Thứ Ba,  25/9/2018, 10:02 
Đặt báo in

Biến đổi khí hậu, cuối năm nhìn lại...

TS. Lê Anh Tuấn (*)
Thứ Năm,  12/1/2012, 10:50 

Biến đổi khí hậu, cuối năm nhìn lại...

TS. Lê Anh Tuấn (*)

Lũ 2011 là cơn lũ lớn và kéo dài nhất ở ĐBSCL sau cơn lũ lịch sử năm 2000. Ảnh: Lê Anh Tuấn.

(TBKTSG Online) - Năm qua tiếp tục là một mùa khô khắc nghiệt trong nhiều năm nay đối với ĐBSCL. Mặc dù nhiệt độ không khí không cao hơn năm 2010 nhưng kéo dài, kèm theo sự sụt giảm dòng chảy và gia tăng xâm nhập mặn làm nhiều nông dân trồng lúa, trồng màu và nuôi trồng thủy sản điêu đứng, đặc biệt ở các vùng ven biển. Thời tiết cực đoan bất thường cũng là tác nhân khiến dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi gia tăng.

Mùa khô khắc nghiệt, bão lũ nặng nề

Trong cả hai vụ đông xuân và hè thu năm nay, tất cả các vùng trồng lúa đều có ghi nhận sự xuất hiện bệnh rầy nâu, vàng lùn và lùn – xoắn lá. Các loại sâu bệnh này làn tràn mạnh khi có sự biến động lớn về nhiệt độ và độ ẩm trong khu vực. Nhiều vùng nuôi tôm, nuôi nghêu, nuôi sò huyết… ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre bị thiệt hại nặng nề do nguồn nước nuôi bị sốc nhiệt và sốc mặn đột ngột. Hệ quả là nhiều nhà máy chế biến nông thủy sản lâm vào tình trạng thiếu nguyên liệu để hoạt động mặc dù họ đã đồng loạt tăng giá mua nguyên liệu. Nhiều công nhân chỉ còn làm việc một phần ba thời gian khiến đời sống thêm khó khăn.

Trong cả nước, mùa mưa 2011 lại đến sớm hơn năm 2010. Vào cuối tháng 4-2011 đã có nhiều trận mưa bất chợt lớn trong khi năm 2010 phải đến giữa tháng 5 mùa mưa mới bắt đầu. Bất ngờ cho nông dân nhất là năm qua lại là năm lũ lớn chỉ kém hơn hơn cơn lũ lịch sử năm 2000, dù nhiều năm trước đó lưu lượng và chiều cao đỉnh lũ có xu thế thấp dần. Đặc biệt là chỉ trong một thời gian ngắn, từ tháng 7 đến tháng 9, ở miền Trung, các cơn áp thấp nhiệt đới và bão đã xuất hiện liên tục. Các cơn bão này cùng gió tây nam đã tạo ra nhiều trận mưa lớn ở vùng thượng và trung lưu sông Mekong cũng như tại vùng ĐBSCL khiến nước lũ tràn về ĐBSCL rất mạnh, kết hợp với triều cường ở biển Đông làm nước dâng cao, ngập chìm nhiều ruộng vườn và làng mạc trong khu vực.

Các vùng đô thị cũng ghi nhận mực nước lên cao và thời gian ngập kéo dài hơn so với nhiều năm trước đó. Lũ năm 2011 gây nhiều thiệt hại về tài sản và công sức của người dân vùng ĐBSCL..

Hội nghị khí hậu 2011 ở Nam Phi đạt được kết quả gì?

Gần hai tuần lễ từ cuối tháng 11 đến hết thượng tuần tháng 12-2011, nhiều đại biểu của gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đến Durban, Nam Phi tham dự Hội nghị lần thứ 17 Công ước về Biến đổi Khí hậu hay còn gọi tắt là Hội nghị COP 17/CMP 7. Mục tiêu của hội nghị Durban là bàn các giải pháp để đạt đến một cam kết mang tính pháp lý nhằm hạn chế sự phát thải khí nhà kính đã đến mức báo động đỏ. Chương trình nghị sự hàng đầu của COP 17 là cố gắng cho một thỏa ước duy trì Nghị định thư Kyoto 1997, vốn sẽ hết  hiệu lực vào cuối năm 2012.

Một mục tiêu khác nữa của hội nghị khí hậu 2011 là các quốc gia bàn việc thành lập một Quỹ Khí hậu xanh vào năm 2020 với kế hoạch kinh phí cần thiết phải có mỗi năm chừng 100 tỉ đô la Mỹ hỗ trợ cho các nước chịu nhiều rủi ro và thương tổn ngày càng tồi tệ hơn do các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai bất thường do biến đổi khí hậu gây nên.

Hội nghị lần này cũng đã bộc lộ nhiều sự khác biệt, gây bất đồng giữa nhóm các quốc gia phát triển hàng đầu (Mỹ, Nhật, Đức …), nhóm các quốc gia mới trỗi dậy (Trung Quốc, Ấn Độ…) và nhóm những nước nghèo (Nam Á và Phi châu). Cuối cùng, đa số các nước tham dự COP 17 đã thỏa thuận một lộ trình mới đàm phán về hiệp ước cắt giảm khí thải mang tên Nền tảng hành động nâng cao Durban cho kế hoạch chống biến đổi khí hậu 10 năm tới.

Theo dự kiến, Nền tảng hành động nâng cao Durban sẽ hoàn tất vào năm 2015 và có hiệu lực vào năm 2020. Các nước cũng gia hạn Nghị định thư Kyoto (ủng hộ cơ chế phát triển sạch) sang giai đoạn hai, sau năm 2012, thêm 5 năm nữa (2013-2017) và sớm tìm cách thành lập Quỹ Khí hậu. Mặc dù vậy, nhiều tổ chức bảo vệ môi trường đã cho rằng thành quả mong đợi tại COP 17 - Durban thấp hơn kỳ vọng rất nhiều vì những nỗ lực đạt được chỉ làm thế giới giảm chừng 60% lượng khí nhà kính so với mục tiêu giữ cho nồng độ CO2 tương đương trên toàn cầu dưới mức 350 ppm. Nồng độ CO2 trong khí quyển gia tăng cao như hiện này thì khó mà giữ cho nhiệt độ trên trái đất tăng không quá 20C cho thập niên tới. 

Thách thức

Trong buổi hội thảo với chủ đề "Sống chung với rủi ro: đẩy lùi thiên tai để phát triển bền vững", quyền đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, bà Kanni Wignaraja, cho rằng cùng khẩu hiệu "Sống chung với rủi ro", Việt Nam cần giải quyết bốn vấn đề như những thách thức cho phát triển bền vững:

1/ Chuyển đổi phương thức tiếp cận từ đối phó thiên tai sang giảm thiểu rủi ro. Trong các chương trình quy hoạch phát triển các ngành kinh tế và xã hội, nên gắn chiến lược giảm thiểu rủi ro do thiên tai vào quá trình xóa đói giảm nghèo, quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo trợ xã hội.

2/ Tăng cường năng lực cho các cấp địa phương để có khả năng phát hiện nhanh rủi ro, đánh giá tác động của chúng cũng như xây dựng và vận hành các hệ thống dự báo, cảnh báo.

3/ Chú ý tới tầm quan trọng của việc tiếp cận thông tin, giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân.

4/ Quản lý rủi ro thiên tai đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức và cá nhân, thuộc mọi lĩnh vực.

Trong các năm tới, Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng, vẫn phải tiếp tục chuẩn bị các biện pháp khả dĩ ứng phó với các thách thức từ thiên tai và biến đổi khí hậu. Bài học lớn nhất cho thấy an ninh nguồn nước vẫn là vấn đề lớn nhất cho các nguy cơ về an ninh lương thực và an ninh xã hội.

Việt Nam phải cùng tìm kiếm sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế và các tổ chức của chính phủ và phi chính phủ để xây dựng một chương trình hành động ở các cấp một cách hiệu quả với biến đổi khí hậu, phát triển xã hội bền vững, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hướng đến các mô hình sản xuất ít carbon và hạn chế tối đa sự ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí.

Biểu trưng của Hội nghị Khí hậu Nam Phi năm 2011: cây Bao báp (Bombac) với những cành trơ trụi trùm lên các vùng khô cằn của trái đất.

____________________________________________

(*) Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ

In bài Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
GIAO THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHUYẾN MÃI
WEB GIÁ RẺ
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
QUẢN TRỊ SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
DỮ LIỆU DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
QUY HOẠCH - HẠ TẦNG
DỰ ÁN
GÓC TƯ VẤN
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.
Biến đổi khí hậu, cuối năm nhìn lại...
Thứ Năm,  12/1/2012, 10:50 
TS. Lê Anh Tuấn (*)

Biến đổi khí hậu, cuối năm nhìn lại...

TS. Lê Anh Tuấn (*)

Lũ 2011 là cơn lũ lớn và kéo dài nhất ở ĐBSCL sau cơn lũ lịch sử năm 2000. Ảnh: Lê Anh Tuấn.

(TBKTSG Online) - Năm qua tiếp tục là một mùa khô khắc nghiệt trong nhiều năm nay đối với ĐBSCL. Mặc dù nhiệt độ không khí không cao hơn năm 2010 nhưng kéo dài, kèm theo sự sụt giảm dòng chảy và gia tăng xâm nhập mặn làm nhiều nông dân trồng lúa, trồng màu và nuôi trồng thủy sản điêu đứng, đặc biệt ở các vùng ven biển. Thời tiết cực đoan bất thường cũng là tác nhân khiến dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi gia tăng.

Mùa khô khắc nghiệt, bão lũ nặng nề

Trong cả hai vụ đông xuân và hè thu năm nay, tất cả các vùng trồng lúa đều có ghi nhận sự xuất hiện bệnh rầy nâu, vàng lùn và lùn – xoắn lá. Các loại sâu bệnh này làn tràn mạnh khi có sự biến động lớn về nhiệt độ và độ ẩm trong khu vực. Nhiều vùng nuôi tôm, nuôi nghêu, nuôi sò huyết… ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre bị thiệt hại nặng nề do nguồn nước nuôi bị sốc nhiệt và sốc mặn đột ngột. Hệ quả là nhiều nhà máy chế biến nông thủy sản lâm vào tình trạng thiếu nguyên liệu để hoạt động mặc dù họ đã đồng loạt tăng giá mua nguyên liệu. Nhiều công nhân chỉ còn làm việc một phần ba thời gian khiến đời sống thêm khó khăn.

Trong cả nước, mùa mưa 2011 lại đến sớm hơn năm 2010. Vào cuối tháng 4-2011 đã có nhiều trận mưa bất chợt lớn trong khi năm 2010 phải đến giữa tháng 5 mùa mưa mới bắt đầu. Bất ngờ cho nông dân nhất là năm qua lại là năm lũ lớn chỉ kém hơn hơn cơn lũ lịch sử năm 2000, dù nhiều năm trước đó lưu lượng và chiều cao đỉnh lũ có xu thế thấp dần. Đặc biệt là chỉ trong một thời gian ngắn, từ tháng 7 đến tháng 9, ở miền Trung, các cơn áp thấp nhiệt đới và bão đã xuất hiện liên tục. Các cơn bão này cùng gió tây nam đã tạo ra nhiều trận mưa lớn ở vùng thượng và trung lưu sông Mekong cũng như tại vùng ĐBSCL khiến nước lũ tràn về ĐBSCL rất mạnh, kết hợp với triều cường ở biển Đông làm nước dâng cao, ngập chìm nhiều ruộng vườn và làng mạc trong khu vực.

Các vùng đô thị cũng ghi nhận mực nước lên cao và thời gian ngập kéo dài hơn so với nhiều năm trước đó. Lũ năm 2011 gây nhiều thiệt hại về tài sản và công sức của người dân vùng ĐBSCL..

Hội nghị khí hậu 2011 ở Nam Phi đạt được kết quả gì?

Gần hai tuần lễ từ cuối tháng 11 đến hết thượng tuần tháng 12-2011, nhiều đại biểu của gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đến Durban, Nam Phi tham dự Hội nghị lần thứ 17 Công ước về Biến đổi Khí hậu hay còn gọi tắt là Hội nghị COP 17/CMP 7. Mục tiêu của hội nghị Durban là bàn các giải pháp để đạt đến một cam kết mang tính pháp lý nhằm hạn chế sự phát thải khí nhà kính đã đến mức báo động đỏ. Chương trình nghị sự hàng đầu của COP 17 là cố gắng cho một thỏa ước duy trì Nghị định thư Kyoto 1997, vốn sẽ hết  hiệu lực vào cuối năm 2012.

