú vị?

- Khảo cứu sưu tầm văn bản cũng là tiến trình kiếm tìm và xử lý thông tin. Kiếm tìm thường tốn nhiều thời gian, có khi khá dài, và thất bại nhiều hơn thành công; tìm từng chút một, cần lưu giữ, tích lũy lại, đến một mức nào đó cho là đủ mới có thể xử lý, rồi thông báo, tái công bố. Người đi tìm có khi đột nhiên lanh lẹ khác thường, khi thấy có thể “tóm” được một dữ liệu đáng kể nào đấy. Nhưng thường ngày thì đấy là người trầm tĩnh, ôn tồn. Nét tính cách này cũng định hình dần dần, do công việc, thời gian, tuổi tác, và chưa chắc đã thú vị đâu, nhất là đối với tuổi trẻ!

TBKTSG: Ngày nay, sự phát triển về kỹ thuật số dẫn đến những thay đổi về phương thức xuất bản, cách đọc... Theo ông dự báo, điều đó lợi, hại thế nào đối với những nhà nghiên cứu văn bản tương lai khi tìm cách “trục vớt” những di sản của thời kỳ mà chúng ta đang sống?

- Với kỹ thuật số, có thể nói, tất cả những gì là văn hóa chữ viết, vốn dĩ tồn tại trên các bề mặt phẳng vật chất của đất, đá, gỗ, đồng, da thú, lá cây, và nhất là giấy, tức là thuộc phạm trù văn hóa vật thể, đã tự động chuyển dạng thành những sản phẩm của văn hóa phi vật thể, văn hóa ảo. Chúng ta đang trải nghiệm thứ văn hóa chữ viết đồng thời tồn tại trên giấy in và trên trang điện tử, có thể in từ trang điện tử ra giấy. Nhưng khi một văn phẩm nào đó chỉ tồn tại duy nhất trên trang điện tử thôi, nếu lúc nào đó nó bị xóa mất bởi ai đó, thì làm sao tìm lại? Đó là vấn đề. Có vẻ như, tính đến hiện nay thì đây dường như là điều không thể làm được? Trên thực tế, trong vòng trên 10 năm qua, chúng ta cũng đã biết có một lượng sản phẩm nhất định của giới làm văn học chữ Việt trên Internet đã bị hacker xóa mất không khôi phục được. Quả thật đây là những thực tại mới, đòi hỏi những đối sách mới. Nếu đó là điều dường như quá tầm đối với thế hệ tôi, chẳng hạn, thì đó là việc buộc phải xử lý của các thế hệ mới. Nhân loại đã sáng tạo ra cái thực tại ảo như Internet thì hẳn sớm muộn gì cũng tìm được đủ cách để quản trị nó, khắc phục những rủi ro nảy sinh bởi nó.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Mobile

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: “Thực tại mới đòi hỏi đối sách mới”
Thứ Ba,  25/3/2014, 10:17 
Nguyễn Vĩnh Nguyên thực hiện

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: “Thực tại mới đòi hỏi đối sách mới”

Nguyễn Vĩnh Nguyên thực hiện

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân.

(TBKTSG) - Chừng 15 năm trở lại đây, ông dụng công cho nghiên cứu sưu tầm, hệ thống hóa, giới thiệu trở lại hàng loạt tác phẩm của các tác gia quan trọng như Phan Khôi, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng... Nhiều tác phẩm quý đã được ông “trục vớt”, nhiều giai đoạn báo chí, văn nghệ phức tạp trong quá khứ nhờ vậy, dần dần được công chúng nhìn nhận lại khách quan hơn.

Nhân cuốn Tìm lại di sản, tập tiểu luận phê bình nói về các vấn đề xoay quanh việc “trục vớt” di sản ngôn ngữ, văn chương của Lại Nguyên Ân vừa được NXB Văn hóa Văn nghệ cho ra mắt, TBKTSG đã có cuộc trao đổi với ông.

TBKTSG: Trong diễn từ nhận giải thưởng Phan Châu Trinh (2010), ông nói đại ý, việc bằng lòng với những tác giả được cho là “tiêu biểu” của mỗi giai đoạn văn học, báo chí trong quá khứ dễ làm chúng ta yên tâm; nhưng cái gọi là “tiêu biểu” đó thật phiến diện và méo mó. Nó làm cho nhiều tác gia quan trọng trong đời sống văn chương, ngôn luận ngày hôm qua, vì nhiều lý do, bị quên lãng. Vậy thưa ông, tư duy lựa chọn “tiêu biểu” kia thường bị chi phối hay khống chế bởi điều gì?

- Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: Tư duy lựa chọn cái gọi là “tiêu biểu” của di sản quá khứ gần và xa, bộc lộ rõ rệt ở miền Bắc kể từ những năm 1957-1958, ví dụ, đối với văn học trước 1945, người ta lọc những gì là “tiêu biểu” chỉ trong phạm vi được coi là văn học cách mạng hoặc hiện thực phê phán, loại bỏ tất cả những gì được coi là lãng mạn, thoát ly, tiêu cực..., lại cũng loại bỏ tất cả những tác giả đã từng bị coi là tay sai phong kiến đế quốc. Tư duy này phát tác rộng ra cả nước từ sau năm 1975, đo đếm và loại bỏ tràn lan đối với các loại di sản gần và xa theo quan niệm, theo lợi ích của bên thắng cuộc. Cái tư duy phiến diện ấy, suy cho cùng, bộc lộ ý muốn của những người tự xem là chủ thể mới của cuộc sống này, từ đấy trở đi.

TBKTSG: Dữ liệu về lịch sử kỹ thuật, công nghệ xuất bản, phương thức kinh doanh ấn phẩm và thị trường trong từng thời kỳ, từng bối cảnh... sẽ giúp nhà nghiên cứu văn bản phát hiện và kiến giải, giới thiệu sâu hơn về các di sản “trục vớt” được. Nhưng tình hình những dữ liệu liên ngành như thế hiện nay ra sao, thưa ông?

- Có một sự trái ngược đến nản lòng những ai làm việc với di sản chữ Quốc ngữ thời trước, nếu định so đo với các đồng nghiệp ở khu vực Hán Nôm; những ván khắc đã dập ra hàng loạt cuốn sách rồi, tức là đã xong việc rồi, vẫn được lưu giữ, được phong cấp di sản quốc gia, di sản nhân loại để gìn giữ lâu dài. Trong khi ấy, đối với di sản chữ Quốc ngữ thì, hiện tại rất khó tìm ra những chiếc máy in typo với các khuôn chữ chì! Đến một vài cái nhà kho tử tế cũng chưa chắc đã có, nói gì đến bảo tàng! Thời của những chiếc máy in typo ấy chỉ mới kết thúc hồi những năm 1980-1990 đây thôi. Thế mà công chúng hiện tại đã không còn hình dung được, ví dụ, những con chữ bị rơi khỏi khuôn in, hoặc ngẫu nhiên hoặc được bàn tay thợ gạt vào một khe hở nào đấy, trở thành hiện tượng nhảy chữ kỳ lạ trên bản in! Người ta cũng không hiểu lý do tồn tại của những khoảng trắng trên trang in, khi những hàng chữ nhất định bị đục bỏ bởi kiểm duyệt! Có rất nhiều điều như thể “hư không đặt để nên lời” mà người sưu tầm nghiên cứu di sản Quốc ngữ thời trước phải đối mặt. Hiện tại thì tất cả giải pháp mới chỉ là kinh nghiệm cá nhân và sự hỗ trợ lẫn nhau của những người cùng chung ham mê, thế thôi.

TBKTSG: Công việc của nhà sưu tầm, khảo cứu, nghiên cứu văn bản có thể hiểu là chạy đua với thời gian, chống lại sự quên lãng, nhưng lại cần sự điềm tĩnh, trầm lặng và thận trọng. Hẳn là một sự điều tiết tự thân đầy khó khăn và thú vị?

- Khảo cứu sưu tầm văn bản cũng là tiến trình kiếm tìm và xử lý thông tin. Kiếm tìm thường tốn nhiều thời gian, có khi khá dài, và thất bại nhiều hơn thành công; tìm từng chút một, cần lưu giữ, tích lũy lại, đến một mức nào đó cho là đủ mới có thể xử lý, rồi thông báo, tái công bố. Người đi tìm có khi đột nhiên lanh lẹ khác thường, khi thấy có thể “tóm” được một dữ liệu đáng kể nào đấy. Nhưng thường ngày thì đấy là người trầm tĩnh, ôn tồn. Nét tính cách này cũng định hình dần dần, do công việc, thời gian, tuổi tác, và chưa chắc đã thú vị đâu, nhất là đối với tuổi trẻ!

TBKTSG: Ngày nay, sự phát triển về kỹ thuật số dẫn đến những thay đổi về phương thức xuất bản, cách đọc... Theo ông dự báo, điều đó lợi, hại thế nào đối với những nhà nghiên cứu văn bản tương lai khi tìm cách “trục vớt” những di sản của thời kỳ mà chúng ta đang sống?

- Với kỹ thuật số, có thể nói, tất cả những gì là văn hóa chữ viết, vốn dĩ tồn tại trên các bề mặt phẳng vật chất của đất, đá, gỗ, đồng, da thú, lá cây, và nhất là giấy, tức là thuộc phạm trù văn hóa vật thể, đã tự động chuyển dạng thành những sản phẩm của văn hóa phi vật thể, văn hóa ảo. Chúng ta đang trải nghiệm thứ văn hóa chữ viết đồng thời tồn tại trên giấy in và trên trang điện tử, có thể in từ trang điện tử ra giấy. Nhưng khi một văn phẩm nào đó chỉ tồn tại duy nhất trên trang điện tử thôi, nếu lúc nào đó nó bị xóa mất bởi ai đó, thì làm sao tìm lại? Đó là vấn đề. Có vẻ như, tính đến hiện nay thì đây dường như là điều không thể làm được? Trên thực tế, trong vòng trên 10 năm qua, chúng ta cũng đã biết có một lượng sản phẩm nhất định của giới làm văn học chữ Việt trên Internet đã bị hacker xóa mất không khôi phục được. Quả thật đây là những thực tại mới, đòi hỏi những đối sách mới. Nếu đó là điều dường như quá tầm đối với thế hệ tôi, chẳng hạn, thì đó là việc buộc phải xử lý của các thế hệ mới. Nhân loại đã sáng tạo ra cái thực tại ảo như Internet thì hẳn sớm muộn gì cũng tìm được đủ cách để quản trị nó, khắc phục những rủi ro nảy sinh bởi nó.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC