Mobile

Trông người, chạnh lòng nghĩ đến ta!
Thứ Ba,  5/2/2019, 08:37 
GS.TS. Võ Tòng Xuân

Trông người, chạnh lòng nghĩ đến ta!

GS.TS. Võ Tòng Xuân

(TBKTSG Xuân AL) - Quá trình công tác quốc tế, tôi đã trải qua nhiều loại hoạt động khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp ở vai trò thành viên trong đoàn nghiên cứu phát triển sản xuất lúa hoặc phát triển tổng hợp nông nghiệp của nhiều quốc gia thuộc Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), Tổ chức Lương Nông quốc tế (FAO), Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD), Cơ quan Phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) và Canada (CIDA), Cơ quan Hợp tác nghiên cứu Thụy Điển (SAREC)... Tôi đã tham dự nhiều hội nghị khoa học quốc tế ở khắp các châu lục và có ấn tượng sâu sắc với một số nền kinh tế mới nổi, nhất là Malaysia, Đài Loan và Peru.

Xin ghi lại vài bài học...

GS. Võ Tòng Xuân và Hội đồng Tín chấp CIP.

Bài học dầu cọ của Malaysia 

Hồi tháng 6-1968, tôi tham gia nhóm thanh niên châu Á viếng một số nền kinh tế châu Á, trong đó có Malaysia, Đài Loan, Hồng Kông. Chúng tôi được Thủ tướng Tunku Abdul Rahman tiếp và nói chuyện về tầm nhìn của ông về chiến thuật phát triển quốc gia cựu thuộc địa Anh sản xuất nhiều cao su và kẽm nhất thế giới tại thời điểm đó. Ông Tunku say sưa giảng cho bọn thanh niên chúng tôi rằng trong vòng 20 năm nữa Malaysia sẽ là nước chiếm lĩnh thị trường thế giới xuất khẩu dầu cọ. Chúng tôi rất ngạc nhiên với sự quả quyết đó. Ông Tunku giải thích: chọn cọ dầu làm cây chiến lược, vì đó là nguyên liệu cần thiết cho bữa ăn hàng ngày của những ai muốn tránh chất cholesterol tích lũy trong máu do ăn thịt mỡ, chắc chắn mọi người - nhất là những người giàu - sẽ là khách hàng thường xuyên của Malaysia.

Thị trường là mắt xích được xác định đầu tiên trong kế hoạch phát triển nông thôn tổng hợp. Các khâu kế tiếp được tổ chức một cách đồng bộ nhắm vào đích chiếm lĩnh thị trường bằng một loạt biện pháp chính sách. Chiến lược “dầu cọ Malaysia” của Thủ tướng Tunku nhằm vào hai đối tượng: các doanh nghiệp có vốn sản xuất và hàng vạn người dân nghèo ở thành phố và nông thôn không có việc làm, không đất đai canh tác.

Đối với doanh nghiệp, ông Tunku đặt ra chính sách khuyến khích họ hưởng ứng kế hoạch trồng cọ dầu, cụ thể là chính phủ đầu tư nghiên cứu giống cọ dầu tốt nhất, phương pháp canh tác thích hợp nhất cho các vùng đất cọ dầu khác nhau của Malaysia. Những kỹ thuật này được giao cho ngành khuyến nông để sẵn sàng hướng dẫn nông dân. Đồng thời chính phủ công bố chính sách miễn thuế 10 năm đầu cho những ai đầu tư trồng cọ dầu trên đất mới khai phá, và miễn thuế năm năm đầu cho những trang trại cao su già cỗi chuyển sang trồng cọ dầu. Đối với những người dân khai khẩn đất mới để trồng cọ dầu, nhà nước cho vay ưu đãi để họ hăng hái bỏ công sức lập trang trại cọ dầu.

Đối với dân nghèo, không đất canh tác, ông Tunku giao cho Bộ Nông nghiệp và Bộ Kế hoạch quy hoạch vùng sản xuất trên đất rừng đang khai thác, giao cho FELDA (Cơ quan Phát triển đất đai Liên bang Malaysia, thành lập năm 1956) lập dự án vay vốn Ngân hàng Thế giới (WB) để xây dựng những nông trường cọ dầu (dân Malaysia quen gọi là nông trường FELDA) trên các vùng quy hoạch ấy. Vốn WB được dùng vào việc kiến thiết mặt bằng, phân lô đất, xây nhà ở cho nông trường viên, xây đường giao thông trong nông trường, xây chợ, trạm xá, nhà trẻ, trường học, bưu điện và nhà máy sơ chế dầu cọ. Người dân được chọn vào FELDA ký nhận nợ để lãnh một nhà ở, một lô đất, nhận giống cây cọ dầu và phân bón. Nợ này phải trả trong vòng 20 năm theo quy định của WB. Chủ hộ được ngành khuyến nông hướng dẫn trồng cây cọ dầu, nhận phân bón và các vật liệu khác. Khi cây cọ có trái, chủ hộ thu hoạch, giao cho nhà máy sơ chế trong nông trường, và bắt đầu được trừ nợ. Song song với hoạt động nghiên cứu nông nghiệp cọ dầu, nhà nước lập Viện Nghiên cứu chế biến các loại thực phẩm từ dầu cọ, và khuyến khích xây dựng các nhà máy tinh chế dầu cọ xuất khẩu. Chính phủ đồng thời cũng lập thêm Cục Xúc tiến tiêu thụ dầu cọ đi khắp nơi trên thế giới. Malaysia đạt ngôi vị quốc gia xuất khẩu dầu cọ số 1 thế giới từ năm 1988, đúng như đường hướng vạch ra 20 năm trước của vị lãnh tụ chiến lược tài giỏi của Malaysia. Phần lớn dân nghèo trong các FELDA trả xong nợ trong vòng 15 năm, cái nhà và lô đất hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của chủ hộ.

Kinh nghiệm rút ra từ “chiến thuật nhiều mũi giáp công” dẫn đến thành công của mô hình này rất đáng để những nhà lãnh đạo Việt Nam áp dụng triển khai nghị quyết 120/CP với đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), hầu có thể chấm dứt nạn nông dân bị buộc bán đất rồi không nơi làm ăn sinh sống như hiện nay.

Trong thời giao thương quốc tế, nông nghiệp và thủy sản của Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội xuất khẩu những cây trồng nhiệt đới độc đáo mà phương Tây không sản xuất được, thí dụ như gạo hữu cơ, gạo đặc sản, gạo trắng cấp thấp, xoài, quít, vú sữa, khóm, mít, hạt sen, bưởi, dâu, nhãn, đu đủ... Hoặc những vật nuôi quý mà phương Tây không nuôi được, như nhiều loại cá tôm, cua, gà ta (thả vườn) hữu cơ. Chiến thuật “nhiều mũi giáp công” như của ông Tunku cần được sử dụng.

Tuy nhiên, muốn xuất khẩu thắng lợi, nông dân Việt Nam phải sản xuất sao cho đạt bốn yêu cầu sau đây: Chất lượng sản phẩm phải đạt chuẩn chất lượng an toàn quốc tế; giá thành cạnh tranh; khối lượng lớn và giao hàng đúng lúc theo hợp đồng. Đây là thách thức rất lớn đối với nông dân ta, vì phần lớn bà con còn làm ăn cá thể theo kinh nghiệm lão nông không phù hợp trong thời đại hội nhập toàn cầu, sử dụng nhiều phân bón và thuốc trừ sâu bệnh. Chỉ một số ít nông dân có vào hợp tác xã sản xuất lớn nhưng vẫn không có đầu ra ổn định vì hiếm được liên kết với doanh nghiệp. Thêm vào đấy, hàng nông sản của các nước thành viên sẽ thâm nhập vào nước ta một cách ồ ạt, mà nếu như tình trạng hiện nay người tiêu dùng Việt Nam thích mua hàng ngoại vì ăn ngon hơn và an toàn vệ sinh thực phẩm hơn thì hàng nông sản của nông dân ta sẽ khó bán hơn nếu không được chứng minh chất lượng an toàn. Dĩ nhiên, từng nông dân không thể làm được như thế mà phải hợp nhau lại để cùng làm. Thời buổi này, nếu làm ăn riêng lẻ và nếu chỉ bán sản phẩm nguyên liệu thô thì phải chịu thua thiệt.

Với ta, Nghị quyết 26 của Trung ương Đảng và Nghị quyết 120 của Chính phủ tạo hành lang pháp lý để tổ chức sản xuất và chế biến sản phẩm có đầu ra ổn định. Nhưng ai là người đứng ra tổ chức? Tổ chức phải như thế nào? Chúng tôi nghĩ, Nhà nước nên tham khảo cách tổ chức của Thủ tướng Tunku trên đây là phù hợp nhất. Phải là vai trò của Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có tâm huyết và kỹ thuật chuyên môn kết hợp với chương trình công nghiệp hóa khâu sản xuất từng sản phẩm nông nghiệp của đặc thù của từng vùng lãnh thổ. Chúng ta có thể hệ thống hóa cách tổ chức theo chín mắt xích sau:

1. Xác định nông sản chiến lược đặc thù của vùng phù hợp nhu cầu thị trường để tổ chức chiến thuật phát triển theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến thị trường đã có sẵn hoặc sẽ tìm ra (tức là từ giống cây/con đến bàn ăn của khách hàng tiềm năng). Khâu này có thể xuất phát từ chiến lược của Nhà nước hoặc từ nhà doanh nghiệp đã nhận định thị trường.

2. Nhà nước quy hoạch đất đai thích hợp, cần thiết cho chương trình.

3. Nhà nước (chính quyền địa phương) tập hợp nông dân trong vùng đất đai đã quy hoạch.

4. Nhà nước (ngành nông nghiệp) sản xuất giống cây trồng và lập quy trình VietGAP sẵn sàng phân phối cho nông dân trong vùng.

5. Hình thành các nhà doanh nghiệp có tâm với nông dân và nông nghiệp Việt Nam, và có tầm (được bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng thực hiện chuỗi giá trị này).

6. Nhà doanh nghiệp xây dựng nhà máy hoặc khu công nông nghiệp chế biến và bảo quản nông sản với thiết bị hiện đại với sự hỗ trợ của Nhà nước.

7. Đào tạo nông dân kỹ thuật trồng vải thiều theo VietGAP: Nhà nước (ngành nông nghiệp), nhà doanh nghiệp và nhà khoa học soạn thảo quy trình VietGAP cho vải thiều để huấn luyện tất cả nông dân tham gia sản xuất nguyên liệu cho nhà máy của nhà doanh nghiệp.

8. Khi nông dân thu hoạch nông sản nguyên liệu, nhà doanh nghiệp thu mua sòng phẳng, và tiến hành chế biến sản phẩm, đăng ký thương hiệu, bảo quản sản phẩm đến khi xuất hàng ra thị trường.

9. Nhà nước (ngành công thương) tạo điều kiện cho nhà doanh nghiệp đi xúc tiến thương mại mặt hàng sản phẩm có thương hiệu tại một số hội chợ triển lãm quốc tế tại châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan.

Bài học hợp tác của Đài Loan 

Rời Malaysia, đoàn chúng tôi tiếp tục bay đến Đài Bắc của Đài Loan. Vào năm 1968, Đài Loan ở vào thời phồn thịnh với viện trợ của Mỹ trong tất cả mọi lĩnh vực phát triển để cho thế giới - nhất là cho Trung Quốc - thấy nếu theo Mỹ thì sẽ phát triển kinh tế nhanh hơn, đời sống an sinh xã hội sẽ no ấm, sung túc hơn.

Chúng tôi được giới thiệu đến thăm cơ sở giáo dục lớn nhất, đó là Đại học Quốc gia Đài Loan, được trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại thời bấy giờ, giảng viên và các giáo sư phần lớn đã tốt nghiệp từ Mỹ về làm nòng cốt trong việc đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo giảng viên tương lai cho các cơ sở giáo dục khác. Trường này đến nay, theo xếp hạng quốc tế năm 2018, đứng hàng thứ 94 trong số các đại học quốc tế, và xếp hạng 1 của Đài Loan.

Sau này tôi đọc tài liệu các nhà nghiên cứu theo dõi phát triển kinh tế của Đài Loan mới chứng minh được rằng nhờ nền giáo dục tốt và mọi người đều quyết tâm học hành thành tài để hòn đảo nhỏ của họ không thề bị lấn át, mọi người dân Đài Loan đều là lao động có tay nghề, từ nông nghiệp đến công nghiệp. Nhu cầu công nghiệp hóa của Đài Loan đã được thỏa mãn bởi chương trình viện trợ kinh tế của Mỹ. Các khu công nghiệp phần lớn do các doanh nghiệp vừa và nhỏ của doanh nhân Đài Loan tự đầu tư hoặc họ liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài có sẵn thị trường tiêu thụ đầu ra. Vì thế khi chương trình viện trợ kinh tế của Mỹ chấm dứt năm 1965, Đài Loan đạt mức 86% nhu cầu đầu tư công nghiệp.

Hồi tưởng lại chuyến đi này tôi chạnh nhớ đến nước Việt Nam chúng ta, trong thời vàng son của Liên Xô nước này cũng đã bảo trợ Việt Nam xây dựng phát triển kinh tế, với lương thực, xăng dầu, hàng tiêu dùng, và nhất là cấp hàng ngàn học bổng cho cán bộ Việt Nam được đào tạo hàng năm. Có lẽ Liên Xô cũng muốn cho thế giới thấy, nhất là các nước Đông Nam Á, đi với chủ nghĩa xã hội đất nước sớm phồn vinh, nhân dân no ấm, sung túc. Nhưng rất tiếc, chúng ta không tranh thủ thành công, như dân Đài Loan đã làm.

Bài học quản trị ở Peru 

Tôi trở lại Peru năm 2017, khi được tái bầu vào Hội đồng Tín chấp (Board of Trustees) của Trung tâm Khoai quốc tế (CIP). Chỉ trong vòng 20 năm, từ khi tôi chấm dứt nhiệm kỳ đầu, Thủ đô Lima của Peru đã thay đổi quá sức tưởng tượng: những tòa nhà cao tầng, những khu phố thương mại tấp nập người đi, những công viên xanh tốt. Mấy ngày hôm sau các thành viên hội đồng đi dã ngoại vùng Cuzco (vùng đồi núi cao 3.400 ki lô mét, cách thủ đô Lima 1.100 ki lô mét) là một trong những khu du lịch nổi tiếng của Peru với di tích thắng cảnh Machu Picchu độc đáo nhất vùng Nam Mỹ, hàng ngàn du khách khắp nơi đến xếp hàng dài chờ đến lượt vào leo núi vượt đèo cao xem các di tích hàng ngàn năm trước người thượng cổ đã trồng khoai tây như thế nào, sinh hoạt xã hội như thế nào. Qua chuyến đi ngắn ngủi tôi thấy các vùng nông thôn của Peru cũng được nhà nước quan tâm đầu tư cấu trúc hạ tầng rất khang trang; người dân sinh sống có nề nếp và sung túc. Trong vòng 20 năm thôi, lợi tức bình quân đầu người đã tăng từ 2.265 đô la Mỹ lên 6.572 đô la Mỹ. Hỏi thăm mấy người bạn Peru và tham khảo một số tài liệu quốc tế tôi mới hiểu được phép mầu nào đã giúp Peru tăng trưởng nhanh như thế.

Lịch sử chính trị của quốc gia 32 triệu dân này của châu Mỹ Latinh trải qua những trào chính phủ lần lượt bởi các nhà lãnh đạo quân sự đấu tranh giành độc lập, các nhà lãnh đạo của chiến tranh Thái Bình Dương, đại diện của tầng lớp quý tộc và các nhà lãnh đạo được bầu cử dân chủ. Lịch sử các tổng thống có liên quan đến các cuộc nội chiến, đảo chính và bạo lực. Chính thể dân cử tự do hiện tại mới thật sự bắt đầu từ năm 1980 với Tổng thống Belaunde. Nền kinh tế của Peru trước đây đã hầu như trong tình trạng thất bại vì chính sách bảo hộ mậu dịch, kiểm soát giá cả, chiếm đoạt của công ty và những hạn chế về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đất nước bị cản trở với siêu lạm phát, an ninh trong nước trong tình trạng hỗn loạn vì nội chiến do quân du kích Shinning Path (Sendero Luminoso) thường xuyên gây rối. Nhưng sau năm 1990, trong thời gian tôi tham gia Trung tâm CIP đợt đầu (1996-1999), chính phủ mới của Tổng thống Fujimori đã đổi mới chính sách kinh tế xã hội, kiên quyết bài trừ các du kích khủng bố và mạnh dạn đầu tư cho giáo dục và y tế. Hàng ngàn giáo viên Peru được gửi đi học cao hơn trong nước và quốc tế để về dạy ở 72 trường dạy nghề và kỹ thuật và 83 trường đại học. Kết quả rõ nhất là từ sau năm 2000, tất cả các vùng nông thôn trong nước đã có đủ bác sĩ và giáo viên đủ chuyên môn.

Các cây trồng đặc thù của vùng núi Andes như khoai tây, bơ, sâm maca, diêm mạch (quinoa), nho, măng tây, blueberries, raspberries, dầu cọ, cà phê... được tổ chức cho nông dân có điều kiện sản xuất bằng cách khuyến khích tập đoàn Gloria quản lý 80.000 ha thành lập hàng trăm tổ hợp nông dân làm chuỗi cung ứng nguyên liệu đúng chuẩn an toàn quốc tế cho tập đoàn.

Từ năm 2000, Peru đã duy trì chính sách thương mại và đầu tư mở nhằm tích hợp nền kinh tế vào thị trường toàn cầu, với mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) hiện đang chiếm 95% giao dịch hàng hóa và chiếm gần 80 tỉ đô la trong xuất khẩu và nhập khẩu hàng năm. Thêm vào đó, Bộ Thương mại của Peru (ComexPeru) tổ chức nhiều cuộc triển lãm quốc tế tại châu Âu, Bắc Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản tươi và chế biến đến tìm thị trường. Nhờ triển lãm tại Hội chợ Fruit Logistica tại Đức mà hiện nay Peru đã tự hào là nước cung cấp chính trái cây tươi cho Thụy Sỹ. Khách hàng khác nhập khẩu nông sản của Peru là Trung Quốc, Mỹ, Úc. Tuy nhiên với thương mại tự do với các nước, Peru đã bị thiệt hại về bản quyền tác giả (quyền sở hữu trí tuệ) của một số cây trồng đặc thù của mình vì bị “sinh vật tặc” (biopirate). Trường hợp đang đau đầu của nông dân Peru là củ sâm maca - một sản phẩm có công dụng như viagra, cây thổ địa đặc biệt tại vùng núi Andes - nay đã bị trên 11.000 công ty của Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Ba Lan... chiếm hữu. Theo báo cáo của Nhóm điều tra tội phạm maca tặc của Chính phủ Peru thì hầu như ngày nào cũng có công ty đăng ký bằng bản quyền sáng chế sản phẩm sâm maca.

Về tài nguyên, Peru đã chọn hợp tác với Mỹ khai thác dầu khí, với Úc và Trung Quốc khai thác kho tàng khoáng sản lớn nhất nhì châu Mỹ Latinh: đồng, kẽm, zinc, chì, molibdenum, vàng, bạc. Hàng năm Peru xuất khẩu 400.000 tấn quặng đồng, đứng vào hàng ba quốc gia sản xuất quặng đồng nhiều nhất thế giới. Kim ngạch xuất khẩu từ dầu khí và khoáng sản của Peru chiếm 50% tổng thu nhập hàng năm của quốc gia này.

Chính phủ tạo điều kiện rất ưu đãi để khuyến khích hàng ngàn doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân tham gia xuất nhập khẩu. Nhờ vậy mà hàng triệu nông dân và công nhân đã có việc làm ổn định, tham gia trong các chuỗi cung ứng nguyên liệu nông sản chất lượng cao cho các nhà máy chế biến.

Nền kinh tế của Peru phát triển nhanh hơn so với hầu hết các nước Mỹ Latinh khác. Trong khi Peru vẫn là một thị trường nhỏ với dân số chỉ 32 triệu người, sức mua đã tăng lên đáng kể trong 10 năm qua. Một tầng lớp trung lưu mới đang được hình thành. Peru đang thúc đẩy nhu cầu hàng hóa và dịch vụ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hơn. Đây là một đối tác quan trọng của Việt Nam trong nhóm CPTPP thời gian tới. 

TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Trông người, chạnh lòng nghĩ đến ta!

GS.TS. Võ Tòng Xuân
Thứ Ba,  5/2/2019, 08:37 

Trông người, chạnh lòng nghĩ đến ta!

GS.TS. Võ Tòng Xuân

(TBKTSG Xuân AL) - Quá trình công tác quốc tế, tôi đã trải qua nhiều loại hoạt động khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp ở vai trò thành viên trong đoàn nghiên cứu phát triển sản xuất lúa hoặc phát triển tổng hợp nông nghiệp của nhiều quốc gia thuộc Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), Tổ chức Lương Nông quốc tế (FAO), Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD), Cơ quan Phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) và Canada (CIDA), Cơ quan Hợp tác nghiên cứu Thụy Điển (SAREC)... Tôi đã tham dự nhiều hội nghị khoa học quốc tế ở khắp các châu lục và có ấn tượng sâu sắc với một số nền kinh tế mới nổi, nhất là Malaysia, Đài Loan và Peru.