Một mục tiêu khác nữa của hội nghị khí hậu 2011 là các quốc gia bàn việc thành lập một Quỹ Khí hậu xanh vào năm 2020 với kế hoạch kinh phí cần thiết phải có mỗi năm chừng 100 tỉ đô la Mỹ hỗ trợ cho các nước chịu nhiều rủi ro và thương tổn ngày càng tồi tệ hơn do các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai bất thường do biến đổi khí hậu gây nên.

Hội nghị lần này cũng đã bộc lộ nhiều sự khác biệt, gây bất đồng giữa nhóm các quốc gia phát triển hàng đầu (Mỹ, Nhật, Đức …), nhóm các quốc gia mới trỗi dậy (Trung Quốc, Ấn Độ…) và nhóm những nước nghèo (Nam Á và Phi châu). Cuối cùng, đa số các nước tham dự COP 17 đã thỏa thuận một lộ trình mới đàm phán về hiệp ước cắt giảm khí thải mang tên Nền tảng hành động nâng cao Durban cho kế hoạch chống biến đổi khí hậu 10 năm tới.

Theo dự kiến, Nền tảng hành động nâng cao Durban sẽ hoàn tất vào năm 2015 và có hiệu lực vào năm 2020. Các nước cũng gia hạn Nghị định thư Kyoto (ủng hộ cơ chế phát triển sạch) sang giai đoạn hai, sau năm 2012, thêm 5 năm nữa (2013-2017) và sớm tìm cách thành lập Quỹ Khí hậu. Mặc dù vậy, nhiều tổ chức bảo vệ môi trường đã cho rằng thành quả mong đợi tại COP 17 - Durban thấp hơn kỳ vọng rất nhiều vì những nỗ lực đạt được chỉ làm thế giới giảm chừng 60% lượng khí nhà kính so với mục tiêu giữ cho nồng độ CO2 tương đương trên toàn cầu dưới mức 350 ppm. Nồng độ CO2 trong khí quyển gia tăng cao như hiện này thì khó mà giữ cho nhiệt độ trên trái đất tăng không quá 20C cho thập niên tới. 

Thách thức

Trong buổi hội thảo với chủ đề "Sống chung với rủi ro: đẩy lùi thiên tai để phát triển bền vững", quyền đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, bà Kanni Wignaraja, cho rằng cùng khẩu hiệu "Sống chung với rủi ro", Việt Nam cần giải quyết bốn vấn đề như những thách thức cho phát triển bền vững:

1/ Chuyển đổi phương thức tiếp cận từ đối phó thiên tai sang giảm thiểu rủi ro. Trong các chương trình quy hoạch phát triển các ngành kinh tế và xã hội, nên gắn chiến lược giảm thiểu rủi ro do thiên tai vào quá trình xóa đói giảm nghèo, quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo trợ xã hội.

2/ Tăng cường năng lực cho các cấp địa phương để có khả năng phát hiện nhanh rủi ro, đánh giá tác động của chúng cũng như xây dựng và vận hành các hệ thống dự báo, cảnh báo.

3/ Chú ý tới tầm quan trọng của việc tiếp cận thông tin, giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân.

4/ Quản lý rủi ro thiên tai đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức và cá nhân, thuộc mọi lĩnh vực.

Trong các năm tới, Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng, vẫn phải tiếp tục chuẩn bị các biện pháp khả dĩ ứng phó với các thách thức từ thiên tai và biến đổi khí hậu. Bài học lớn nhất cho thấy an ninh nguồn nước vẫn là vấn đề lớn nhất cho các nguy cơ về an ninh lương thực và an ninh xã hội.

Việt Nam phải cùng tìm kiếm sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế và các tổ chức của chính phủ và phi chính phủ để xây dựng một chương trình hành động ở các cấp một cách hiệu quả với biến đổi khí hậu, phát triển xã hội bền vững, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hướng đến các mô hình sản xuất ít carbon và hạn chế tối đa sự ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí.

Biểu trưng của Hội nghị Khí hậu Nam Phi năm 2011: cây Bao báp (Bombac) với những cành trơ trụi trùm lên các vùng khô cằn của trái đất.

