Mobile Area

Đừng để người dân bị "vắt kiệt" để "nuôi béo" khối FDI

Thứ Tư,  11/9/2019, 07:17 
Bùi Trinh

Đừng để người dân bị "vắt kiệt" để "nuôi béo" khối FDI

Bùi Trinh

(TBKTSG) - Mới đây Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 50 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Điều này thể hiện sự quan tâm và đưa ra một góc nhìn mới của Đảng với vấn đề đầu tư nước ngoài.

Các chuyên gia kinh tế khuyến nghị tăng cường thu hút FDI nhưng cần phải lựa chọn nhà đầu tư phù hợp với chiến lược là nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất, hàm lượng công nghệ; tăng cường hoạt động thẩm định, chọn lọc một cách kỹ càng. Ảnh minh họa: TTXVN

Trong hai năm 2018-2019, Bộ Chính trị có ba Nghị quyết đáng chú ý liên quan vấn đề doanh nghiệp, đầu tư. Thứ nhất là nghị quyết về kinh tế tư nhân, được coi là động lực kinh tế quan trọng. Lần đầu tiên đánh giá kinh tế tư nhân quan trọng như vậy. Thứ hai là nghị quyết về doanh nghiệp nhà nước nhằm đẩy nhanh cổ phần hóa và bây giờ là nghị quyết về đầu tư nước ngoài (FDI). Nghị quyết đưa ra đánh giá thành quả quan trọng của việc thu hút đầu tư FDI đồng thời vạch ra khiếm khuyết và giải pháp. Như vậy có thể thấy nghị quyết của Đảng nêu cao vai trò quan trọng của doanh nhân và xác định doanh nghiệp là đội quân chủ lực kinh tế đất nước. Cùng với kinh tế nhà nước, tư nhân, đầu tư nước ngoài đóng vai trò lớn. Câu hỏi đặt ra là:

Thứ nhất, Chính phủ, bộ, ngành có nên coi thu hút đầu tư nước ngoài như thành tích để đưa vào báo cáo theo nghĩa thu hút vốn đăng ký càng nhiều, dự án nước ngoài càng nhiều thì càng thành công?

Chính phủ, bộ, ngành có nên coi thu hút đầu tư nước ngoài như thành tích để đưa vào báo cáo theo nghĩa thu hút vốn đăng ký càng nhiều, dự án nước ngoài càng nhiều thì càng thành công?

Khi vẫn còn tư tưởng thành tích trong thu hút đầu tư nước ngoài, sẽ dẫn đến cấp phép ngược với chủ trương của Đảng, như vậy, khó tránh khỏi tác động không tốt đến môi trường và ảnh hưởng vấn đề an ninh quốc phòng. Do đó, các bộ phải thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài. Đi kèm với đó là chế tài xử lý sai phạm thu hút đầu tư nước ngoài. Ví dụ vai trò trách nhiệm của bí thư tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh ra sao khi dự án nước ngoài đầu tư địa phương không hiệu quả, gây ô nhiễm, bức xúc trong nhân dân. Ngoài ra, chúng ta tôn trọng nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải có thái độ công bằng giữa doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước ở cả các chính sách về thuế, về tiếp cận đất đai. Phải có biện pháp kiểm tra, kiểm soát không để xảy ra tình trạng nơi đặt dự án là “thế giới riêng” của doanh nghiệp nước ngoài...

Thứ hai, nghị quyết nói đến vấn đề không chấp nhận dự án đầu tư nước ngoài đưa công nghệ lạc hậu, thay vào đó là công nghệ hiện đại tiên tiến. Đây là định hướng quan trọng, có ý nghĩa lớn để tránh việc Việt Nam trở thành “bãi rác” công nghiệp. Thế nhưng, một vấn đề nảy sinh từ thực tế cho thấy dù doanh nghiệp nước ngoài đưa công nghệ hiện đại vào nhưng lại không chia sẻ, không cho người lao động Việt Nam tiếp cận. Như vậy vấn đề công nghệ hiện đại nhưng việc tiếp cận, chuyển giao từ doanh nghiệp nước ngoài có diễn ra không? Nếu công nghệ hiện đại nhưng chúng ta chỉ làm thuê và làm công việc gia công thì cũng không có ý nghĩa.

Thứ ba, vấn đề là hiệu quả của doanh nghiệp FDI đối với nền kinh tế Việt Nam là gì? Doanh nghiệp FDI được hưởng lợi từ chính sách thuế, đất đai, lao động giá rẻ, sử dụng năng lượng. Những doanh nghiệp này làm ăn rất hiệu quả, tiền họ có thể giữ lại tái đầu tư, họ cũng có thể chuyển về công ty mẹ (hoặc nước mẹ).

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2017 chi trả sở hữu ra nước ngoài khoảng 11 tỉ đô la Mỹ. Như vậy, cần đặt ra hiệu quả của doanh nghiệp FDI là hiệu quả cho ai? Nếu chỉ hiệu quả cho bản thân các doanh nghiệp FDI thì họ đang rất hiệu quả; trong khi nguồn lực của nền kinh tế Việt Nam ngày càng bị hao hụt thông qua chỉ số để dành ngày càng nhỏ.

Điều này khiến người ta có cảm giác doanh nghiệp nội và người dân Việt Nam đang bị vắt kiệt để nuôi béo khối FDI qua chính sách thuế (doanh nghiệp FDI được ưu đãi quá nhiều, trong khi người dân và doanh nghiệp nội bị tận thu qua thuế, phí và cả các khoản đóng góp mang tên xã hội hóa).

Đây là vấn đề cốt lõi cũng là câu hỏi được đặt ra. Doanh nghiệp nước ngoài ưu đãi về đất, thuế... nhưng hiệu quả mang lại cho Việt Nam là gì ngoài chất thải gây ô nhiễm nước, không khí và chất thải rắn khác? 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Hàng xuất khẩu ra vỉa hè Sài Gòn
Đầu bếp thời hiện đại, phải khác
Gojek hướng đến một siêu ứng dụng tại Việt Nam
Cà phê phái sinh: Ngừa rủi ro hơn lo canh giá
Giá vàng SJC bán ra vượt mức 51 triệu đồng mỗi lượng

Đừng để người dân bị "vắt kiệt" để "nuôi béo" khối FDI

Bùi Trinh
Thứ Tư,  11/9/2019, 07:17 

Đừng để người dân bị "vắt kiệt" để "nuôi béo" khối FDI

Bùi Trinh

(TBKTSG) - Mới đây Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 50 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Điều này thể hiện sự quan tâm và đưa ra một góc nhìn mới của Đảng với vấn đề đầu tư nước ngoài.

Các chuyên gia kinh tế khuyến nghị tăng cường thu hút FDI nhưng cần phải lựa chọn nhà đầu tư phù hợp với chiến lược là nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất, hàm lượng công nghệ; tăng cường hoạt động thẩm định, chọn lọc một cách kỹ càng. Ảnh minh họa: TTXVN

Trong hai năm 2018-2019, Bộ Chính trị có ba Nghị quyết đáng chú ý liên quan vấn đề doanh nghiệp, đầu tư. Thứ nhất là nghị quyết về kinh tế tư nhân, được coi là động lực kinh tế quan trọng. Lần đầu tiên đánh giá kinh tế tư nhân quan trọng như vậy. Thứ hai là nghị quyết về doanh nghiệp nhà nước nhằm đẩy nhanh cổ phần hóa và bây giờ là nghị quyết về đầu tư nước ngoài (FDI). Nghị quyết đưa ra đánh giá thành quả quan trọng của việc thu hút đầu tư FDI đồng thời vạch ra khiếm khuyết và giải pháp. Như vậy có thể thấy nghị quyết của Đảng nêu cao vai trò quan trọng của doanh nhân và xác định doanh nghiệp là đội quân chủ lực kinh tế đất nước. Cùng với kinh tế nhà nước, tư nhân, đầu tư nước ngoài đóng vai trò lớn. Câu hỏi đặt ra là:

Thứ nhất, Chính phủ, bộ, ngành có nên coi thu hút đầu tư nước ngoài như thành tích để đưa vào báo cáo theo nghĩa thu hút vốn đăng ký càng nhiều, dự án nước ngoài càng nhiều thì càng thành công?

Chính phủ, bộ, ngành có nên coi thu hút đầu tư nước ngoài như thành tích để đưa vào báo cáo theo nghĩa thu hút vốn đăng ký càng nhiều, dự án nước ngoài càng nhiều thì càng thành công?

Khi vẫn còn tư tưởng thành tích trong thu hút đầu tư nước ngoài, sẽ dẫn đến cấp phép ngược với chủ trương của Đảng, như vậy, khó tránh khỏi tác động không tốt đến môi trường và ảnh hưởng vấn đề an ninh quốc phòng. Do đó, các bộ phải thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài. Đi kèm với đó là chế tài xử lý sai phạm thu hút đầu tư nước ngoài. Ví dụ vai trò trách nhiệm của bí thư tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh ra sao khi dự án nước ngoài đầu tư địa phương không hiệu quả, gây ô nhiễm, bức xúc trong nhân dân. Ngoài ra, chúng ta tôn trọng nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải có thái độ công bằng giữa doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước ở cả các chính sách về thuế, về tiếp cận đất đai. Phải có biện pháp kiểm tra, kiểm soát không để xảy ra tình trạng nơi đặt dự án là “thế giới riêng” của doanh nghiệp nước ngoài...

Thứ hai, nghị quyết nói đến vấn đề không chấp nhận dự án đầu tư nước ngoài đưa công nghệ lạc hậu, thay vào đó là công nghệ hiện đại tiên tiến. Đây là định hướng quan trọng, có ý nghĩa lớn để tránh việc Việt Nam trở thành “bãi rác” công nghiệp. Thế nhưng, một vấn đề nảy sinh từ thực tế cho thấy dù doanh nghiệp nước ngoài đưa công nghệ hiện đại vào nhưng lại không chia sẻ, không cho người lao động Việt Nam tiếp cận. Như vậy vấn đề công nghệ hiện đại nhưng việc tiếp cận, chuyển giao từ doanh nghiệp nước ngoài có diễn ra không? Nếu công nghệ hiện đại nhưng chúng ta chỉ làm thuê và làm công việc gia công thì cũng không có ý nghĩa.

Thứ ba, vấn đề là hiệu quả của doanh nghiệp FDI đối với nền kinh tế Việt Nam là gì? Doanh nghiệp FDI được hưởng lợi từ chính sách thuế, đất đai, lao động giá rẻ, sử dụng năng lượng. Những doanh nghiệp này làm ăn rất hiệu quả, tiền họ có thể giữ lại tái đầu tư, họ cũng có thể chuyển về công ty mẹ (hoặc nước mẹ).

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2017 chi trả sở hữu ra nước ngoài khoảng 11 tỉ đô la Mỹ. Như vậy, cần đặt ra hiệu quả của doanh nghiệp FDI là hiệu quả cho ai? Nếu chỉ hiệu quả cho bản thân các doanh nghiệp FDI thì họ đang rất hiệu quả; trong khi nguồn lực của nền kinh tế Việt Nam ngày càng bị hao hụt thông qua chỉ số để dành ngày càng nhỏ.

Điều này khiến người ta có cảm giác doanh nghiệp nội và người dân Việt Nam đang bị vắt kiệt để nuôi béo khối FDI qua chính sách thuế (doanh nghiệp FDI được ưu đãi quá nhiều, trong khi người dân và doanh nghiệp nội bị tận thu qua thuế, phí và cả các khoản đóng góp mang tên xã hội hóa).

Đây là vấn đề cốt lõi cũng là câu hỏi được đặt ra. Doanh nghiệp nước ngoài ưu đãi về đất, thuế... nhưng hiệu quả mang lại cho Việt Nam là gì ngoài chất thải gây ô nhiễm nước, không khí và chất thải rắn khác? 

In bài
Gửi bài cho bạn bè
Trong giai đoạn từ nay tới 2030, quan điểm chỉ đạo được Bộ Chính trị nhấn mạnh là phải thu hút FDI chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu. Ưu tiên dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Mục tiêu tổng quát là hoàn thiện thể chế, chính sách hợp tác đầu tư nước ngoài có tính cạnh tranh cao, hội nhập quốc tế. Khắc phục căn bản những hạn chế trong xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện thể chế, chính sách về hợp tác đầu tư nước ngoài. Nghị quyết lưu ý nghiên cứu, xây dựng các quy định khắc phục tình trạng "vốn mỏng", chuyển giá, đầu tư "chui", đầu tư "núp bóng"; không xem xét mở rộng, gia hạn hoạt động đối với những dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên.
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập phụ trách online: Phan Chiến Thắng.
Thư ký tòa soạn: Hồng Văn; Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung, Minh Châu.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.