Chủ Nhật,  23/9/2018, 05:30 
Đặt báo in

Biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và di dân

TS. Lê Anh Tuấn
Thứ Bảy,  16/4/2011, 09:10 

Biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và di dân

TS. Lê Anh Tuấn

(TBKTSG) - Trong hai ngày 29 và 30-3-2011 tại thành phố Geneva của Thụy Sỹ, Tổ chức Di dân quốc tế (IOM) đã tổ chức hội nghị quốc tế về “Biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và di dân”. Hội nghị đã quy tụ 187 thành viên của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ, các viện, trường. Dưới đây là bài viết tóm tắt nội dung thảo luận tại hội nghị của TS. Lê AnhTuấn (*), thành viên duy nhất của Việt Nam trong hội nghị này.

Trong lịch sử nhân loại, đã có nhiều cơ sở cho thấy sự liên quan của việc di dân và môi trường. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, yếu tố biến đổi khí hậu đã bổ sung như một động thái mới và khẩn cấp cho mối liên hệ này. Biến đổi khí hậu đã phụ họa cho sự suy thoái môi trường và sự gia tăng về cường độ và tần số của thiên tai. Sự suy thoái môi trường liên quan đến các hiện tượng thời tiết bất thường có thể diễn ra chậm (như sa mạc hóa, khô hạn, xói lở bờ biển) hoặc diễn ra đột ngột (như các trận bão nhiệt đới, lũ quét).

Thiên tai đột ngột xảy ra ở một vùng lãnh thổ nào đó có thể tạo ra các dòng di dân tạm thời, trong khi đó biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường dần dần sẽ dẫn đến những cuộc di cư thường xuyên. Một số nghiên cứu cho thấy dòng người di cư do môi trường chủ yếu là đến các nơi khác trong quốc gia của họ, một số lượng nhỏ hơn đến các nước lân cận và một số nhỏ hơn nữa di cư đến những lãnh thổ xa hơn.

Xu thế di dân nội địa ở Việt Nam, cả di dân có quản lý hoặc di dân tự do, chủ yếu theo ba nhóm dòng: dòng vùng cao xuống vùng thấp hơn (vùng cao Tây Bắc xuống vùng thấp hạ lưu sông Hồng, vùng Tây Nguyên xuống miền Đông Nam bộ); dòng từ phía Bắc xuống phía Nam (dòng lao động tự do từ các tỉnh phía Bắc vào các tỉnh phía Nam) và vùng nông thôn lên vùng đô thị (như các thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và TPHCM).

Ngoài ra, còn có dòng người nông thôn đi xa hơn ra nước ngoài dưới dạng xuất khẩu lao động, hôn nhân khác quốc tịch... Số lượng di dân tự do hàng năm ở Việt Nam ước chừng một phần mười dân số. Nguyên nhân của di dân ở Việt Nam khá phức tạp, ngoài các vấn đề chính sách, kinh tế, xã hội và dân số, nguyên nhân chính là do thiên tai hoành hành và các hiện tượng thời tiết bất thường làm thất mùa, thiếu ăn, dịch bệnh, thương vong...

Trong khi đó, các nguồn tài nguyên như đất đai, rừng, sản vật tự nhiên và nguồn nước ngày càng cạn kiệt. Điều này làm các nhóm người nghèo, người sống ở vùng sâu vùng xa, người thiếu điều kiện tiếp cận với thông tin, y tế và giáo dục trở thành những người bị tổn thương lớn do biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường. Họ phải tìm đường sống ở những nơi khác, chủ yếu là các khu định cư ven đô, các khu công nghiệp hay vùng đô thị.

Họ di cư theo mùa vụ, thường vào thành phố từ 3-6 tháng/năm hoặc đi xa quê từ 1-3 năm mới về thăm quê một lần. Nhóm tuổi di dân phổ biến từ 16-45, hầu hết trong họ có trình độ học vấn thấp, ít người vượt quá mức tốt nghiệp phổ thông trung học. Một số bán đất bỏ làng lên phố thị để bán sức lao động. Di dân ồ ạt khiến vùng quê của họ trở thành vùng nông nghiệp thiếu lao động.

Hiện tượng chuyển dịch dân cư từ nông thôn lên thành thị có mặt tích cực là nguồn lao động khá dồi dào và tương đối rẻ cho các khu gia công và chế biến công nghiệp hay các công trường xây dựng, cầu đường hoặc các lao động giản đơn giúp việc ở các hộ gia đình và hộ buôn bán nhỏ. Tuy nhiên, khối lượng di dân tự do này cũng gây nên nhiều hệ lụy tiêu cực khác cho đô thị. Dễ thấy nhất là môi trường đô thị xuống cấp nhanh chóng do sự gia tăng dân số cơ học khó dự báo và kiểm soát, quy hoạch hạ tầng dễ bị phá vỡ do không thể đáp ứng nhu cầu cư trú, đi lại, học hành, khám chữa bệnh và chất thải sinh hoạt.

Một số người hoặc không thể thích nghi với lối sống và cư xử ở chốn thành đô, hoặc thiếu vốn để mua bán nhỏ, thiếu kỹ năng nghề nghiệp để có một việc làm bền vững, thiếu tính kỷ luật công nghiệp, bị lừa đảo hoặc không chịu nổi sự chật chội ô nhiễm trong các khu cư trú kiểu ổ chuột... đã bỏ về quê cũ tạo nên một bộ phận di dân ngược từ thành thị về vùng quê.

Những nhóm lao động này có thể là những người tiếp tục khai thác kiểu tận dụng và tàn phá những nguồn tài nguyên đất đai, rừng, sinh vật và nguồn nước ít ỏi còn sót lại ở vùng đồng bằng, vùng núi và vùng ven biển. Quá trình này làm môi trường nông thôn càng kiệt quệ và nhanh chóng suy thoái, đôi chỗ sự mất mát tài nguyên là vĩnh viễn không thể phục hồi được. Tài nguyên và môi trường cả vùng đô thị và nông thôn suy thoái lại là nguy cơ gia tăng tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các thiên tai khác. Đây là một chuỗi có quan hệ một phần khép kín tạo nên một vấn nạn quốc gia ngày càng nan giải.

______

(*) Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu - Đại học Cần Thơ

Một số dòng di dân lớn do thiên tai gần đây:

• Trong khoảng thời gian từ 2002-2005, các trận động đất và sóng thần đã làm 550.000 người ở Sumatra, Indonesia mất nhà cửa phải đi lánh nạn, trong khi đó lũ lụt gây trượt đất đã phải di dời chừng 1,5 triệu người đến nơi định cư mới.

• Siêu bão Katrina tấn công nước Mỹ vào tháng 8-2005 làm 1,5 triệu người phải di tản, trong số đó ước tính có khoảng 300.000 người không bao giờ trở lại nơi ở cũ.• Trận bão Nagis đổ bộ vào đồng bằng Irrawaddy, Myanmar vào tháng 5-2008 đã ảnh hưởng đến 2,4 triệu người và dẫn đến 800.000 người phải di tản.

• Quá trình sa mạc hóa trong những năm gần đây ở vùng đất khô hạn của Mexico đã làm 600.000-700.000 người trong các vùng này di tản hàng năm.

Trong một tài liệu được xuất bản của IOM (2009), các chuyên gia đã phỏng đoán rằng từ nay đến khoảng năm 2050, thế giới sẽ có từ 25 triệu đến 1 tỉ người phải dịch chuyển chỗ ở do biến đổi khí hậu. Mưa bão bất thường và nước biển dâng có thể làm diện tích có nguy cơ bị ngập lũ trên toàn thế giới lên đến 1,3 triệu ki lô mét vuông.

Các chuyên gia ước tính rằng 9/10 sự cố môi trường cực đoan đều có liên quan đến biến đổi khí hậu. Các quốc gia đang phát triển sẽ chịu khoảng 98% các tổn thương do thiên tai gây nên. Các vùng Nam và Đông Á, châu Phi và các đảo quốc nhỏ sẽ là những nơi chịu ảnh hưởng nghiêm trọng.

Biến đổi khí hậu kết hợp với sự gia tăng dân số sẽ tạo nên sự gia tăng áp lực di dân, điều này có thể gây nên những mâu thuẫn hoặc xung đột tiềm năng giữa các vùng hoặc quốc gia lân cận.

In bài Gửi bài cho bạn bè
Top
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGÂN HÀNG
BẢO HIỂM
CHỨNG KHOÁN
TIỀN TỆ
KINH DOANH
THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ
XUẤT NHẬP KHẨU
GIAO THƯƠNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHUYẾN MÃI
WEB GIÁ RẺ
DIỄN ĐÀN
Ý KIẾN
GHI NHẬN
BẠN ĐỌC VIẾT
BLOG
DOANH NGHIỆP
CHUYỆN LÀM ĂN
QUẢN TRỊ SỨC KHỎE
PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ
MỘT VÒNG DOANH NGHIỆP
DỮ LIỆU DOANH NGHIỆP
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VĂN HÓA
XÃ HỘI
VIỆC GÌ? Ở ĐÂU?
ĐỊA ỐC
NHÀ ĐẤT
QUY HOẠCH - HẠ TẦNG
DỰ ÁN
GÓC TƯ VẤN
THẾ GIỚI
PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN
THỊ TRƯỜNG - DOANH NGHIỆP
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.
Biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và di dân
Thứ Bảy,  16/4/2011, 09:10 
TS. Lê Anh Tuấn

Biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và di dân

TS. Lê Anh Tuấn

(TBKTSG) - Trong hai ngày 29 và 30-3-2011 tại thành phố Geneva của Thụy Sỹ, Tổ chức Di dân quốc tế (IOM) đã tổ chức hội nghị quốc tế về “Biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và di dân”. Hội nghị đã quy tụ 187 thành viên của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ, các viện, trường. Dưới đây là bài viết tóm tắt nội dung thảo luận tại hội nghị của TS. Lê AnhTuấn (*), thành viên duy nhất của Việt Nam trong hội nghị này.

Trong lịch sử nhân loại, đã có nhiều cơ sở cho thấy sự liên quan của việc di dân và môi trường. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, yếu tố biến đổi khí hậu đã bổ sung như một động thái mới và khẩn cấp cho mối liên hệ này. Biến đổi khí hậu đã phụ họa cho sự suy thoái môi trường và sự gia tăng về cường độ và tần số của thiên tai. Sự suy thoái môi trường liên quan đến các hiện tượng thời tiết bất thường có thể diễn ra chậm (như sa mạc hóa, khô hạn, xói lở bờ biển) hoặc diễn ra đột ngột (như các trận bão nhiệt đới, lũ quét).

Thiên tai đột ngột xảy ra ở một vùng lãnh thổ nào đó có thể tạo ra các dòng di dân tạm thời, trong khi đó biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường dần dần sẽ dẫn đến những cuộc di cư thường xuyên. Một số nghiên cứu cho thấy dòng người di cư do môi trường chủ yếu là đến các nơi khác trong quốc gia của họ, một số lượng nhỏ hơn đến các nước lân cận và một số nhỏ hơn nữa di cư đến những lãnh thổ xa hơn.

Xu thế di dân nội địa ở Việt Nam, cả di dân có quản lý hoặc di dân tự do, chủ yếu theo ba nhóm dòng: dòng vùng cao xuống vùng thấp hơn (vùng cao Tây Bắc xuống vùng thấp hạ lưu sông Hồng, vùng Tây Nguyên xuống miền Đông Nam bộ); dòng từ phía Bắc xuống phía Nam (dòng lao động tự do từ các tỉnh phía Bắc vào các tỉnh phía Nam) và vùng nông thôn lên vùng đô thị (như các thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và TPHCM).

Ngoài ra, còn có dòng người nông thôn đi xa hơn ra nước ngoài dưới dạng xuất khẩu lao động, hôn nhân khác quốc tịch... Số lượng di dân tự do hàng năm ở Việt Nam ước chừng một phần mười dân số. Nguyên nhân của di dân ở Việt Nam khá phức tạp, ngoài các vấn đề chính sách, kinh tế, xã hội và dân số, nguyên nhân chính là do thiên tai hoành hành và các hiện tượng thời tiết bất thường làm thất mùa, thiếu ăn, dịch bệnh, thương vong...

Trong khi đó, các nguồn tài nguyên như đất đai, rừng, sản vật tự nhiên và nguồn nước ngày càng cạn kiệt. Điều này làm các nhóm người nghèo, người sống ở vùng sâu vùng xa, người thiếu điều kiện tiếp cận với thông tin, y tế và giáo dục trở thành những người bị tổn thương lớn do biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường. Họ phải tìm đường sống ở những nơi khác, chủ yếu là các khu định cư ven đô, các khu công nghiệp hay vùng đô thị.

Họ di cư theo mùa vụ, thường vào thành phố từ 3-6 tháng/năm hoặc đi xa quê từ 1-3 năm mới về thăm quê một lần. Nhóm tuổi di dân phổ biến từ 16-45, hầu hết trong họ có trình độ học vấn thấp, ít người vượt quá mức tốt nghiệp phổ thông trung học. Một số bán đất bỏ làng lên phố thị để bán sức lao động. Di dân ồ ạt khiến vùng quê của họ trở thành vùng nông nghiệp thiếu lao động.

Hiện tượng chuyển dịch dân cư từ nông thôn lên thành thị có mặt tích cực là nguồn lao động khá dồi dào và tương đối rẻ cho các khu gia công và chế biến công nghiệp hay các công trường xây dựng, cầu đường hoặc các lao động giản đơn giúp việc ở các hộ gia đình và hộ buôn bán nhỏ. Tuy nhiên, khối lượng di dân tự do này cũng gây nên nhiều hệ lụy tiêu cực khác cho đô thị. Dễ thấy nhất là môi trường đô thị xuống cấp nhanh chóng do sự gia tăng dân số cơ học khó dự báo và kiểm soát, quy hoạch hạ tầng dễ bị phá vỡ do không thể đáp ứng nhu cầu cư trú, đi lại, học hành, khám chữa bệnh và chất thải sinh hoạt.

Một số người hoặc không thể thích nghi với lối sống và cư xử ở chốn thành đô, hoặc thiếu vốn để mua bán nhỏ, thiếu kỹ năng nghề nghiệp để có một việc làm bền vững, thiếu tính kỷ luật công nghiệp, bị lừa đảo hoặc không chịu nổi sự chật chội ô nhiễm trong các khu cư trú kiểu ổ chuột... đã bỏ về quê cũ tạo nên một bộ phận di dân ngược từ thành thị về vùng quê.

Những nhóm lao động này có thể là những người tiếp tục khai thác kiểu tận dụng và tàn phá những nguồn tài nguyên đất đai, rừng, sinh vật và nguồn nước ít ỏi còn sót lại ở vùng đồng bằng, vùng núi và vùng ven biển. Quá trình này làm môi trường nông thôn càng kiệt quệ và nhanh chóng suy thoái, đôi chỗ sự mất mát tài nguyên là vĩnh viễn không thể phục hồi được. Tài nguyên và môi trường cả vùng đô thị và nông thôn suy thoái lại là nguy cơ gia tăng tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các thiên tai khác. Đây là một chuỗi có quan hệ một phần khép kín tạo nên một vấn nạn quốc gia ngày càng nan giải.

______

(*) Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu - Đại học Cần Thơ

Một số dòng di dân lớn do thiên tai gần đây:

• Trong khoảng thời gian từ 2002-2005, các trận động đất và sóng thần đã làm 550.000 người ở Sumatra, Indonesia mất nhà cửa phải đi lánh nạn, trong khi đó lũ lụt gây trượt đất đã phải di dời chừng 1,5 triệu người đến nơi định cư mới.

• Siêu bão Katrina tấn công nước Mỹ vào tháng 8-2005 làm 1,5 triệu người phải di tản, trong số đó ước tính có khoảng 300.000 người không bao giờ trở lại nơi ở cũ.• Trận bão Nagis đổ bộ vào đồng bằng Irrawaddy, Myanmar vào tháng 5-2008 đã ảnh hưởng đến 2,4 triệu người và dẫn đến 800.000 người phải di tản.

• Quá trình sa mạc hóa trong những năm gần đây ở vùng đất khô hạn của Mexico đã làm 600.000-700.000 người trong các vùng này di tản hàng năm.

Trong một tài liệu được xuất bản của IOM (2009), các chuyên gia đã phỏng đoán rằng từ nay đến khoảng năm 2050, thế giới sẽ có từ 25 triệu đến 1 tỉ người phải dịch chuyển chỗ ở do biến đổi khí hậu. Mưa bão bất thường và nước biển dâng có thể làm diện tích có nguy cơ bị ngập lũ trên toàn thế giới lên đến 1,3 triệu ki lô mét vuông.

Các chuyên gia ước tính rằng 9/10 sự cố môi trường cực đoan đều có liên quan đến biến đổi khí hậu. Các quốc gia đang phát triển sẽ chịu khoảng 98% các tổn thương do thiên tai gây nên. Các vùng Nam và Đông Á, châu Phi và các đảo quốc nhỏ sẽ là những nơi chịu ảnh hưởng nghiêm trọng.

Biến đổi khí hậu kết hợp với sự gia tăng dân số sẽ tạo nên sự gia tăng áp lực di dân, điều này có thể gây nên những mâu thuẫn hoặc xung đột tiềm năng giữa các vùng hoặc quốc gia lân cận.

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC

Mobile

Biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và di dân
Thứ Bảy,  16/4/2011, 09:10 
TS. Lê Anh Tuấn

Biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và di dân

TS. Lê Anh Tuấn

(TBKTSG) - Trong hai ngày 29 và 30-3-2011 tại thành phố Geneva của Thụy Sỹ, Tổ chức Di dân quốc tế (IOM) đã tổ chức hội nghị quốc tế về “Biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và di dân”. Hội nghị đã quy tụ 187 thành viên của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ, các viện, trường. Dưới đây là bài viết tóm tắt nội dung thảo luận tại hội nghị của TS. Lê AnhTuấn (*), thành viên duy nhất của Việt Nam trong hội nghị này.

Trong lịch sử nhân loại, đã có nhiều cơ sở cho thấy sự liên quan của việc di dân và môi trường. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, yếu tố biến đổi khí hậu đã bổ sung như một động thái mới và khẩn cấp cho mối liên hệ này. Biến đổi khí hậu đã phụ họa cho sự suy thoái môi trường và sự gia tăng về cường độ và tần số của thiên tai. Sự suy thoái môi trường liên quan đến các hiện tượng thời tiết bất thường có thể diễn ra chậm (như sa mạc hóa, khô hạn, xói lở bờ biển) hoặc diễn ra đột ngột (như các trận bão nhiệt đới, lũ quét).

Thiên tai đột ngột xảy ra ở một vùng lãnh thổ nào đó có thể tạo ra các dòng di dân tạm thời, trong khi đó biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường dần dần sẽ dẫn đến những cuộc di cư thường xuyên. Một số nghiên cứu cho thấy dòng người di cư do môi trường chủ yếu là đến các nơi khác trong quốc gia của họ, một số lượng nhỏ hơn đến các nước lân cận và một số nhỏ hơn nữa di cư đến những lãnh thổ xa hơn.

Xu thế di dân nội địa ở Việt Nam, cả di dân có quản lý hoặc di dân tự do, chủ yếu theo ba nhóm dòng: dòng vùng cao xuống vùng thấp hơn (vùng cao Tây Bắc xuống vùng thấp hạ lưu sông Hồng, vùng Tây Nguyên xuống miền Đông Nam bộ); dòng từ phía Bắc xuống phía Nam (dòng lao động tự do từ các tỉnh phía Bắc vào các tỉnh phía Nam) và vùng nông thôn lên vùng đô thị (như các thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và TPHCM).

Ngoài ra, còn có dòng người nông thôn đi xa hơn ra nước ngoài dưới dạng xuất khẩu lao động, hôn nhân khác quốc tịch... Số lượng di dân tự do hàng năm ở Việt Nam ước chừng một phần mười dân số. Nguyên nhân của di dân ở Việt Nam khá phức tạp, ngoài các vấn đề chính sách, kinh tế, xã hội và dân số, nguyên nhân chính là do thiên tai hoành hành và các hiện tượng thời tiết bất thường làm thất mùa, thiếu ăn, dịch bệnh, thương vong...

Trong khi đó, các nguồn tài nguyên như đất đai, rừng, sản vật tự nhiên và nguồn nước ngày càng cạn kiệt. Điều này làm các nhóm người nghèo, người sống ở vùng sâu vùng xa, người thiếu điều kiện tiếp cận với thông tin, y tế và giáo dục trở thành những người bị tổn thương lớn do biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường. Họ phải tìm đường sống ở những nơi khác, chủ yếu là các khu định cư ven đô, các khu công nghiệp hay vùng đô thị.

Họ di cư theo mùa vụ, thường vào thành phố từ 3-6 tháng/năm hoặc đi xa quê từ 1-3 năm mới về thăm quê một lần. Nhóm tuổi di dân phổ biến từ 16-45, hầu hết trong họ có trình độ học vấn thấp, ít người vượt quá mức tốt nghiệp phổ thông trung học. Một số bán đất bỏ làng lên phố thị để bán sức lao động. Di dân ồ ạt khiến vùng quê của họ trở thành vùng nông nghiệp thiếu lao động.

Hiện tượng chuyển dịch dân cư từ nông thôn lên thành thị có mặt tích cực là nguồn lao động khá dồi dào và tương đối rẻ cho các khu gia công và chế biến công nghiệp hay các công trường xây dựng, cầu đường hoặc các lao động giản đơn giúp việc ở các hộ gia đình và hộ buôn bán nhỏ. Tuy nhiên, khối lượng di dân tự do này cũng gây nên nhiều hệ lụy tiêu cực khác cho đô thị. Dễ thấy nhất là môi trường đô thị xuống cấp nhanh chóng do sự gia tăng dân số cơ học khó dự báo và kiểm soát, quy hoạch hạ tầng dễ bị phá vỡ do không thể đáp ứng nhu cầu cư trú, đi lại, học hành, khám chữa bệnh và chất thải sinh hoạt.

Một số người hoặc không thể thích nghi với lối sống và cư xử ở chốn thành đô, hoặc thiếu vốn để mua bán nhỏ, thiếu kỹ năng nghề nghiệp để có một việc làm bền vững, thiếu tính kỷ luật công nghiệp, bị lừa đảo hoặc không chịu nổi sự chật chội ô nhiễm trong các khu cư trú kiểu ổ chuột... đã bỏ về quê cũ tạo nên một bộ phận di dân ngược từ thành thị về vùng quê.

Những nhóm lao động này có thể là những người tiếp tục khai thác kiểu tận dụng và tàn phá những nguồn tài nguyên đất đai, rừng, sinh vật và nguồn nước ít ỏi còn sót lại ở vùng đồng bằng, vùng núi và vùng ven biển. Quá trình này làm môi trường nông thôn càng kiệt quệ và nhanh chóng suy thoái, đôi chỗ sự mất mát tài nguyên là vĩnh viễn không thể phục hồi được. Tài nguyên và môi trường cả vùng đô thị và nông thôn suy thoái lại là nguy cơ gia tăng tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các thiên tai khác. Đây là một chuỗi có quan hệ một phần khép kín tạo nên một vấn nạn quốc gia ngày càng nan giải.

______

(*) Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu - Đại học Cần Thơ

Một số dòng di dân lớn do thiên tai gần đây:

• Trong khoảng thời gian từ 2002-2005, các trận động đất và sóng thần đã làm 550.000 người ở Sumatra, Indonesia mất nhà cửa phải đi lánh nạn, trong khi đó lũ lụt gây trượt đất đã phải di dời chừng 1,5 triệu người đến nơi định cư mới.

• Siêu bão Katrina tấn công nước Mỹ vào tháng 8-2005 làm 1,5 triệu người phải di tản, trong số đó ước tính có khoảng 300.000 người không bao giờ trở lại nơi ở cũ.• Trận bão Nagis đổ bộ vào đồng bằng Irrawaddy, Myanmar vào tháng 5-2008 đã ảnh hưởng đến 2,4 triệu người và dẫn đến 800.000 người phải di tản.

• Quá trình sa mạc hóa trong những năm gần đây ở vùng đất khô hạn của Mexico đã làm 600.000-700.000 người trong các vùng này di tản hàng năm.

Trong một tài liệu được xuất bản của IOM (2009), các chuyên gia đã phỏng đoán rằng từ nay đến khoảng năm 2050, thế giới sẽ có từ 25 triệu đến 1 tỉ người phải dịch chuyển chỗ ở do biến đổi khí hậu. Mưa bão bất thường và nước biển dâng có thể làm diện tích có nguy cơ bị ngập lũ trên toàn thế giới lên đến 1,3 triệu ki lô mét vuông.

Các chuyên gia ước tính rằng 9/10 sự cố môi trường cực đoan đều có liên quan đến biến đổi khí hậu. Các quốc gia đang phát triển sẽ chịu khoảng 98% các tổn thương do thiên tai gây nên. Các vùng Nam và Đông Á, châu Phi và các đảo quốc nhỏ sẽ là những nơi chịu ảnh hưởng nghiêm trọng.

Biến đổi khí hậu kết hợp với sự gia tăng dân số sẽ tạo nên sự gia tăng áp lực di dân, điều này có thể gây nên những mâu thuẫn hoặc xung đột tiềm năng giữa các vùng hoặc quốc gia lân cận.

TIN BÀI LIÊN QUAN
Chia sẻ:
   
CÙNG CHUYÊN MỤC