Xin ghi lại vài bài học...

GS. Võ Tòng Xuân và Hội đồng Tín chấp CIP.

Bài học dầu cọ của Malaysia 

Hồi tháng 6-1968, tôi tham gia nhóm thanh niên châu Á viếng một số nền kinh tế châu Á, trong đó có Malaysia, Đài Loan, Hồng Kông. Chúng tôi được Thủ tướng Tunku Abdul Rahman tiếp và nói chuyện về tầm nhìn của ông về chiến thuật phát triển quốc gia cựu thuộc địa Anh sản xuất nhiều cao su và kẽm nhất thế giới tại thời điểm đó. Ông Tunku say sưa giảng cho bọn thanh niên chúng tôi rằng trong vòng 20 năm nữa Malaysia sẽ là nước chiếm lĩnh thị trường thế giới xuất khẩu dầu cọ. Chúng tôi rất ngạc nhiên với sự quả quyết đó. Ông Tunku giải thích: chọn cọ dầu làm cây chiến lược, vì đó là nguyên liệu cần thiết cho bữa ăn hàng ngày của những ai muốn tránh chất cholesterol tích lũy trong máu do ăn thịt mỡ, chắc chắn mọi người - nhất là những người giàu - sẽ là khách hàng thường xuyên của Malaysia.

Thị trường là mắt xích được xác định đầu tiên trong kế hoạch phát triển nông thôn tổng hợp. Các khâu kế tiếp được tổ chức một cách đồng bộ nhắm vào đích chiếm lĩnh thị trường bằng một loạt biện pháp chính sách. Chiến lược “dầu cọ Malaysia” của Thủ tướng Tunku nhằm vào hai đối tượng: các doanh nghiệp có vốn sản xuất và hàng vạn người dân nghèo ở thành phố và nông thôn không có việc làm, không đất đai canh tác.

Đối với doanh nghiệp, ông Tunku đặt ra chính sách khuyến khích họ hưởng ứng kế hoạch trồng cọ dầu, cụ thể là chính phủ đầu tư nghiên cứu giống cọ dầu tốt nhất, phương pháp canh tác thích hợp nhất cho các vùng đất cọ dầu khác nhau của Malaysia. Những kỹ thuật này được giao cho ngành khuyến nông để sẵn sàng hướng dẫn nông dân. Đồng thời chính phủ công bố chính sách miễn thuế 10 năm đầu cho những ai đầu tư trồng cọ dầu trên đất mới khai phá, và miễn thuế năm năm đầu cho những trang trại cao su già cỗi chuyển sang trồng cọ dầu. Đối với những người dân khai khẩn đất mới để trồng cọ dầu, nhà nước cho vay ưu đãi để họ hăng hái bỏ công sức lập trang trại cọ dầu.

Đối với dân nghèo, không đất canh tác, ông Tunku giao cho Bộ Nông nghiệp và Bộ Kế hoạch quy hoạch vùng sản xuất trên đất rừng đang khai thác, giao cho FELDA (Cơ quan Phát triển đất đai Liên bang Malaysia, thành lập năm 1956) lập dự án vay vốn Ngân hàng Thế giới (WB) để xây dựng những nông trường cọ dầu (dân Malaysia quen gọi là nông trường FELDA) trên các vùng quy hoạch ấy. Vốn WB được dùng vào việc kiến thiết mặt bằng, phân lô đất, xây nhà ở cho nông trường viên, xây đường giao thông trong nông trường, xây chợ, trạm xá, nhà trẻ, trường học, bưu điện và nhà máy sơ chế dầu cọ. Người dân được chọn vào FELDA ký nhận nợ để lãnh một nhà ở, một lô đất, nhận giống cây cọ dầu và phân bón. Nợ này phải trả trong vòng 20 năm theo quy định của WB. Chủ hộ được ngành khuyến nông hướng dẫn trồng cây cọ dầu, nhận phân bón và các vật liệu khác. Khi cây cọ có trái, chủ hộ thu hoạch, giao cho nhà máy sơ chế trong nông trường, và bắt đầu được trừ nợ. Song song với hoạt động nghiên cứu nông nghiệp cọ dầu, nhà nước lập Viện Nghiên cứu chế biến các loại thực phẩm từ dầu cọ, và khuyến khích xây dựng các nhà máy tinh chế dầu cọ xuất khẩu. Chính phủ đồng thời cũng lập thêm Cục Xúc tiến tiêu thụ dầu cọ đi khắp nơi trên thế giới. Malaysia đạt ngôi vị quốc gia xuất khẩu dầu cọ số 1 thế giới từ năm 1988, đúng như đường hướng vạch ra 20 năm trước của vị lãnh tụ chiến lược tài giỏi của Malaysia. Phần lớn dân nghèo trong các FELDA trả xong nợ trong vòng 15 năm, cái nhà và lô đất hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của chủ hộ.

Kinh nghiệm rút ra từ “chiến thuật nhiều mũi giáp công” dẫn đến thành công của mô hình này rất đáng để những nhà lãnh đạo Việt Nam áp dụng triển khai nghị quyết 120/CP với đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), hầu có thể chấm dứt nạn nông dân bị buộc bán đất rồi không nơi làm ăn sinh sống như hiện nay.

Trong thời giao thương quốc tế, nông nghiệp và thủy sản của Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội xuất khẩu những cây trồng nhiệt đới độc đáo mà phương Tây không sản xuất được, thí dụ như gạo hữu cơ, gạo đặc sản, gạo trắng cấp thấp, xoài, quít, vú sữa, khóm, mít, hạt sen, bưởi, dâu, nhãn, đu đủ... Hoặc những vật nuôi quý mà phương Tây không nuôi được, như nhiều loại cá tôm, cua, gà ta (thả vườn) hữu cơ. Chiến thuật “nhiều mũi giáp công” như của ông Tunku cần được sử dụng.

Tuy nhiên, muốn xuất khẩu thắng lợi, nông dân Việt Nam phải sản xuất sao cho đạt bốn yêu cầu sau đây: Chất lượng sản phẩm phải đạt chuẩn chất lượng an toàn quốc tế; giá thành cạnh tranh; khối lượng lớn và giao hàng đúng lúc theo hợp đồng. Đây là thách thức rất lớn đối với nông dân ta, vì phần lớn bà con còn làm ăn cá thể theo kinh nghiệm lão nông không phù hợp trong thời đại hội nhập toàn cầu, sử dụng nhiều phân bón và thuốc trừ sâu bệnh. Chỉ một số ít nông dân có vào hợp tác xã sản xuất lớn nhưng vẫn không có đầu ra ổn định vì hiếm được liên kết với doanh nghiệp. Thêm vào đấy, hàng nông sản của các nước thành viên sẽ thâm nhập vào nước ta một cách ồ ạt, mà nếu như tình trạng hiện nay người tiêu dùng Việt Nam thích mua hàng ngoại vì ăn ngon hơn và an toàn vệ sinh thực phẩm hơn thì hàng nông sản của nông dân ta sẽ khó bán hơn nếu không được chứng minh chất lượng an toàn. Dĩ nhiên, từng nông dân không thể làm được như thế mà phải hợp nhau lại để cùng làm. Thời buổi này, nếu làm ăn riêng lẻ và nếu chỉ bán sản phẩm nguyên liệu thô thì phải chịu thua thiệt.

Với ta, Nghị quyết 26 của Trung ương Đảng và Nghị quyết 120 của Chính phủ tạo hành lang pháp lý để tổ chức sản xuất và chế biến sản phẩm có đầu ra ổn định. Nhưng ai là người đứng ra tổ chức? Tổ chức phải như thế nào? Chúng tôi nghĩ, Nhà nước nên tham khảo cách tổ chức của Thủ tướng Tunku trên đây là phù hợp nhất. Phải là vai trò của Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có tâm huyết và kỹ thuật chuyên môn kết hợp với chương trình công nghiệp hóa khâu sản xuất từng sản phẩm nông nghiệp của đặc thù của từng vùng lãnh thổ. Chúng ta có thể hệ thống hóa cách tổ chức theo chín mắt xích sau:

1. Xác định nông sản chiến lược đặc thù của vùng phù hợp nhu cầu thị trường để tổ chức chiến thuật phát triển theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến thị trường đã có sẵn hoặc sẽ tìm ra (tức là từ giống cây/con đến bàn ăn của khách hàng tiềm năng). Khâu này có thể xuất phát từ chiến lược của Nhà nước hoặc từ nhà doanh nghiệp đã nhận định thị trường.

2. Nhà nước quy hoạch đất đai thích hợp, cần thiết cho chương trình.

3. Nhà nước (chính quyền địa phương) tập hợp nông dân trong vùng đất đai đã quy hoạch.

4. Nhà nước (ngành nông nghiệp) sản xuất giống cây trồng và lập quy trình VietGAP sẵn sàng phân phối cho nông dân trong vùng.

5. Hình thành các nhà doanh nghiệp có tâm với nông dân và nông nghiệp Việt Nam, và có tầm (được bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng thực hiện chuỗi giá trị này).

6. Nhà doanh nghiệp xây dựng nhà máy hoặc khu công nông nghiệp chế biến và bảo quản nông sản với thiết bị hiện đại với sự hỗ trợ của Nhà nước.

7. Đào tạo nông dân kỹ thuật trồng vải thiều theo VietGAP: Nhà nước (ngành nông nghiệp), nhà doanh nghiệp và nhà khoa học soạn thảo quy trình VietGAP cho vải thiều để huấn luyện tất cả nông dân tham gia sản xuất nguyên liệu cho nhà máy của nhà doanh nghiệp.

8. Khi nông dân thu hoạch nông sản nguyên liệu, nhà doanh nghiệp thu mua sòng phẳng, và tiến hành chế biến sản phẩm, đăng ký thương hiệu, bảo quản sản phẩm đến khi xuất hàng ra thị trường.

9. Nhà nước (ngành công thương) tạo điều kiện cho nhà doanh nghiệp đi xúc tiến thương mại mặt hàng sản phẩm có thương hiệu tại một số hội chợ triển lãm quốc tế tại châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan.

Bài học hợp tác của Đài Loan 

Rời Malaysia, đoàn chúng tôi tiếp tục bay đến Đài Bắc của Đài Loan. Vào năm 1968, Đài Loan ở vào thời phồn thịnh với viện trợ của Mỹ trong tất cả mọi lĩnh vực phát triển để cho thế giới - nhất là cho Trung Quốc - thấy nếu theo Mỹ thì sẽ phát triển kinh tế nhanh hơn, đời sống an sinh xã hội sẽ no ấm, sung túc hơn.

Chúng tôi được giới thiệu đến thăm cơ sở giáo dục lớn nhất, đó là Đại học Quốc gia Đài Loan, được trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại thời bấy giờ, giảng viên và các giáo sư phần lớn đã tốt nghiệp từ Mỹ về làm nòng cốt trong việc đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo giảng viên tương lai cho các cơ sở giáo dục khác. Trường này đến nay, theo xếp hạng quốc tế năm 2018, đứng hàng thứ 94 trong số các đại học quốc tế, và xếp hạng 1 của Đài Loan.

Sau này tôi đọc tài liệu các nhà nghiên cứu theo dõi phát triển kinh tế của Đài Loan mới chứng minh được rằng nhờ nền giáo dục tốt và mọi người đều quyết tâm học hành thành tài để hòn đảo nhỏ của họ không thề bị lấn át, mọi người dân Đài Loan đều là lao động có tay nghề, từ nông nghiệp đến công nghiệp. Nhu cầu công nghiệp hóa của Đài Loan đã được thỏa mãn bởi chương trình viện trợ kinh tế của Mỹ. Các khu công nghiệp phần lớn do các doanh nghiệp vừa và nhỏ của doanh nhân Đài Loan tự đầu tư hoặc họ liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài có sẵn thị trường tiêu thụ đầu ra. Vì thế khi chương trình viện trợ kinh tế của Mỹ chấm dứt năm 1965, Đài Loan đạt mức 86% nhu cầu đầu tư công nghiệp.

Hồi tưởng lại chuyến đi này tôi chạnh nhớ đến nước Việt Nam chúng ta, trong thời vàng son của Liên Xô nước này cũng đã bảo trợ Việt Nam xây dựng phát triển kinh tế, với lương thực, xăng dầu, hàng tiêu dùng, và nhất là cấp hàng ngàn học bổng cho cán bộ Việt Nam được đào tạo hàng năm. Có lẽ Liên Xô cũng muốn cho thế giới thấy, nhất là các nước Đông Nam Á, đi với chủ nghĩa xã hội đất nước sớm phồn vinh, nhân dân no ấm, sung túc. Nhưng rất tiếc, chúng ta không tranh thủ thành công, như dân Đài Loan đã làm.

Bài học quản trị ở Peru 

Tôi trở lại Peru năm 2017, khi được tái bầu vào Hội đồng Tín chấp (Board of Trustees) của Trung tâm Khoai quốc tế (CIP). Chỉ trong vòng 20 năm, từ khi tôi chấm dứt nhiệm kỳ đầu, Thủ đô Lima của Peru đã thay đổi quá sức tưởng tượng: những tòa nhà cao tầng, những khu phố thương mại tấp nập người đi, những công viên xanh tốt. Mấy ngày hôm sau các thành viên hội đồng đi dã ngoại vùng Cuzco (vùng đồi núi cao 3.400 ki lô mét, cách thủ đô Lima 1.100 ki lô mét) là một trong những khu du lịch nổi tiếng của Peru với di tích thắng cảnh Machu Picchu độc đáo nhất vùng Nam Mỹ, hàng ngàn du khách khắp nơi đến xếp hàng dài chờ đến lượt vào leo núi vượt đèo cao xem các di tích hàng ngàn năm trước người thượng cổ đã trồng khoai tây như thế nào, sinh hoạt xã hội như thế nào. Qua chuyến đi ngắn ngủi tôi thấy các vùng nông thôn của Peru cũng được nhà nước quan tâm đầu tư cấu trúc hạ tầng rất khang trang; người dân sinh sống có nề nếp và sung túc. Trong vòng 20 năm thôi, lợi tức bình quân đầu người đã tăng từ 2.265 đô la Mỹ lên 6.572 đô la Mỹ. Hỏi thăm mấy người bạn Peru và tham khảo một số tài liệu quốc tế tôi mới hiểu được phép mầu nào đã giúp Peru tăng trưởng nhanh như thế.

Lịch sử chính trị của quốc gia 32 triệu dân này của châu Mỹ Latinh trải qua những trào chính phủ lần lượt bởi các nhà lãnh đạo quân sự đấu tranh giành độc lập, các nhà lãnh đạo của chiến tranh Thái Bình Dương, đại diện của tầng lớp quý tộc và các nhà lãnh đạo được bầu cử dân chủ. Lịch sử các tổng thống có liên quan đến các cuộc nội chiến, đảo chính và bạo lực. Chính thể dân cử tự do hiện tại mới thật sự bắt đầu từ năm 1980 với Tổng thống Belaunde. Nền kinh tế của Peru trước đây đã hầu như trong tình trạng thất bại vì chính sách bảo hộ mậu dịch, kiểm soát giá cả, chiếm đoạt của công ty và những hạn chế về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đất nước bị cản trở với siêu lạm phát, an ninh trong nước trong tình trạng hỗn loạn vì nội chiến do quân du kích Shinning Path (Sendero Luminoso) thường xuyên gây rối. Nhưng sau năm 1990, trong thời gian tôi tham gia Trung tâm CIP đợt đầu (1996-1999), chính phủ mới của Tổng thống Fujimori đã đổi mới chính sách kinh tế xã hội, kiên quyết bài trừ các du kích khủng bố và mạnh dạn đầu tư cho giáo dục và y tế. Hàng ngàn giáo viên Peru được gửi đi học cao hơn trong nước và quốc tế để về dạy ở 72 trường dạy nghề và kỹ thuật và 83 trường đại học. Kết quả rõ nhất là từ sau năm 2000, tất cả các vùng nông thôn trong nước đã có đủ bác sĩ và giáo viên đủ chuyên môn.

Các cây trồng đặc thù của vùng núi Andes như khoai tây, bơ, sâm maca, diêm mạch (quinoa), nho, măng tây, blueberries, raspberries, dầu cọ, cà phê... được tổ chức cho nông dân có điều kiện sản xuất bằng cách khuyến khích tập đoàn Gloria quản lý 80.000 ha thành lập hàng trăm tổ hợp nông dân làm chuỗi cung ứng nguyên liệu đúng chuẩn an toàn quốc tế cho tập đoàn.

Từ năm 2000, Peru đã duy trì chính sách thương mại và đầu tư mở nhằm tích hợp nền kinh tế vào thị trường toàn cầu, với mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) hiện đang chiếm 95% giao dịch hàng hóa và chiếm gần 80 tỉ đô la trong xuất khẩu và nhập khẩu hàng năm. Thêm vào đó, Bộ Thương mại của Peru (ComexPeru) tổ chức nhiều cuộc triển lãm quốc tế tại châu Âu, Bắc Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản tươi và chế biến đến tìm thị trường. Nhờ triển lãm tại Hội chợ Fruit Logistica tại Đức mà hiện nay Peru đã tự hào là nước cung cấp chính trái cây tươi cho Thụy Sỹ. Khách hàng khác nhập khẩu nông sản của Peru là Trung Quốc, Mỹ, Úc. Tuy nhiên với thương mại tự do với các nước, Peru đã bị thiệt hại về bản quyền tác giả (quyền sở hữu trí tuệ) của một số cây trồng đặc thù của mình vì bị “sinh vật tặc” (biopirate). Trường hợp đang đau đầu của nông dân Peru là củ sâm maca - một sản phẩm có công dụng như viagra, cây thổ địa đặc biệt tại vùng núi Andes - nay đã bị trên 11.000 công ty của Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Ba Lan... chiếm hữu. Theo báo cáo của Nhóm điều tra tội phạm maca tặc của Chính phủ Peru thì hầu như ngày nào cũng có công ty đăng ký bằng bản quyền sáng chế sản phẩm sâm maca.

Về tài nguyên, Peru đã chọn hợp tác với Mỹ khai thác dầu khí, với Úc và Trung Quốc khai thác kho tàng khoáng sản lớn nhất nhì châu Mỹ Latinh: đồng, kẽm, zinc, chì, molibdenum, vàng, bạc. Hàng năm Peru xuất khẩu 400.000 tấn quặng đồng, đứng vào hàng ba quốc gia sản xuất quặng đồng nhiều nhất thế giới. Kim ngạch xuất khẩu từ dầu khí và khoáng sản của Peru chiếm 50% tổng thu nhập hàng năm của quốc gia này.

Chính phủ tạo điều kiện rất ưu đãi để khuyến khích hàng ngàn doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân tham gia xuất nhập khẩu. Nhờ vậy mà hàng triệu nông dân và công nhân đã có việc làm ổn định, tham gia trong các chuỗi cung ứng nguyên liệu nông sản chất lượng cao cho các nhà máy chế biến.

Nền kinh tế của Peru phát triển nhanh hơn so với hầu hết các nước Mỹ Latinh khác. Trong khi Peru vẫn là một thị trường nhỏ với dân số chỉ 32 triệu người, sức mua đã tăng lên đáng kể trong 10 năm qua. Một tầng lớp trung lưu mới đang được hình thành. Peru đang thúc đẩy nhu cầu hàng hóa và dịch vụ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hơn. Đây là một đối tác quan trọng của Việt Nam trong nhóm CPTPP thời gian tới. 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Người Việt thấy ở đâu mà người ta họp chợ đông thì bưng cái thúng đến bán, còn người Hoa thì tìm nơi chưa có chợ bưng thúng đến bán, và sau này, nơi vắng vẻ đó sẽ trở thành cái chợ sầm uất. Nói chi đâu cho xa, thị trường nội địa hơn 90 triệu dân của mình là một “cái chợ” sôi động chứ đâu phải là “chợ chiều” mà mình “quay lưng” lại, đúng không? Trong thời giao thương quốc tế, nông nghiệp và thủy sản của Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội xuất khẩu những cây trồng nhiệt đới độc đáo mà phương Tây không sản xuất được, thí dụ như gạo hữu cơ, gạo đặc sản, gạo trắng cấp thấp, xoài, quít, vú sữa, khóm, mít, hạt sen, bưởi, dâu, nhãn, đu đủ... Hoặc những vật nuôi quý mà phương Tây không nuôi được, như nhiều loại cá tôm, cua, gà ta (thả vườn) hữu cơ. Chiến thuật “nhiều mũi giáp công” như của ông Tunku cần được sử dụng.
PHẢN CHIẾU
Tản mạn... truyền thông
(TBKTSG Xuân AL) - Tết nhứt, từ ruộng vườn Đồng Tháp, xin góp nhặt vài mẩu chuyện truyền thông…
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: Số 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (8428) 3829 5936; Fax: (8428) 3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web www.thesaigontimes.vn. Không được sử dụng lại nội dung trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.