____________________________________________

(*) Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC

Mobile

Biến đổi khí hậu, cuối năm nhìn lại...
Thứ Năm,  12/1/2012, 10:50 
TS. Lê Anh Tuấn (*)

Biến đổi khí hậu, cuối năm nhìn lại...

TS. Lê Anh Tuấn (*)

Lũ 2011 là cơn lũ lớn và kéo dài nhất ở ĐBSCL sau cơn lũ lịch sử năm 2000. Ảnh: Lê Anh Tuấn.

(TBKTSG Online) - Năm qua tiếp tục là một mùa khô khắc nghiệt trong nhiều năm nay đối với ĐBSCL. Mặc dù nhiệt độ không khí không cao hơn năm 2010 nhưng kéo dài, kèm theo sự sụt giảm dòng chảy và gia tăng xâm nhập mặn làm nhiều nông dân trồng lúa, trồng màu và nuôi trồng thủy sản điêu đứng, đặc biệt ở các vùng ven biển. Thời tiết cực đoan bất thường cũng là tác nhân khiến dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi gia tăng.

Mùa khô khắc nghiệt, bão lũ nặng nề

Trong cả hai vụ đông xuân và hè thu năm nay, tất cả các vùng trồng lúa đều có ghi nhận sự xuất hiện bệnh rầy nâu, vàng lùn và lùn – xoắn lá. Các loại sâu bệnh này làn tràn mạnh khi có sự biến động lớn về nhiệt độ và độ ẩm trong khu vực. Nhiều vùng nuôi tôm, nuôi nghêu, nuôi sò huyết… ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre bị thiệt hại nặng nề do nguồn nước nuôi bị sốc nhiệt và sốc mặn đột ngột. Hệ quả là nhiều nhà máy chế biến nông thủy sản lâm vào tình trạng thiếu nguyên liệu để hoạt động mặc dù họ đã đồng loạt tăng giá mua nguyên liệu. Nhiều công nhân chỉ còn làm việc một phần ba thời gian khiến đời sống thêm khó khăn.

Trong cả nước, mùa mưa 2011 lại đến sớm hơn năm 2010. Vào cuối tháng 4-2011 đã có nhiều trận mưa bất chợt lớn trong khi năm 2010 phải đến giữa tháng 5 mùa mưa mới bắt đầu. Bất ngờ cho nông dân nhất là năm qua lại là năm lũ lớn chỉ kém hơn hơn cơn lũ lịch sử năm 2000, dù nhiều năm trước đó lưu lượng và chiều cao đỉnh lũ có xu thế thấp dần. Đặc biệt là chỉ trong một thời gian ngắn, từ tháng 7 đến tháng 9, ở miền Trung, các cơn áp thấp nhiệt đới và bão đã xuất hiện liên tục. Các cơn bão này cùng gió tây nam đã tạo ra nhiều trận mưa lớn ở vùng thượng và trung lưu sông Mekong cũng như tại vùng ĐBSCL khiến nước lũ tràn về ĐBSCL rất mạnh, kết hợp với triều cường ở biển Đông làm nước dâng cao, ngập chìm nhiều ruộng vườn và làng mạc trong khu vực.

Các vùng đô thị cũng ghi nhận mực nước lên cao và thời gian ngập kéo dài hơn so với nhiều năm trước đó. Lũ năm 2011 gây nhiều thiệt hại về tài sản và công sức của người dân vùng ĐBSCL..

Hội nghị khí hậu 2011 ở Nam Phi đạt được kết quả gì?

Gần hai tuần lễ từ cuối tháng 11 đến hết thượng tuần tháng 12-2011, nhiều đại biểu của gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đến Durban, Nam Phi tham dự Hội nghị lần thứ 17 Công ước về Biến đổi Khí hậu hay còn gọi tắt là Hội nghị COP 17/CMP 7. Mục tiêu của hội nghị Durban là bàn các giải pháp để đạt đến một cam kết mang tính pháp lý nhằm hạn chế sự phát thải khí nhà kính đã đến mức báo động đỏ. Chương trình nghị sự hàng đầu của COP 17 là cố gắng cho một thỏa ước duy trì Nghị định thư Kyoto 1997, vốn sẽ hết  hiệu lực vào cuối năm 2012.

