Mobile

Con dấu doanh nghiệp: Đã đến lúc bỏ hẳn chưa?
Thứ Hai,  1/4/2019, 09:45 
Trần Thanh Nguyên

Con dấu doanh nghiệp: Đã đến lúc bỏ hẳn chưa?

Trần Thanh Nguyên

(TBKTSG) - Luật Doanh nghiệp 2014 đã có một bước tiến đáng kể khi quy định mỗi doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của mình (điều 44). Liệu nay đã đến lúc cần phải bỏ hẳn con dấu hay chưa?

Cải cách từng bước

Từ thực trạng con dấu gây ra quá nhiều phiền hà và tốn kém cho doanh nghiệp, nhiều ý kiến đề xuất bỏ hẳn con dấu từ khi soạn thảo Luật Doanh nghiệp 2014. Tuy nhiên, ban soạn thảo luật đã chọn giải pháp cải cách từng bước, tức là chưa bỏ hẳn mà là nới lỏng quy định về con dấu như điều 44 kể trên.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương, trong một bài báo hồi năm 2015, có ba lý do cho cách tiếp cận này: (i) chữ ký điện tử hiện chưa mấy phổ biến ở ta; (ii) tập quán nhìn thấy dấu đỏ mới yên tâm; (iii) hiện có quá nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp yêu cầu phải đóng dấu.

Hãy thử xem lại ba lý do đó sau năm năm kể từ ngày Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời. Đầu tiên, chữ ký số hay giao dịch điện tử đến nay đã tiến rất xa so với thời điểm đó. Các giao dịch điện tử kiểu như mobile banking hay mua bán trực tuyến đâu còn xa lạ gì với dân ta. Mà cho dù có giậm chân tại chỗ đi nữa thì đây cũng không phải là lý do chính đáng để duy trì con dấu bắt buộc. Úc bỏ con dấu từ năm 1988 với lý do hoàn toàn khác (sẽ nói ở phần sau) chứ không phải có liên quan gì đến chữ ký điện tử.

Thứ hai, văn hóa “thích dấu đỏ” rõ ràng là có thật. Nhưng hãy để cộng đồng doanh nghiệp tự mình quyết định xem có nên dùng con dấu để tăng thêm niềm tin cho đối tác hay không chứ không nên ép họ phải dùng con dấu. Đấy là triết lý của luật tư - hãy để các chủ thể tự “làm luật” cho mình thông qua thỏa thuận hợp đồng và dần hình thành tập quán kinh doanh trong từng ngành nghề.

Theo tôi, thách thức thực sự nằm ở lý do thứ ba: Hiện có tầng tầng lớp lớp các loại văn bản quy phạm pháp luật yêu cầu phải có con dấu mới có hiệu lực trong mắt cơ quan nhà nước. Cũng như giấy phép con, thay đổi nhận thức về con dấu phải đi từ chính các quan chức. Đồng thời phải sửa đổi toàn bộ luật lệ liên quan đến con dấu nếu muốn bỏ hẳn nó. Sửa một mình Luật Doanh nghiệp chắc chắn không giải quyết được tận gốc vấn đề, thậm chí còn gây chồng chéo, “đá” nhau giữa các văn bản luật.

Tóm lại, đã đến lúc Việt Nam có thể bỏ quy định bắt buộc doanh nghiệp phải có con dấu. Tất cả phụ thuộc vào lộ trình và chất lượng làm luật của cơ quan công quyền.

Ý nghĩa pháp lý của con dấu ở Tây và ngộ nhận ở Ta

Cũng theo ông Cung, con dấu có nguồn gốc châu Âu, ra đời vào thế kỷ thứ 18, “được sử dụng... như một dấu hiệu thể hiện niềm tin của những người giao dịch, phân biệt người này với người khác, công ty này với công ty khác”. Tại Việt Nam, con dấu doanh nghiệp lúc đầu được sử dụng như một công cụ quản lý nhà nước. Việc sửa đổi quy định về con dấu vào năm 2014 để nó “đích thực là tài sản của doanh nghiệp”, “là dấu hiệu của doanh nghiệp chứ không phải công cụ quản lý nhà nước, càng không phải [là] công cụ pháp lý”.

Không rõ từ “dấu hiệu” nghĩa là gì nhưng thương hiệu, logo... chắc hẳn là thứ tốt hơn con dấu để nhận biết doanh nghiệp. Con dấu không có ý nghĩa kinh tế, không phải là “tài sản” hiểu theo nghĩa nó hứa hẹn mang lại một lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp.

Con dấu đơn thuần là công cụ pháp lý trong luật của Tây. Lấy thí dụ cụ thể: ở Úc, trước năm 1988, con dấu là bắt buộc theo luật công ty để xác thực giá trị pháp lý của các giấy tờ giao dịch (hợp đồng chẳng hạn) và chứng thư quan trọng (deed). Từ năm 1988, quy định này không bắt buộc nữa; công ty có quyền tự do lựa chọn có dùng con dấu hay không theo điều lệ công ty. Nếu được sử dụng, con dấu cũng phải được thiết kế theo theo một số quy tắc nhất định.

Lý do cần đến con dấu có liên quan đến các học thuyết pháp lý về công ty chứ không phải câu chuyện quản lý nhà nước như ở ta. Trong thông luật (common law), công ty (company/corporation) được coi là một thực thể vô hình (artificial legal person), nó không thể biểu hiện ý chí bằng hành động hay lời nói của bản thân nó được. Do đó luật phải làm một việc nữa tạo ra con dấu để công ty bày tỏ ý chí của nó. Việc chụp con dấu lên văn thư được coi là chữ ký của chính công ty, tương tự như chữ ký của một cá nhân vậy.

Cũng chính vì ý nghĩa này, con dấu không bao giờ đặt ra cho cá nhân và doanh nghiệp một chủ (gần với doanh nghiệp tư nhân ở ta) vì đó là những con người tự nhiên luôn có thể ký hay điểm chỉ bằng chính bàn tay sinh học của mình.

Thể thức chụp dấu như thế nào? Công ty có thể xác thực hợp đồng bằng cách chụp dấu lên các văn bản đó với sự chứng kiến của (i) hai giám đốc (directors - đúng hơn là tương đương với thành viên hội đồng quản trị của công ty cổ phần hay hội đồng thành viên công ty TNHH ở ta); hoặc (ii) một giám đốc và thư ký công ty (secretary); hoặc (iii) là một giám đốc trong trường hợp công ty chỉ có một giám đốc đồng thời là thư ký (sole director/sole secretary). Dưới sự chứng kiến của họ, việc chụp dấu được coi là hành động “ký” của công ty.

Trong trường hợp công ty không sử dụng con dấu, tuy không bắt buộc nhưng luật quy định công ty có thể xác thực hợp đồng bằng chữ ký của những người đã chứng kiến việc chụp dấu như trên: Thay vì chứng kiến không thôi, họ tự mình ký vào văn bản. Thể thức cụ thể do điều lệ công ty quy định.

Cũng giống như cá nhân, công ty có thể tự mình ký hợp đồng (có dấu và không dấu theo thể thức trên hoặc theo điều lệ) hoặc ủy quyền cho người khác, ví dụ như giám đốc bán hàng hay nhân viên bán hàng, ký hợp đồng. Trong trường hợp ủy quyền này, luật điều chỉnh là luật về ủy quyền (law of agency) và người được ủy quyền ký hợp đồng với người thứ ba mà không hề sờ tới con dấu của công ty. Điều này rõ ràng là quá khác ở ta khi ai ký cũng đòi đóng dấu.

Tóm lại, ý nghĩa pháp lý của con dấu trong luật Tây hoàn toàn khác với ở ta. Thay vì thảo luận khía cạnh pháp lý của con dấu, chúng ta lại bị vướng vào những tư duy sai lạc về con dấu mãi không thoát ra được.

Vị trí đặt bình chọn
TIN BÀI LIÊN QUAN
In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC

Con dấu doanh nghiệp: Đã đến lúc bỏ hẳn chưa?

Trần Thanh Nguyên
Thứ Hai,  1/4/2019, 09:45 

Con dấu doanh nghiệp: Đã đến lúc bỏ hẳn chưa?

Trần Thanh Nguyên

(TBKTSG) - Luật Doanh nghiệp 2014 đã có một bước tiến đáng kể khi quy định mỗi doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của mình (điều 44). Liệu nay đã đến lúc cần phải bỏ hẳn con dấu hay chưa?

Cải cách từng bước

Từ thực trạng con dấu gây ra quá nhiều phiền hà và tốn kém cho doanh nghiệp, nhiều ý kiến đề xuất bỏ hẳn con dấu từ khi soạn thảo Luật Doanh nghiệp 2014. Tuy nhiên, ban soạn thảo luật đã chọn giải pháp cải cách từng bước, tức là chưa bỏ hẳn mà là nới lỏng quy định về con dấu như điều 44 kể trên.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương, trong một bài báo hồi năm 2015, có ba lý do cho cách tiếp cận này: (i) chữ ký điện tử hiện chưa mấy phổ biến ở ta; (ii) tập quán nhìn thấy dấu đỏ mới yên tâm; (iii) hiện có quá nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp yêu cầu phải đóng dấu.

Hãy thử xem lại ba lý do đó sau năm năm kể từ ngày Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời. Đầu tiên, chữ ký số hay giao dịch điện tử đến nay đã tiến rất xa so với thời điểm đó. Các giao dịch điện tử kiểu như mobile banking hay mua bán trực tuyến đâu còn xa lạ gì với dân ta. Mà cho dù có giậm chân tại chỗ đi nữa thì đây cũng không phải là lý do chính đáng để duy trì con dấu bắt buộc. Úc bỏ con dấu từ năm 1988 với lý do hoàn toàn khác (sẽ nói ở phần sau) chứ không phải có liên quan gì đến chữ ký điện tử.

Thứ hai, văn hóa “thích dấu đỏ” rõ ràng là có thật. Nhưng hãy để cộng đồng doanh nghiệp tự mình quyết định xem có nên dùng con dấu để tăng thêm niềm tin cho đối tác hay không chứ không nên ép họ phải dùng con dấu. Đấy là triết lý của luật tư - hãy để các chủ thể tự “làm luật” cho mình thông qua thỏa thuận hợp đồng và dần hình thành tập quán kinh doanh trong từng ngành nghề.

Theo tôi, thách thức thực sự nằm ở lý do thứ ba: Hiện có tầng tầng lớp lớp các loại văn bản quy phạm pháp luật yêu cầu phải có con dấu mới có hiệu lực trong mắt cơ quan nhà nước. Cũng như giấy phép con, thay đổi nhận thức về con dấu phải đi từ chính các quan chức. Đồng thời phải sửa đổi toàn bộ luật lệ liên quan đến con dấu nếu muốn bỏ hẳn nó. Sửa một mình Luật Doanh nghiệp chắc chắn không giải quyết được tận gốc vấn đề, thậm chí còn gây chồng chéo, “đá” nhau giữa các văn bản luật.

Tóm lại, đã đến lúc Việt Nam có thể bỏ quy định bắt buộc doanh nghiệp phải có con dấu. Tất cả phụ thuộc vào lộ trình và chất lượng làm luật của cơ quan công quyền.

Ý nghĩa pháp lý của con dấu ở Tây và ngộ nhận ở Ta

Cũng theo ông Cung, con dấu có nguồn gốc châu Âu, ra đời vào thế kỷ thứ 18, “được sử dụng... như một dấu hiệu thể hiện niềm tin của những người giao dịch, phân biệt người này với người khác, công ty này với công ty khác”. Tại Việt Nam, con dấu doanh nghiệp lúc đầu được sử dụng như một công cụ quản lý nhà nước. Việc sửa đổi quy định về con dấu vào năm 2014 để nó “đích thực là tài sản của doanh nghiệp”, “là dấu hiệu của doanh nghiệp chứ không phải công cụ quản lý nhà nước, càng không phải [là] công cụ pháp lý”.

Không rõ từ “dấu hiệu” nghĩa là gì nhưng thương hiệu, logo... chắc hẳn là thứ tốt hơn con dấu để nhận biết doanh nghiệp. Con dấu không có ý nghĩa kinh tế, không phải là “tài sản” hiểu theo nghĩa nó hứa hẹn mang lại một lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp.

Con dấu đơn thuần là công cụ pháp lý trong luật của Tây. Lấy thí dụ cụ thể: ở Úc, trước năm 1988, con dấu là bắt buộc theo luật công ty để xác thực giá trị pháp lý của các giấy tờ giao dịch (hợp đồng chẳng hạn) và chứng thư quan trọng (deed). Từ năm 1988, quy định này không bắt buộc nữa; công ty có quyền tự do lựa chọn có dùng con dấu hay không theo điều lệ công ty. Nếu được sử dụng, con dấu cũng phải được thiết kế theo theo một số quy tắc nhất định.

Lý do cần đến con dấu có liên quan đến các học thuyết pháp lý về công ty chứ không phải câu chuyện quản lý nhà nước như ở ta. Trong thông luật (common law), công ty (company/corporation) được coi là một thực thể vô hình (artificial legal person), nó không thể biểu hiện ý chí bằng hành động hay lời nói của bản thân nó được. Do đó luật phải làm một việc nữa tạo ra con dấu để công ty bày tỏ ý chí của nó. Việc chụp con dấu lên văn thư được coi là chữ ký của chính công ty, tương tự như chữ ký của một cá nhân vậy.

Cũng chính vì ý nghĩa này, con dấu không bao giờ đặt ra cho cá nhân và doanh nghiệp một chủ (gần với doanh nghiệp tư nhân ở ta) vì đó là những con người tự nhiên luôn có thể ký hay điểm chỉ bằng chính bàn tay sinh học của mình.

Thể thức chụp dấu như thế nào? Công ty có thể xác thực hợp đồng bằng cách chụp dấu lên các văn bản đó với sự chứng kiến của (i) hai giám đốc (directors - đúng hơn là tương đương với thành viên hội đồng quản trị của công ty cổ phần hay hội đồng thành viên công ty TNHH ở ta); hoặc (ii) một giám đốc và thư ký công ty (secretary); hoặc (iii) là một giám đốc trong trường hợp công ty chỉ có một giám đốc đồng thời là thư ký (sole director/sole secretary). Dưới sự chứng kiến của họ, việc chụp dấu được coi là hành động “ký” của công ty.

Trong trường hợp công ty không sử dụng con dấu, tuy không bắt buộc nhưng luật quy định công ty có thể xác thực hợp đồng bằng chữ ký của những người đã chứng kiến việc chụp dấu như trên: Thay vì chứng kiến không thôi, họ tự mình ký vào văn bản. Thể thức cụ thể do điều lệ công ty quy định.

Cũng giống như cá nhân, công ty có thể tự mình ký hợp đồng (có dấu và không dấu theo thể thức trên hoặc theo điều lệ) hoặc ủy quyền cho người khác, ví dụ như giám đốc bán hàng hay nhân viên bán hàng, ký hợp đồng. Trong trường hợp ủy quyền này, luật điều chỉnh là luật về ủy quyền (law of agency) và người được ủy quyền ký hợp đồng với người thứ ba mà không hề sờ tới con dấu của công ty. Điều này rõ ràng là quá khác ở ta khi ai ký cũng đòi đóng dấu.

Tóm lại, ý nghĩa pháp lý của con dấu trong luật Tây hoàn toàn khác với ở ta. Thay vì thảo luận khía cạnh pháp lý của con dấu, chúng ta lại bị vướng vào những tư duy sai lạc về con dấu mãi không thoát ra được.

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Hiện có tầng tầng lớp lớp các loại văn bản quy phạm pháp luật yêu cầu phải có con dấu mới có hiệu lực trong mắt cơ quan nhà nước. Cũng như giấy phép con, thay đổi nhận thức về con dấu phải đi từ chính các quan chức. Đồng thời phải sửa đổi toàn bộ luật lệ liên quan đến con dấu nếu muốn bỏ hẳn nó. Sửa một mình Luật Doanh nghiệp chắc chắn không giải quyết được tận gốc vấn đề, thậm chí còn gây chồng chéo, “đá” nhau giữa các văn bản luật.
PHẢN CHIẾU
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.