Một mục tiêu khác nữa của hội nghị khí hậu 2011 là các quốc gia bàn việc thành lập một Quỹ Khí hậu xanh vào năm 2020 với kế hoạch kinh phí cần thiết phải có mỗi năm chừng 100 tỉ đô la Mỹ hỗ trợ cho các nước chịu nhiều rủi ro và thương tổn ngày càng tồi tệ hơn do các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai bất thường do biến đổi khí hậu gây nên.

Hội nghị lần này cũng đã bộc lộ nhiều sự khác biệt, gây bất đồng giữa nhóm các quốc gia phát triển hàng đầu (Mỹ, Nhật, Đức …), nhóm các quốc gia mới trỗi dậy (Trung Quốc, Ấn Độ…) và nhóm những nước nghèo (Nam Á và Phi châu). Cuối cùng, đa số các nước tham dự COP 17 đã thỏa thuận một lộ trình mới đàm phán về hiệp ước cắt giảm khí thải mang tên Nền tảng hành động nâng cao Durban cho kế hoạch chống biến đổi khí hậu 10 năm tới.

Theo dự kiến, Nền tảng hành động nâng cao Durban sẽ hoàn tất vào năm 2015 và có hiệu lực vào năm 2020. Các nước cũng gia hạn Nghị định thư Kyoto (ủng hộ cơ chế phát triển sạch) sang giai đoạn hai, sau năm 2012, thêm 5 năm nữa (2013-2017) và sớm tìm cách thành lập Quỹ Khí hậu. Mặc dù vậy, nhiều tổ chức bảo vệ môi trường đã cho rằng thành quả mong đợi tại COP 17 - Durban thấp hơn kỳ vọng rất nhiều vì những nỗ lực đạt được chỉ làm thế giới giảm chừng 60% lượng khí nhà kính so với mục tiêu giữ cho nồng độ CO2 tương đương trên toàn cầu dưới mức 350 ppm. Nồng độ CO2 trong khí quyển gia tăng cao như hiện này thì khó mà giữ cho nhiệt độ trên trái đất tăng không quá 20C cho thập niên tới. 

Thách thức

Trong buổi hội thảo với chủ đề "Sống chung với rủi ro: đẩy lùi thiên tai để phát triển bền vững", quyền đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, bà Kanni Wignaraja, cho rằng cùng khẩu hiệu "Sống chung với rủi ro", Việt Nam cần giải quyết bốn vấn đề như những thách thức cho phát triển bền vững:

1/ Chuyển đổi phương thức tiếp cận từ đối phó thiên tai sang giảm thiểu rủi ro. Trong các chương trình quy hoạch phát triển các ngành kinh tế và xã hội, nên gắn chiến lược giảm thiểu rủi ro do thiên tai vào quá trình xóa đói giảm nghèo, quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo trợ xã hội.

2/ Tăng cường năng lực cho các cấp địa phương để có khả năng phát hiện nhanh rủi ro, đánh giá tác động của chúng cũng như xây dựng và vận hành các hệ thống dự báo, cảnh báo.

3/ Chú ý tới tầm quan trọng của việc tiếp cận thông tin, giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân.

4/ Quản lý rủi ro thiên tai đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức và cá nhân, thuộc mọi lĩnh vực.

Trong các năm tới, Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng, vẫn phải tiếp tục chuẩn bị các biện pháp khả dĩ ứng phó với các thách thức từ thiên tai và biến đổi khí hậu. Bài học lớn nhất cho thấy an ninh nguồn nước vẫn là vấn đề lớn nhất cho các nguy cơ về an ninh lương thực và an ninh xã hội.

Việt Nam phải cùng tìm kiếm sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế và các tổ chức của chính phủ và phi chính phủ để xây dựng một chương trình hành động ở các cấp một cách hiệu quả với biến đổi khí hậu, phát triển xã hội bền vững, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hướng đến các mô hình sản xuất ít carbon và hạn chế tối đa sự ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí.

Biểu trưng của Hội nghị Khí hậu Nam Phi năm 2011: cây Bao báp (Bombac) với những cành trơ trụi trùm lên các vùng khô cằn của trái đất.

____________________________________________

(*) Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ

Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC