Mobile Area

Tường thuật trực tuyến tọa đàm: Hậu Covid-19, chuẩn bị gì để trở lại đường đua?

Thứ Bảy,  23/5/2020, 09:54 
Nhóm PV

Tường thuật trực tuyến tọa đàm: Hậu Covid-19, chuẩn bị gì để trở lại đường đua?

Nhóm PV

(TBKTSG Online) - Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế thế giới và Việt Nam. Ngay cả khi dịch bệnh trong nước được kiểm soát hoàn toàn thì nhiều ngành dịch vụ và sản xuất hướng ra xuất khẩu có thể sẽ còn gặp khó khăn lâu dài, một khi Covid-19 còn chưa hoàn toàn biến mất ở các khu vực kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới.

Vậy dưới góc nhìn của các chuyên gia kinh tế hàng đầu Việt Nam, nền kinh tế sắp tới sẽ diễn biến ra sao?, cách thức tận dụng các hiệp định thương mại, cách thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hiệu quả trong xu hướng các nước lớn đang định vị lại chuỗi cung ứng toàn cầu?, những vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý khi Việt Nam bước sang trạng thái “bình thường mới”?

Ban tổ chức hy vọng quý độc giả có thể tìm thấy lời giải đáp cho những câu hỏi kể trên tại buổi tọa đàm cuối cùng của chuỗi “Cùng doanh nghiệp vượt qua đại dịch” với chủ đề: “Hậu Covid-19: Chuẩn bị gì để trở lại đường đua?", diễn ra lúc 10h30 sáng hôm nay, ngày 22-05-2020.

Như thường lệ, buổi tọa đàm sẽ được phát trực tuyến (livestream) tại các Fanpage của Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Hội doanh nhân trẻ TPHCM, Tôn Colorbond và tại báo điện tử Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.

Các diễn giả của tọa đàm “Hậu Covid-19: Chuẩn bị gì để trở lại đường đua?", từ phải sang trái: Ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch Đầu tư; Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan; MC Quốc Khánh; TS. Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Các diễn giả chính của buổi tọa đàm là những chuyên gia uy tín, có sự hiểu biết sâu rộng về kinh tế vĩ mô.

Trong đó, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan sẽ chia sẻ góc nhìn của bà về tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam từ nay đến cuối năm, những giải pháp mà chính phủ nên thực hiện trong thời gian tới như đầu tư công, chính sách tài khóa, tiền tệ sao cho doanh nghiệp có thể tồn tại và tăng trưởng trở lại sau dịch. Những lời khuyên của bà đối với doanh nghiệp Việt trong việc chuẩn bị hành trang để phát triển trong trạng thái “bình thường mới”.

Ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch Đầu tư, sẽ mang đến những thông tin về xu hướng dịch chuyển đầu tư từ các nước sang Việt Nam, việc tận dụng các cơ hội từ dòng dịch chuyển vốn như hiện nay sao cho hiệu quả. Ông Thắng cũng sẽ chia sẻ những kiến nghị về mặt chính sách của chính phủ để tăng thu hút đầu tư lại sau dịch.

Trong khi đó TS. Nguyễn Thị Thu Trang – Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), sẽ cập nhật các điểm mới trong hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) và cơ hội của các hiệp định thương mại khác đến cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, cơ hội thách thức về giao thương, xuất khẩu của doanh nghiệp Việt khi dịch đi qua. Đồng thời bà Trang cũng sẽ nói thêm về việc doanh nghiệp cần chuẩn bị gì để đón nhận những cơ hội khi nền kinh tế các nước hồi phục.

Chuỗi tọa đàm trực tuyến "Cùng doanh nghiệp vượt qua đại dịch" được tổ chức bởi Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Hội Doanh nhân trẻ TPHCM, và nhãn hàng Tôn Colorbond của Công ty NS Bluescope Việt Nam.

Ngay bây giờ, quý độc giả đã có thể đặt câu hỏi tại đây.

 

10:40

MC Quốc Khánh: Nhiều ý kiến lạc quan cho rằng kinh tế thế giới sẽ không mất quá nhiều thời gian để hồi phục khi tình hình dịch bệnh Covid-19 bắt đầu được kiểm soát tốt hơn ở một số nước châu Á, châu Âu… Vậy, theo các diễn giả,nhận định này có đúng không?

Bà Phạm Chi Lan: Các tổ chức phân tích lớn trên thế giới đều đưa ra bức tranh kinh tế toàn cầu ảm đạm từ nay tới cuối năm. Nhiều người hy vọng kinh tế sẽ phục hồi sớm nhưng điều này rất khó. Trên thực tế, số người thất nghiệp tăng kỷ lục tại Mỹ, số người đăng ký nhận trợ cấp thất nghiệp cũng ở mức kỷ lục. Lúc đầu, Mỹ tự hào về những con số dự báo về tăng trưởng kinh tế, ngưng giờ vì con virus nhỏ bé đã làm sụp đổ hoàn toàn. Tại các nền kinh tế khác cũng vậy.

Phản ánh bức tranh kinh tế thế giới, chúng ta có thể nhận thấy sự gia tăng con số thực tế người mất việc, người dân có thu nhập thấp, nhu cầu tiêu dùng cũng thấp theo, cả cung và cầu đều ảm đạm thì nền kinh tế lấy đâu ra động lực tăng trưởng.

Trong thời gian tới, tình hình kinh tế thế giới sẽ chuyển biến như thế nào, theo dự báo của ông, bà? Bà Phạm Chi Lan có cho rằng đại dịch lần này có sẽ tạo ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hay không? Bà có sự so sánh ra sao giữa cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 và lần khủng hoảng này?

Bà Phạm Chi Lan: Nhiều người nói rằng, chu kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới đang quay trở lại sau 12 năm. Lần này khác so với lần trước (2008), không phải từ lý do kinh tế mà từ nguyên nhân y tế là dịch cúm. Năm 2008, khủng hoảng kinh tế diễn ra tại Mỹ, bắt nguồn từ bong bóng bất động sản, nó phản ánh sự rủi ro của việc đầu tư quá nhiều tại các ngành sản xuất hoặc ngành kinh tế nào đó. Giờ thì khủng hoảng kinh tế xảy ra từ dịch cúm. Con virus corona đã gây ảnh hưởng tới một loạt lĩnh vực, ngành nghề kinh tế trên toàn cầu. Ví dụ, dịch bệnh đã làm thay đổi chuỗi cung ứng toàn cầu. Chuỗi cung ứng toàn cầu chủ yếu diễn ra tại Trung Quốc, giờ vì con virus nhỏ bé mà toàn bộ chuỗi cung ứng bị đứt gẫy trên phạm vi toàn cầu.

Cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 liên quan tới lĩnh vực tài chính, và không ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng toàn cầu.

Hơn nữa, trong cuộc khủng hoảng 2008 có sự chung tay kiểm soát của giới lãnh đạo của toàn cầu, Mỹ đã chung tay với các tổ chức tài chính toàn cầu để cùng đưa ra giải pháp khắc phục. Nền kinh tế toàn cầu thời kỳ đó được dẫn dắt bởi các nền kinh tế lớn. Thế nhưng, cuộc khủng hoảng lần này lại diễn ra khi hai nền kinh tế hàng đầu Mỹ - Trung đã có sự xung đột gay gắt. Giờ đây, thế giới cần có sự hợp tác, trước hết là hai nền kinh tế lớn, sau đó là các nền kinh tế khác, cùng nhau đưa thế giới vượt qua khủng hoảng.

Hiện có nhiều nhận định về cơ hội “hiếm có”, "cơ hội vàng” cho Việt Nam, sự “chuyển biến ngoạn mục”, gây “kinh ngạc” cho thế giới... thời hậu đại dịch…Quan điểm của  các diễn giả như thế nào về những mỹ từ như vậy?

Ông Phan Hữu Thắng: Đúng là Việt Nam đã thành công trong việc khống chế dịch Covid-19, tạo ra một lợi thế cho Việt Nam trong khi các nước khác đang gặp khó khăn. Việc này đã góp phần xây dựng và củng cố lòng tin nơi các nhà đầu tư nước ngoài. Thứ nhất, trong mắt họ (các nhà đầu tư) là sự an toàn khi nhìn thấy không chỉ người dân Việt Nam mà còn cả người nước ngoài đều được hưởng dịch vụ chữa bệnh tốt nhất trong điều kiện có thể.

Thứ hai, các nhà đầu tư cũng nhìn thấy cơ hội vàng tại Việt Nam nhờ có sự phát triển kinh tế liên tục trong các năm vừa qua, cụ thể là sự tăng trưởng nhanh và mạnh mẽ của nền kinh tế. Họ cũng nhìn thấy sự quyết liệt, đứng đắn trong sự chỉ đạo của Chính phủ trong công tác phòng chống dịch và  khởi động lại nền kinh tế. Trong tháng 4 vừa qua đã có các dấu hiệu tích cực về đầu tư nước ngoài.

Các nhà đầu tư cũng ghi nhận Việt Nam có chủ trương nhất quán trong ứng xử với dòng vốn đầu tư nước ngoài, luôn coi đầu tư nước ngoài là một cấu thành quan trọng của nền kinh tế để phát triển. Tất cả đang góp phần tạo nên cơ hội vàng cho Việt Nam trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy và dòng vốn đầu tư nước ngoài sụt giảm.

Việt Nam làm thế nào để tận dụng cơ hội vàng này, thưa ông?

Ông Phan Hữu Thắng: Để tận dụng cơ hội trong thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần phải thực hiện nhiều việc. Nhiều cuộc hội nghị đã bàn đến việc thúc đẩy vốn đầu tư nước ngoài. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đang suy giảm từ 1.300 tỉ đô la Mỹ xuống còn gần 1.000 tỉ đô la. Sự cạnh tranh đến từ các nước trong khu vực ngày càng tăng, cần có nhiều nhiều chính sách, sự hỗ trợ để lôi kéo nhà đầu tư nước ngoài.

Nghị quyết 50 xác định chủ trương, tạo tiền đề cơ bản và cũng là căn cơ để tạo điều kiện nâng cao hiệu quả trong thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài. Việc thay đổi, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hệ thống luật pháp chính sách theo đúng định hướng thu hút đầu tư nước ngoài một cách có chọn lọc... là những việc cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế ngày càng phức tạp hơn. Cần vạch ra các kế hoạch cụ thể, từ chủ trương đến thực tế, tổ chức thực hiện hoàn thiện thể chế cơ chế chính sách.

 

10:50

Ông Phan Hữu Thắng vừa đề cập đến cơ hội thu hút luồng vốn vào Việt Nam, còn cơ hội nào cho doanh nghiệp xuất khẩu đưa hàng sang các nước sau dịch bệnh, trong khi bối cảnh thực tế các ngành gỗ, dệt may đều gặp khó, thưa bà Nguyễn Thị Thu Trang?

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Nói về cơ hội đối với xuất khẩu, rõ ràng cơ hội trong xuất nhập khẩu không phải là "cơ hội vàng" như thu hút đầu tư FDI. Ngành xuất nhập khẩu của Việt Nam phụ thuộc vào 2 yếu tố: sức mua của thị trường toàn cầu và mức độ cạnh tranh với các đối thủ xuất khẩu mặt hàng tương tự. Xét trên 2 yếu tố này, chúng ta nhận thấy: hiện tại cầu vẫn yếu; cung thì trong giai đoàn đầu của dịch bệnh, Việt Nam được lợi một chút khi sản xuất ở các nền kinh tế đối thủ bị đình đốn, nhưng đến quí 2-2020, khi cầu ở các thị trường lớn như Mỹ và châu Âu sụt giảm đột ngột thì cung cũng bị ảnh hưởng theo.

Khi các nền kinh tế lớn của thế giới khởi động trở lại sau dịch, nguồn cung của thế giới cũng sẽ gặp khó khăn. Ví dụ, Trung Quốc bắt đầu khởi động lại nền kinh tế, và các nhà xuất khẩu tại Trung Quốc sẽ dùng giá rẻ làm lợi thế cạnh tranh. Từ sự đứt gảy chuỗi cung ứng sản xuất, các nhà xuất khẩu sẽ e ngại rủi ro đến từ việc "tập trung trứng vào một rổ", và có sự điều chỉnh các ngành nghề thiết yếu đang phụ thuộc vào nước ngoài.

Sẽ có xu hướng dịch chuyển sản xuất là đa dạng hóa thị trường sản xuất, và nhiều nền kinh tế sẽ chuyển dịch nhà máy sản xuất về gần nước mình. Thậm chí có nhiều nước còn hỗ trợ để nhà đầu tư quay về thị trường bản địa. Do đó, các nhà xuất khẩu không chỉ bị cạnh tranh với các nhà xuất khẩu ở nước khác mà còn chịu sức ép cạnh tranh ở chính thị trường nội địa bởi ngành sản xuất nội địa của nước bản địa đang lớn dần lên.

Việt Nam vẫn có cơ hội. Thứ nhất, về cầu thì trong thời gian dịch bệnh, Việt Nam đã nâng được uy tín của mình từ việc kiểm soát tốt dịch bệnh, có sự ứng xử nhân văn với các nước đối tác, nước bạn. Thứ hai, một số mặt hàng như lương thực thực phẩm, vật tư y tế, thiết bị máy tính có thế mạnh xuất khẩu thì nhu cầu trên toàn cầu cũng tăng lên.

Ngoài ra, ở thị trường EU, việc hiệp định EVFTA đi vào thực tế cũng tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội. EU là thị trường xuất khẩu lớn, trên 400 triệu dân, nhưng là khu vực có sức mua lớn thứ 2 thế giới. Đặc biệt, các đối thủ cung cấp hàng hóa có tính cạnh tranh với Việt Nam tại EU như Trung Quốc đều chưa có hiệp định với nền kinh tế này.

Về dài hạn, cơ hội là có và chúng ta làm tốt vẫn có thể tận dụng được.

Giai đoạn này là giai đoạn cần nghiên cứu lại chính thị trường trong nước, ổn định hệ thống và tận dụng việc chi phí vận chuyển và vận hành đang rẻ. Trong giai đoạn xuất khẩu còn mờ nhạt về tín hiệu hồi phục thì thị trường trong nước xứng đáng để các nhà sản xuất quan tâm và tập trung.

Các nước đang thu hút nhu cầu về mình, doanh nghiệp Việt Nam cũng nên chinh phục lại thị trường trong nước để đi hai chân, vừa tăng cường xuất khẩu vừa tăng cường tiêu thụ tại thị trường nội địa.

Bà Thu Trang có nói đến lợi thế từ các hiệp định thương mại tự o (FTA), nhưng nhìn lại các FTA sau khi có hiệu lực, vì sao Việt Nam tận  dụng được rất ít cơ hội để mở rộng thị trường, trong khi kỳ vọng trước đó rất nhiều?

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Nếu chỉ nhìn góc độ xuất khẩu, những hiệp định như EVFTA thì cơ hội lớn nhất là thuế quan, giúp hàng hoá cạnh tranh hơn về giá.

Khó khăn mà Covid-19 gây ra cho thương mại là làm giảm nhu cầu, tăng tính cạnh tranh ở nguồn cung. Do đó, khi EVFTA đi vào thực tế thì lợi thế về giá giúp Việt Nam có thêm một chút lợi thế trong việc cung ứng hàng hóa, nhưng nó không làm thay đổi nhu cầu. Hiệp định này giúp các nhà xuất khẩu Việt Nam một phần nhưng không khắc phục được hết những khó khăn mà họ đang đối mặt sau dịch bệnh.

Tuy nhiên, ông bà ta đã có câu "một miếng khi đói bằng một gói khi no", nếu biết cách tận dụng lợi thế sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam sống sót và tiếp tục duy trì sản xuất, kinh doanh. Không nên nghĩ EVFTA là cây đũa vàng, nhưng nó là con đường hữu ích nếu chúng ta tận dụng được. Mặc dù, EVFAT đã hơi "nhạt màu" vì tác động của Covid-19.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan

 

11:00

Những rối loạn về chuỗi cung ứng, thị trường xuất nhập khẩu, sức mua ở thị trường các nước do dịch Covid-19 gây ra và việc EVFTA sắp có hiệu lực, hai điều này có mối liên quan/ ý nghĩa gì không về mặt cơ hội cho hàng hóa/dịch vụ Việt Nam “xuất bù phần bị hụt so với trước” và lấp những lỗ hổng/khoảng trống mới phát sinh?

Bà Phạm Chi Lan: Hôm qua có một phóng viên gọi điện thoại phỏng vấn tôi rằng Việt Nam sắp thông qua những hiệp định mới EVFTA, EVIPA thì liệu dịch Covid-19 có làm giảm lợi ích hay không? Tôi cho rằng nó sẽ thúc đẩy việc gia tăng lợi ích. Do tác động của Covid-19, các nền kinh tế đang phải tái cấu trúc lại để tăng lợi ích của mình, xu hướng dịch chuyển đầu tư sang Việt Nam để phát triển những ngành tạo ra giá trị gia tăng ở Việt Nam đang tăng lên. Đó là cơ hội cho Việt Nam phát triển.

Trước mắt, xuất khẩu từ Việt Nam sang liên minh châu Âu (EU) có thể bị sụt giảm, không đạt được như kỳ vọng được đặt ra (trước khi có dịch bệnh) mà ta trông chờ vào EVFTA, EVIPA. Thế nhưng, sự sụt giảm này chỉ trong ngắn hạn, về lâu dài sẽ tăng. Lâu nay, xuất khẩu nhiều nhưng 70% là đến từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Theo bà, lĩnh vực nào sẽ đón đầu cơ hội nói trên?

Bà Phạm Chi Lan: Đã có ý kiến nêu ra là Việt Nam tiếp tục phát triển lĩnh vực như sản phẩm bảo hộ y tế (khẩu trang, đồ bảo hộ y tế, găng tay...), dược phẩm cho cả trong nước và xuất khẩu. Nhiều nước vẫn đang lo lắng giai đoạn 2 của dịch bệnh và có thể kéo dài đến mùa hè sang năm. Nỗi lo lắng về dịch bệnh chỉ có thể chấm dứt khi có vaccine, và vaccine hoàn tất khâu thử nghiệm và tổ chức sản xuất đồng loạt cho người dân. Do đó, cần 1-2 năm nữa mới hình thành được.

Trong khoảng thời gian này, Việt Nam cũng có thể tìm tòi về sản phẩm y tế từ bản sắc riêng của Việt Nam, ví dụ từ những bài thuốc nam truyền thống, nhiều khi rất hiệu quả. Doanh nghiệp cũng nên quan tâm đến hoạt động xuất khẩu lao động làm việc trong mảng chăm sóc người bệnh, người già cho các thị trường Nhật Bản, Đức... Đây là những sản phẩm, dịch vụ cần tiếp tục quan tâm cho xuất khẩu, song song đó vừa phát triển dịch vụ trong nước. Ngày hôm qua, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nói, dịch bệnh vẫn phức tạp do đó, vẫn cần tăng cường năng lực y tế.

Tiếp đến là lĩnh vực lương thực thực phẩm, khi Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) vẫn lo ngại nạn đói có thể xảy ra vì dịch cúm và tình trạng biến đổi khí hậu.

Tôi kỳ vọng vào việc nâng cao chuỗi giá trị ở trung hạn vì có thời gian phát triển để phát triển nội lực. Tôi mừng rằng mục tiêu phát triển nội lực đã được các vị lãnh đạo cấp cao nói nhiều và được luật hóa trong các nghị quyết và văn bản pháp luật trong thời gian vừa qua.

Nếu thu hút đầu tư FDI mà nhà đầu tư phải mang hết các thứ vào Việt Nam từ Trung Quốc thì Việt Nam cũng chưa được xem là điểm đến đầu tư hấp dẫn. Do đó, hy vọng chỉ 2-3 năm nữa là mình có thể làm được điều này.

Ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch Đầu tư.

 

Những tổn thương về mặt kinh tế của các nước lớn do dịch Covi-19, dẫn đến những thay đổi chiến lược như tái cơ cấu chuỗi cung ứng, tinh thần tự chủ quốc gia, dân tộc trỗi dậy (so với toàn cầu hóa)…, liệu những điều này có ảnh hưởng đến “tiềm năng” của các FTA?

Ông Phan Hữu Thắng: Chúng ta có lợi thế với nhiều hiệp định thương mại. Cơ hội thì có, nhưng phụ thuộc vào việc chúng ta có tận dụng được cơ hội đó không? Nhen nhúm một chút cơ hội thôi nhưng chúng có biết cách tận dụng và tổ chức để sử dụng cơ hội đó không? Thực ra không có cơ hội vàng nhưng là các điểm vàng là là thành công trong phòng chống đại dịch, tái khởi động nền kinh tế. Chúng ta còn nhiều khó khăn trong thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới vì nhiều đối tác lớn như Mỹ, Singapore, Trung Quốc đều bị tổn thương vì Covid-19, họ phải tạm đình chỉ các hoạt động đầu tư, xúc tiến, và ký kết.

Chúng ta xác định đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm nay giảm 20%, nhưng là điều kiện chấp nhận được trong bối cảnh hiện tại, và chúng ta đã có thể tóm được một số cơ hội để ngăn chặn giảm thiểu suy giảm lớn của đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong năn 2020. Từ tín hiệu tốt sẽ trở thành cơ hội vàng.

 

11:15

Những khó khăn thực tế của DN Việt Nam trong thời gian qua khi xâm nhập thị trường nước ngoài à gì? Cụ thể về thách thức “nguồn gốc, xuất xứ” của nguyên phụ liệu hay hàng hóa/dịch vụ trong các FTA, theo bà Trang những bước đi chiến lược quốc gia nên như thế nào? (thay vì để DN tự bơi, và bao gồm cả việc ngăn chặn tình trạng đội lốt nguồn gốc Việt)

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Giới quan sát cho rằng 2 năm nữa kinh tế thế giới sẽ phục hồi, nhưng sẽ phục hồi theo cách khác, mà phục hồi đi kèm sự thay đổi, phục hồi theo trạng thái mới. Nhu cầu về sản phẩm CNTT sẽ tăng lên để đáp ứng cho cách thức làm việc mới. Cầu về sản phẩm xanh sẽ được thúc đẩy mạnh hơn. Nhu cầu về những sản phẩm và dịch vụ mà trước đây chưa có giờ có nhu cầu, đã xuất hiện sau khoảng thời gian thực hiện giãn cách xã hội. Khoàng thời gian thực hiện giản cách xã hội cũng giúp người dân nhìn nhận đâu là sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống. Đây là sự thay đổi về xu hướng tiêu dùng hàng hóa.

Có những hàng hóa nhỏ nhưng cũng làm cho chúng ta suy nghĩ về sự thay đổi. Ví dụ, tại Nhật Bản, nhu cầu tiêu thụ mỹ phẩm giảm đi. Về quy mô thế giới, sự cạnh tranh đã thay đổi, cách thức làm việc thay đổi. Trước dịch người ta nói nhiều chuyện căng thẳng thương mại Mỹ - Trung... giờ cả cung và cầu đều đang thay đổi. Nếu muốn nắm bắt cơ hội chúng ta cũng sẽ phải thay đổi theo.

Nói tiếp ý về cơ hội, Việt Nam nhìn thấy cơ hội vàng, nhưng có vàng không còn tùy thuộc vào người có biết đãi vàng không. Chúng ta cần biết sốt ruột để tận dụng cơ hội. Cơ hội luôn đi kèm thách thức. Cơ hội thu hút dóng vốn đầu tư đi kèm với thách thức là những ngành sản xuất quan trọng bị thâu tóm, chất lượng đầu tư kém.

Sự chuyển dịch sản xuất cần đi kèm với quyết tâm thoát khỏi hình ảnh nước gia công đơn thuần... Cần lưu ý rằng việc tăng thu hút đầu tư nước ngoài thì áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp nội địa tăng lên... đó là những điều mà Việt Nam phải tính đến.

Cơ hội là có, Việt Nam đang có uy tín sau giai đoạn phòng chống dịch bệnh nhưng để thu hút đầu tư theo tôi Nghị quyết 50 là chưa đủ; cần có chiến lược bài bản để thu hút dòng vốn đầu tư. Ví dụ, Ấn Độ dành đất đai, chuẩn bị cơ sở hạ tầng để thu hút, nhận diện nhà đầu tư để tiếp cận, công bố kế hoạch giảm thuế, điều chỉnh môi trường lao động... Nếu đã có nghị quyết mà vẫn từ từ, hành động thủng thẳng thì Việt Nam sẽ bỏ qua cơ hội hàng trăm năm (các nhà đầu tư sôi sục dịch chuyển sản xuất khi có đại dịch). Có nhiều vấn đề phải làm để nắm bắt thời cơ.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

 

11:20

Mọi người bàn nhiều đến chất lượng nguồn vốn FDI, theo ông, chất lượng nguồn vốn đã cải thiện trong mấy năm qua chưa? Nhà đầu tư nước ngoài họ mong đợi gì về chính sách để họ yên tâm đầu tư vào Việt Nam giai đoạn này?

Ông Phan Hữu Thắng: Chính sách của Việt Nam đã tương đối đầy đủ, nhưng giữa chính sách và thực hiện còn cách nhau quá lớn. Nghị quyết có xây dựng chiến lược, nhưng tổ chức như thế nào, bộ ngành và trung ương làm gì, có phân công cụ thể như thế nào là vấn đề lớn. Theo tôi phương thức sản xuất đã thay đổi theo nhu cầu mới của đời sống, kinh doanh, và thu hút đầu tư nước ngoài như vậy cũng phải thay đổi, nếu theo truyền thống thì dễ thất bại. Xu hướng về sản xuất công nghiệp là theo công nghệ cao, nhưng làm thế nào để thu hút công nghệ cao thì phải bằng cách tạo dựng cơ sở hạ tầng đầy đủ phù hợp với phương thức hoạt động trong giai đoạn mới.

Chúng ta phải có kế hoạch cụ thể: đối với đầu tư nước ngoài để thu hút công nghệ cao thì là những dự án nào, lĩnh vực nào cu phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế từng ngành nghề. Từ đó, xây dựng quy hoạch thu hut đầu tư công nghệ cao, tạo điều kiện từ mặt bằng, đến phần mềm, lao động chất lượng cao, tìm đúng đối tác mình cần, có chương trình xúc tiến đầu tư bài bản, có hệ thộng luật pháp chính sách tạo điều kiện cho các dự án thành công.

Cơ hội luôn đi cùng thách thức, một mặt thu hút thật nhiều vốn đầu tư, nhưng phải có sự chọn lọc.

 

11:26

Có một điều đáng lo ngại là 2-3 năm qua số lượt nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào Việt Nam qua hình thức góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp trong nước ((M&A) tăng mạnh và cao hơn số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đáng chú ý, dịch Covid-19 khiến nhiều doanh nghiệp trong nước với tài chính và quản lý yếu kém sẽ khó trụ được lâu thì việc thâu tóm doanh nghiệp Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài sẽ tăng cao? Không ít ý kiến còn lo ngại thời điểm này nhà đầu tư nước ngoài sẽ thâu tóm doanh nghiệp Việt Nam với giá rẻ,... Ông nghĩ sao về điều này? Liệu Việt Nam cần có chính sách cho ngưng thực hiện giao dịch M&A lúc này?

Ông Phan Hữu Thắng: Tôi đã nghiên cứu sâu về vấn đề này. Đúng là có hiện tượng thâu tóm doanh nghiệp trong nước thông qua các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A) trong 2-3 năm gần đây, năm 2019 cao hơn hẳn năm 2018. Tuy nhiên, đó có phải xu hướng mạnh và lấn át dòng vốn FDI chưa thì chưa phải.

Xu thế này, tôi cho rằng chưa phải ở mức quá đáng lo ngại. Lo ngại là phải nhận biết xu hướng và quản lý chặt chẽ, phải có định hướng rất rõ với các lĩnh vực ngành nghề gì thì thực hiện qua M&A.

Tuy nhiên, chúng ta không cấm được doanh nghiệp, bởi họ được làm cái gì mà pháp luật không cấm, đặc biệt trong bối cảnh khó khăn do Covid-19 và doanh nghiệp thiếu nguồn vốn làm ăn. Đối với lĩnh vực ngành nghề pháp luật không cấm thì các doanh nghiệp được thực hiện.

Bên cạnh việc chọn lựa theo lĩnh vực mà chúng ta cần, chúng ta cũng phải lựa chọn theo đối tác đầu tư, không thể để Trung Quốc đầu tư núp bóng, lấy người Việt để mua đất, mua dự án. Chúng ta biết nhưng giải pháp phòng chống, xử lý còn yếu. Vấn đề là chính phủ cần quan sát và sớm nhìn ra cái gì có thể gây tác hại trong ngắn hạn và dài hạn.

 

11:30

Câu hỏi khán giả dành cho bà Phạm Chi Lan: Theo bà, các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp cần tập trung vào việc gì, nhất là đối với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay thì các chính sách của Việt Nam đã đầy đủ hay chưa?

Bà Phạm Chi Lan: Nhìn lại cuộc khủng hoảng 2008 thì hiện tại, việc Chính phủ đưa ra các gói giải pháp ứng phó khủng hoảng đã tốt hơn so với giai đoạn trước đây. Trong cuộc khủng hoảng 2008, Chính phủ đưa ra các gói kích cầu lớn nhưng định hướng không rõ ràng nên dòng tiền thay vì đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì lại đầu tư vào bất động sản, làm đẩy lãi suất ngân hàng lên cao, bất động sản xảy ra bong bóng... giá đất đắt lên và hệ quả của chính sách đó vẫn chưa khắc phục một cách triệt để đến tận thời điểm này. Lần này Chính phủ làm tốt, gói kích cầu có định hướng, mục tiêu và quy định cụ thể rõ ràng, ví dụ có gói kích cầu nhắm vào  những người bị mất việc làm do Covid-19. Có những đối tượng được hỗ trợ đúng mục tiêu, ví dụ hỗ trợ cho doanh nghiệp về thuế, tín dụng... Những gói hỗ trợ tốt và đúng đắn nhưng việc triển khai còn chậm, thủ tục còn nhì nhằng... Ví dụ, hiện có doanh nghiệp chưa có nhu cầu vay vốn thì được xét đến còn doanh nghiệp có nhu cầu nhưng thủ tục vay vốn còn khó khăn.

Ai cũng thấy ngân sách sụt giảm và bị thu hẹp; nhà nước không cần đưa ra nền kinh tế nhiều tiền nhưng đã đưa ra thì phải kịp thời. Cứu người phải đúng lúc, họ đang ngắc ngoải cần kịp thời, chứ chờ lúc họ chết rồi thì không còn ý nghĩa nữa.

Cơ chế chính sách cần phải phục vụ mục tiêu phát triển nội lực, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Tăng trưởng phát triển thời gian qua của Việt Nam nhờ vào sự phát triển của doanh nghiệp, người dân chứ không chỉ nhờ đầu tư công. Nếu kỳ vọng vào đầu tư công nhiều quá không hẳn là điều tốt. Nhà nước cần có cơ chế đầu tư công do doanh nghiệp trong nước thực hiện.

Vào năm 2013, Việt Nam đưa ra chiến dịch tái cơ cấu đầu tư công và làm tốt. Nhưng tôi đang e ngại sẽ quay trở lại cách làm cũ đầu tư công gây thất thoát lãng phí, rơi vào tay doanh nghiệp nước ngoài, mà trong khi một số doanh nghiệp với điều kiện của họ không đáng được hưởng tại Việt Nam.

Ngay như trong hoạt động mua bán và sáp nhập, vấn đề không phải bán được hay không mà phải là bán cho ai, có lợi hay không... Nhà nước có quyền đưa ra những bộ lọc, trước đây như thế này giờ đây không như thế nữa... những dự án năng lượng tái tạo không nên để rơi hết vào tay nhà đầu tư nước ngoài.

 

11.40

Ông Thắng cho ý kiến thêm về việc có nên có những gói kích cầu, mời gọi đầu tư nước ngoài như các nước đang thực hiện hay không? Nếu có, cách làm nào cho hiệu quả?

Ông Phan Hữu Thắng: Bên cạnh đầu tư công, xúc tiến đầu tư tại chỗ cũng quan trọng. Vốn đăng ký đầu tư chưa giải ngân là 363 tỉ đô la Mỹ, nhưng thực hiện được có 209 tỉ đô la còn 154 tỉ đo la đã dăng ký rồi nhưng chưa giải ngân được. Trong khi chúng ta xúc tiến đầu tư đang gặp khó khăn thì chính những nhà đầu tư đang làm dở dang, đã được cấp giấy phép rồi thì chúng ta nên tạo điều kiện cho họ tiếp tục hoạt động, gỡ vướng về mặt bằng, hay chính sách… để họ bỏ vốn ra làm tiếp. Năm ngoái, tổng vốn đầu tư nước ngoài giải ngân chiếm 24,3%, năm nay chỉ cần thêm 1-2%, giải ngân khoảng vài tỉ đô la sẽ giúp tăng trưởng của Việt Nam tăng thêm 1%.

Chúng ta phải xúc tiến đầu tư tại chỗ. Tổ chức khảo sát tình hình các nhà đầu tư đã được cấp giấy phép hiện tại ra sao, vướng gì và chưa giải ngân được.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Tôi muốn bổ sung thêm ý kiến: không chỉ đẩy mạnh xúc tiến đầu tư nước ngoài tại chỗ mà cần thu hút cả nhà đầu tư trong nước. Tôi từng nghe thấy chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài nhưng chưa nghe thấy các ưu đãi thu hút đầu tư trong nước.

Tại sao lấy lý do chưa có quy định để làm, chúng ta làm ra quy định mà. Rất nhiều nước không có quy định sẵn, Anh, Mỹ, EU đều không có quy định. Họ đều đưa ra các quy định mới trước đây lĩnh vực này được đầu tư thì giờ đây phải có sự chấp thuận của chính quyền.

Đúng là tài sản của tư nhân, là quyền kinh doanh của họ, nhưng tài sản tư nhân và quyền tự do kinh doanh đứng sau lợi ích quốc gia. Các nước đang có công cụ mới, ứng phó với môi trường kinh doanh mới. Theo tôi, doanh nghiệp họ cần sự hỗ trợ về cơ chế nhiều hơn, hỗ trợ từ cơ chế tốt hơn nhiều so với hỗ trợ bằng tiền.

 

11:45

Câu hỏi của khán giả: Việt Nam cần làm gì khi nhiều doanh nghiệp Mỹ chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất, điều này ảnh hưởng tích cực thế nào? Thực tế không phải đến lúc này các chuỗi cung ứng toàn cầu mới chọn Việt Nam mà họ đã từng đặt ra vấn đề này nhiều lần nhưng Việt Nam chưa tận dụng cơ hội để từng bước nâng cấp mình lên, vì sao? Liệu lần này có khác hơn hay không?
Bà Lan trả lời

Bà Phạm Chi Lan: Cụm từ được đề cập nhiều gần đây là "cơ hội vàng", nhưng theo tôi cơ hội vàng đến từ tùy nơi, tùy lĩnh vực... nếu không ẩn thận vàng sẽ có lẫn đất sét. Cơ hội không dành riêng cho Việt Nam, mà còn cả cho Ấn Độ, Indonesia... Các nước dành ưu tiên và mục tiêu rõ ràng, còn Việt Nam vẫn đang đi theo chiến lược có nhiều mũi nhọn,đây cũng là nguyên nhân Việt Nam bỏ lỡ nhiều cơ hội. Nhìn lại vì sao ta bỏ lỡ cơ hội, tôi cho rằng một phần là do vẫn còn tình trạng hô khẩu hiệu mà không chịu đánh giá thực lực và có sự nghiên cứu, phân tích xem cần phải làm gì để thay đổi tình trạng và nắm bắt cơ hội. Trước ta coi mình là cô gái đẹp, giờ cô gái đã già rồi...

Chúng ta háo hức nói về công nghệ 4.0. Nhưng thực tế ta làm rất ít để tận dụng cơ hội từ cuộc cách mạng 4.0. Khát vọng và mong đợi của người thiết kế cơ chế nó không giống với khát vọng cơ chế của doanh nghiệp. Đưa ra chính sách hay nhưng hành động thực thi chính sách kém thì không hiệu quả. Cần có chế tài, kỷ cương áp vào cả người dân, doanh nghiệp và nhà nước. Phải có chế tài nghiêm thì doanh nghiệp mới làm được. Chính sách không nên cố kiểm soát doanh nghiệp hơn là tạo thuận lợi. Trong khi thế giới đã khác, rất phát triển nhưng Việt Nam vẫn đang loay hoay tháo gỡ rào cản, khó khăn...

Mừng là dịch Covid-19 vừa qua với những gì xảy ra tại Việt Nam cho thấy bài học tốt. Khi chúng ta chọn một mục tiêu và ưu tiên cao nhất để tập trung làm sẽ làm được. Một bộ máy điều hành cương quyết, các bộ ngành phối hợp tốt, người đứng đầu hiểu việc và áp dụng những cái tiến bộ vào xử lý tình thế khó khăn đã cho kết quả tích cực. Nhưng làm sao nuôi dưỡng được tinh thần đó trong thời gian tới là điều đáng quan tâm.

Chính sách thời gian qua rõ ràng, Chính phủ cần minh bạch, cập nhật thông tin thường xuyên, thông suốt. Nếu làm được theo cách ta đã làm trong phòng chống dịch thì sẽ phát triển tốt.

 

11:50

Covid -19 tác động thế nào đến dệt may và chuỗi cung ứng?

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Dệt may là ngành mũi nhọn với thị trường xuất khẩu là Mỹ, châu Âu... Covid-19 làm cho dệt may bị ảnh hưởng lớn. Lúc đầu dịch bệnh bùng phát tại Trung Quốc đã gây ảnh hưởng đến đầu vào, nguyên liệu cho ngành này. Sau đó Mỹ, châu Âu bùng phát dịch bệnh thì ngành dệt may bị ảnh hưởng về cầu. Thời gian sắp tới cầu vẫn tiếp tục bị ảnh hưởng. Sau dịch bệnh, người tiêu dùng giảm nhu cầu sử dụng đồ may mặc mới, cắt giảm những sản phẩm không thân thiện với môi trường... nên ngành may mặc sẽ còn khó khăn.

Xuất khẩu dệt may của Việt Nam đứng thứ 2-3 của thế giới nhưng cách hạng 1 là Trung Quốc rất xa. Thời gian tới chắc chắn thị trường sẽ khó khăn, nhưng cũng có cơ hội để tận dụng ưu đãi thuế quan trong các hiệp định.

Khó khăn cần phải khắc phục đó là vấn đề cốt lõi của cầu, cần tận dụng ưu đãi thuế quan để cạnh tranh về giá. Tuy nhiên, nhu cầu của thế giới đã thay đổi. Họ có nhu cầu những mặt hàng may mặc chất lượng tốt và không gây hại cho môi trường. Do đó, nhà sản xuất cần gia tăng giá trị thực cho sản phẩm.

Kim ngạch xuất khẩu sẽ không được như cũ. Mặc dù khó khăn nhưng vẫn có đường ra, nếu doanh nghiệp quyết liệt làm, có giải pháp vẫn phát triển dược. Doanh nghiệp dệt may lớn đã bắt đầu làm từ khâu thiết kế, phát triển những nguyên liệu vải có tại Việt Nam... Trước ta làm mỗi được may, giờ ta làm được cả sợi và xuất khẩu. Còn khâu dệt nhuộm ta không làm được. Nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư vào mảng dệt nhuộm nhưng nhiều địa phương không muốn nhận vì sợ ô nhiễm trong khi ngành này hiện gần đây công nghệ đã hiện đại hơn... Ngân hàng cũng e ngại cho ngành này vay vốn. Việc tiếp cận vốn, đầu tư cho ngành dệt nhuộm khó... cần chính sách tổng thể từ nhà nước, thuế, đất đai, môi trường, vốn... để phát triển ngành này.

 

11:55

Những lời khuyên của các chuyên gia đối với doanh nghiệp Việt trong việc chuẩn bị hành trang để phát triển trong trạng thái “bình thường mới”?

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Bên cạnh việc lựa chọn mục tiêu rõ ràng, minh bạch, cách thức rõ ràng, thì tôi muốn nói cơ hội không tự nhiên đến, và Việt Nam phải có kế hoạch rõ ràng để thu hút đầu tư nước ngoài và đầu tư công. Đó là đầu tư cho những cái nhà đầu tư nước ngoài quan tâm như cơ sở hạ tầng, ví dụ như đường vào cảng phải đồng bộ hay đầu tư cho nhân lực, đào tạo chuyên môn. Muốn thu hút phải có giải pháp đầu tư cho các dự án thu hút đầu tư, có chính sách giảm thuế, đó là khoản đầu tư của nhà nước, để các khoản đầu tư có chất lượng, tương xứng với khoản  đầu tư bỏ ra ban đầu.

Trong lúc chờ chính sách thay đổi thì doanh nghiệp phải làm gì?

Bà Phạm Chi Lan: Theo quan sát tôi thấy, ở phía Nam các doanh nghiệp đã chuẩn bị cho đường đua mới, họ thấy rằng nếu phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường đầu vào/đầu ra sẽ thành vấn nạn cho mình, nên họ tìm mọi cách để chuyển động. Các doanh nghiệp cần phải tăng nội lực.

Chỉ mình doanh nghiệp không thôi rất khó để làm, nhưng hiệp hội thì có thể. Các hiệp hội nên cùng nhau bỏ ra một khoản đầu tư cho hoạt động nghiên cứu tương lai sẽ như thế nào, thói quen của người tiêu dùng sẽ thay đổi rất nhiều, nên xem lại nghiên cứu để xem nên đi về đâu và cái gì sẽ là xu hướng trong tương lai? thị trường lớn, thị trường ngách, cách thức kinh doanh như thế nào? Cần nghiên cứu định hình lại trong tương lai như thế nào.

Cần nhớ rằng thị trường rất khó để hồi phục như cũ, và sẽ là hồi phục trong giai đoạn bình thường mới. Bình thường mới cũng có những bất thuường mới. Do đó, cần nghiên cứu lo cho việc đó.

Các doanh nghiệp cần ngồi lại với nhau, bàn lại trong phạm vi hiệp hội để xem chúng ta có thể cùng nhau làm gì, đừng trông chờ vào nhà nước. Trên cơ sở yêu cầu của mình, cần đề xuất chính sách cần thiết, cần xem mình làm gì, làm cái gì cần thiết trong tương lai. Cần lo cho dài hạn, đầu tư dài hạn chứ không ngắn hạn.

Với đối tác nước ngoài thì nên xem xét đầu tư với ai, chọn ai trong khi bao nhiêu cửa đang mở ra cho mình như các hiệp định thương mại. Với Mỹ thì chí ít hai bên đã cùng nhau đàm phán TPP, làm cơ sở cho hợp tác trong tương lai

Tôi chờ đợi sự chủ động của doanh nghiệp, đừng chờ nhà nước đi chào mời vốn đầu tư, bản thân doanh nghiệp nên chủ động chào mời, thuyết phục nhà đầu tư vào để làm cùng với họ. Tôi tin ngôn ngữ chung của doanh nghiệp khi đối thoại cùng nhau sẽ dễ dàng hơn so với khi đối thoại với nhà nước. Tôi mong doanh nghiệp nên theo tinh thần như vậy không chỉ cứu mình, nâng mình lên, tạo bước ngoặt cho nền kinh tế.

 

12:00

Kết thúc

In bài
Gửi bài cho bạn bè
CÙNG CHUYÊN MỤC
Dấn thân vào EVFTA không chỉ để xuất con tôm, bán cân gạo
Du lịch tính kế hoạch sống chung với dịch
Chuyển đổi số cần thích ứng với yêu cầu mới, không phải phong trào
Kết quả thống kê 'phủ nhận' nỗ lực giải cứu doanh nghiệp
Thế Giới Di Động vượt khó bằng các cửa hàng nhỏ và siêu nhỏ

Tường thuật trực tuyến tọa đàm: Hậu Covid-19, chuẩn bị gì để trở lại đường đua?

Nhóm PV
Thứ Bảy,  23/5/2020, 09:54 

Tường thuật trực tuyến tọa đàm: Hậu Covid-19, chuẩn bị gì để trở lại đường đua?

Nhóm PV

(TBKTSG Online) - Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế thế giới và Việt Nam. Ngay cả khi dịch bệnh trong nước được kiểm soát hoàn toàn thì nhiều ngành dịch vụ và sản xuất hướng ra xuất khẩu có thể sẽ còn gặp khó khăn lâu dài, một khi Covid-19 còn chưa hoàn toàn biến mất ở các khu vực kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới.

Vậy dưới góc nhìn của các chuyên gia kinh tế hàng đầu Việt Nam, nền kinh tế sắp tới sẽ diễn biến ra sao?, cách thức tận dụng các hiệp định thương mại, cách thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hiệu quả trong xu hướng các nước lớn đang định vị lại chuỗi cung ứng toàn cầu?, những vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý khi Việt Nam bước sang trạng thái “bình thường mới”?

Ban tổ chức hy vọng quý độc giả có thể tìm thấy lời giải đáp cho những câu hỏi kể trên tại buổi tọa đàm cuối cùng của chuỗi “Cùng doanh nghiệp vượt qua đại dịch” với chủ đề: “Hậu Covid-19: Chuẩn bị gì để trở lại đường đua?", diễn ra lúc 10h30 sáng hôm nay, ngày 22-05-2020.

Như thường lệ, buổi tọa đàm sẽ được phát trực tuyến (livestream) tại các Fanpage của Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Hội doanh nhân trẻ TPHCM, Tôn Colorbond và tại báo điện tử Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online.

Các diễn giả của tọa đàm “Hậu Covid-19: Chuẩn bị gì để trở lại đường đua?", từ phải sang trái: Ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch Đầu tư; Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan; MC Quốc Khánh; TS. Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Các diễn giả chính của buổi tọa đàm là những chuyên gia uy tín, có sự hiểu biết sâu rộng về kinh tế vĩ mô.

Trong đó, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan sẽ chia sẻ góc nhìn của bà về tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam từ nay đến cuối năm, những giải pháp mà chính phủ nên thực hiện trong thời gian tới như đầu tư công, chính sách tài khóa, tiền tệ sao cho doanh nghiệp có thể tồn tại và tăng trưởng trở lại sau dịch. Những lời khuyên của bà đối với doanh nghiệp Việt trong việc chuẩn bị hành trang để phát triển trong trạng thái “bình thường mới”.

Ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch Đầu tư, sẽ mang đến những thông tin về xu hướng dịch chuyển đầu tư từ các nước sang Việt Nam, việc tận dụng các cơ hội từ dòng dịch chuyển vốn như hiện nay sao cho hiệu quả. Ông Thắng cũng sẽ chia sẻ những kiến nghị về mặt chính sách của chính phủ để tăng thu hút đầu tư lại sau dịch.

Trong khi đó TS. Nguyễn Thị Thu Trang – Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), sẽ cập nhật các điểm mới trong hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) và cơ hội của các hiệp định thương mại khác đến cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, cơ hội thách thức về giao thương, xuất khẩu của doanh nghiệp Việt khi dịch đi qua. Đồng thời bà Trang cũng sẽ nói thêm về việc doanh nghiệp cần chuẩn bị gì để đón nhận những cơ hội khi nền kinh tế các nước hồi phục.

Chuỗi tọa đàm trực tuyến "Cùng doanh nghiệp vượt qua đại dịch" được tổ chức bởi Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Hội Doanh nhân trẻ TPHCM, và nhãn hàng Tôn Colorbond của Công ty NS Bluescope Việt Nam.

Ngay bây giờ, quý độc giả đã có thể đặt câu hỏi tại đây.

 

10:40

MC Quốc Khánh: Nhiều ý kiến lạc quan cho rằng kinh tế thế giới sẽ không mất quá nhiều thời gian để hồi phục khi tình hình dịch bệnh Covid-19 bắt đầu được kiểm soát tốt hơn ở một số nước châu Á, châu Âu… Vậy, theo các diễn giả,nhận định này có đúng không?

Bà Phạm Chi Lan: Các tổ chức phân tích lớn trên thế giới đều đưa ra bức tranh kinh tế toàn cầu ảm đạm từ nay tới cuối năm. Nhiều người hy vọng kinh tế sẽ phục hồi sớm nhưng điều này rất khó. Trên thực tế, số người thất nghiệp tăng kỷ lục tại Mỹ, số người đăng ký nhận trợ cấp thất nghiệp cũng ở mức kỷ lục. Lúc đầu, Mỹ tự hào về những con số dự báo về tăng trưởng kinh tế, ngưng giờ vì con virus nhỏ bé đã làm sụp đổ hoàn toàn. Tại các nền kinh tế khác cũng vậy.

Phản ánh bức tranh kinh tế thế giới, chúng ta có thể nhận thấy sự gia tăng con số thực tế người mất việc, người dân có thu nhập thấp, nhu cầu tiêu dùng cũng thấp theo, cả cung và cầu đều ảm đạm thì nền kinh tế lấy đâu ra động lực tăng trưởng.

Trong thời gian tới, tình hình kinh tế thế giới sẽ chuyển biến như thế nào, theo dự báo của ông, bà? Bà Phạm Chi Lan có cho rằng đại dịch lần này có sẽ tạo ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hay không? Bà có sự so sánh ra sao giữa cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 và lần khủng hoảng này?

Bà Phạm Chi Lan: Nhiều người nói rằng, chu kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới đang quay trở lại sau 12 năm. Lần này khác so với lần trước (2008), không phải từ lý do kinh tế mà từ nguyên nhân y tế là dịch cúm. Năm 2008, khủng hoảng kinh tế diễn ra tại Mỹ, bắt nguồn từ bong bóng bất động sản, nó phản ánh sự rủi ro của việc đầu tư quá nhiều tại các ngành sản xuất hoặc ngành kinh tế nào đó. Giờ thì khủng hoảng kinh tế xảy ra từ dịch cúm. Con virus corona đã gây ảnh hưởng tới một loạt lĩnh vực, ngành nghề kinh tế trên toàn cầu. Ví dụ, dịch bệnh đã làm thay đổi chuỗi cung ứng toàn cầu. Chuỗi cung ứng toàn cầu chủ yếu diễn ra tại Trung Quốc, giờ vì con virus nhỏ bé mà toàn bộ chuỗi cung ứng bị đứt gẫy trên phạm vi toàn cầu.

Cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 liên quan tới lĩnh vực tài chính, và không ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng toàn cầu.

Hơn nữa, trong cuộc khủng hoảng 2008 có sự chung tay kiểm soát của giới lãnh đạo của toàn cầu, Mỹ đã chung tay với các tổ chức tài chính toàn cầu để cùng đưa ra giải pháp khắc phục. Nền kinh tế toàn cầu thời kỳ đó được dẫn dắt bởi các nền kinh tế lớn. Thế nhưng, cuộc khủng hoảng lần này lại diễn ra khi hai nền kinh tế hàng đầu Mỹ - Trung đã có sự xung đột gay gắt. Giờ đây, thế giới cần có sự hợp tác, trước hết là hai nền kinh tế lớn, sau đó là các nền kinh tế khác, cùng nhau đưa thế giới vượt qua khủng hoảng.

Hiện có nhiều nhận định về cơ hội “hiếm có”, "cơ hội vàng” cho Việt Nam, sự “chuyển biến ngoạn mục”, gây “kinh ngạc” cho thế giới... thời hậu đại dịch…Quan điểm của  các diễn giả như thế nào về những mỹ từ như vậy?

Ông Phan Hữu Thắng: Đúng là Việt Nam đã thành công trong việc khống chế dịch Covid-19, tạo ra một lợi thế cho Việt Nam trong khi các nước khác đang gặp khó khăn. Việc này đã góp phần xây dựng và củng cố lòng tin nơi các nhà đầu tư nước ngoài. Thứ nhất, trong mắt họ (các nhà đầu tư) là sự an toàn khi nhìn thấy không chỉ người dân Việt Nam mà còn cả người nước ngoài đều được hưởng dịch vụ chữa bệnh tốt nhất trong điều kiện có thể.

Thứ hai, các nhà đầu tư cũng nhìn thấy cơ hội vàng tại Việt Nam nhờ có sự phát triển kinh tế liên tục trong các năm vừa qua, cụ thể là sự tăng trưởng nhanh và mạnh mẽ của nền kinh tế. Họ cũng nhìn thấy sự quyết liệt, đứng đắn trong sự chỉ đạo của Chính phủ trong công tác phòng chống dịch và  khởi động lại nền kinh tế. Trong tháng 4 vừa qua đã có các dấu hiệu tích cực về đầu tư nước ngoài.

Các nhà đầu tư cũng ghi nhận Việt Nam có chủ trương nhất quán trong ứng xử với dòng vốn đầu tư nước ngoài, luôn coi đầu tư nước ngoài là một cấu thành quan trọng của nền kinh tế để phát triển. Tất cả đang góp phần tạo nên cơ hội vàng cho Việt Nam trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy và dòng vốn đầu tư nước ngoài sụt giảm.

Việt Nam làm thế nào để tận dụng cơ hội vàng này, thưa ông?

Ông Phan Hữu Thắng: Để tận dụng cơ hội trong thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần phải thực hiện nhiều việc. Nhiều cuộc hội nghị đã bàn đến việc thúc đẩy vốn đầu tư nước ngoài. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đang suy giảm từ 1.300 tỉ đô la Mỹ xuống còn gần 1.000 tỉ đô la. Sự cạnh tranh đến từ các nước trong khu vực ngày càng tăng, cần có nhiều nhiều chính sách, sự hỗ trợ để lôi kéo nhà đầu tư nước ngoài.

Nghị quyết 50 xác định chủ trương, tạo tiền đề cơ bản và cũng là căn cơ để tạo điều kiện nâng cao hiệu quả trong thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài. Việc thay đổi, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hệ thống luật pháp chính sách theo đúng định hướng thu hút đầu tư nước ngoài một cách có chọn lọc... là những việc cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế ngày càng phức tạp hơn. Cần vạch ra các kế hoạch cụ thể, từ chủ trương đến thực tế, tổ chức thực hiện hoàn thiện thể chế cơ chế chính sách.

 

10:50

Ông Phan Hữu Thắng vừa đề cập đến cơ hội thu hút luồng vốn vào Việt Nam, còn cơ hội nào cho doanh nghiệp xuất khẩu đưa hàng sang các nước sau dịch bệnh, trong khi bối cảnh thực tế các ngành gỗ, dệt may đều gặp khó, thưa bà Nguyễn Thị Thu Trang?

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Nói về cơ hội đối với xuất khẩu, rõ ràng cơ hội trong xuất nhập khẩu không phải là "cơ hội vàng" như thu hút đầu tư FDI. Ngành xuất nhập khẩu của Việt Nam phụ thuộc vào 2 yếu tố: sức mua của thị trường toàn cầu và mức độ cạnh tranh với các đối thủ xuất khẩu mặt hàng tương tự. Xét trên 2 yếu tố này, chúng ta nhận thấy: hiện tại cầu vẫn yếu; cung thì trong giai đoàn đầu của dịch bệnh, Việt Nam được lợi một chút khi sản xuất ở các nền kinh tế đối thủ bị đình đốn, nhưng đến quí 2-2020, khi cầu ở các thị trường lớn như Mỹ và châu Âu sụt giảm đột ngột thì cung cũng bị ảnh hưởng theo.

Khi các nền kinh tế lớn của thế giới khởi động trở lại sau dịch, nguồn cung của thế giới cũng sẽ gặp khó khăn. Ví dụ, Trung Quốc bắt đầu khởi động lại nền kinh tế, và các nhà xuất khẩu tại Trung Quốc sẽ dùng giá rẻ làm lợi thế cạnh tranh. Từ sự đứt gảy chuỗi cung ứng sản xuất, các nhà xuất khẩu sẽ e ngại rủi ro đến từ việc "tập trung trứng vào một rổ", và có sự điều chỉnh các ngành nghề thiết yếu đang phụ thuộc vào nước ngoài.

Sẽ có xu hướng dịch chuyển sản xuất là đa dạng hóa thị trường sản xuất, và nhiều nền kinh tế sẽ chuyển dịch nhà máy sản xuất về gần nước mình. Thậm chí có nhiều nước còn hỗ trợ để nhà đầu tư quay về thị trường bản địa. Do đó, các nhà xuất khẩu không chỉ bị cạnh tranh với các nhà xuất khẩu ở nước khác mà còn chịu sức ép cạnh tranh ở chính thị trường nội địa bởi ngành sản xuất nội địa của nước bản địa đang lớn dần lên.

Việt Nam vẫn có cơ hội. Thứ nhất, về cầu thì trong thời gian dịch bệnh, Việt Nam đã nâng được uy tín của mình từ việc kiểm soát tốt dịch bệnh, có sự ứng xử nhân văn với các nước đối tác, nước bạn. Thứ hai, một số mặt hàng như lương thực thực phẩm, vật tư y tế, thiết bị máy tính có thế mạnh xuất khẩu thì nhu cầu trên toàn cầu cũng tăng lên.

Ngoài ra, ở thị trường EU, việc hiệp định EVFTA đi vào thực tế cũng tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội. EU là thị trường xuất khẩu lớn, trên 400 triệu dân, nhưng là khu vực có sức mua lớn thứ 2 thế giới. Đặc biệt, các đối thủ cung cấp hàng hóa có tính cạnh tranh với Việt Nam tại EU như Trung Quốc đều chưa có hiệp định với nền kinh tế này.

Về dài hạn, cơ hội là có và chúng ta làm tốt vẫn có thể tận dụng được.

Giai đoạn này là giai đoạn cần nghiên cứu lại chính thị trường trong nước, ổn định hệ thống và tận dụng việc chi phí vận chuyển và vận hành đang rẻ. Trong giai đoạn xuất khẩu còn mờ nhạt về tín hiệu hồi phục thì thị trường trong nước xứng đáng để các nhà sản xuất quan tâm và tập trung.

Các nước đang thu hút nhu cầu về mình, doanh nghiệp Việt Nam cũng nên chinh phục lại thị trường trong nước để đi hai chân, vừa tăng cường xuất khẩu vừa tăng cường tiêu thụ tại thị trường nội địa.

Bà Thu Trang có nói đến lợi thế từ các hiệp định thương mại tự o (FTA), nhưng nhìn lại các FTA sau khi có hiệu lực, vì sao Việt Nam tận  dụng được rất ít cơ hội để mở rộng thị trường, trong khi kỳ vọng trước đó rất nhiều?

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Nếu chỉ nhìn góc độ xuất khẩu, những hiệp định như EVFTA thì cơ hội lớn nhất là thuế quan, giúp hàng hoá cạnh tranh hơn về giá.

Khó khăn mà Covid-19 gây ra cho thương mại là làm giảm nhu cầu, tăng tính cạnh tranh ở nguồn cung. Do đó, khi EVFTA đi vào thực tế thì lợi thế về giá giúp Việt Nam có thêm một chút lợi thế trong việc cung ứng hàng hóa, nhưng nó không làm thay đổi nhu cầu. Hiệp định này giúp các nhà xuất khẩu Việt Nam một phần nhưng không khắc phục được hết những khó khăn mà họ đang đối mặt sau dịch bệnh.

Tuy nhiên, ông bà ta đã có câu "một miếng khi đói bằng một gói khi no", nếu biết cách tận dụng lợi thế sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam sống sót và tiếp tục duy trì sản xuất, kinh doanh. Không nên nghĩ EVFTA là cây đũa vàng, nhưng nó là con đường hữu ích nếu chúng ta tận dụng được. Mặc dù, EVFAT đã hơi "nhạt màu" vì tác động của Covid-19.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan

 

11:00

Những rối loạn về chuỗi cung ứng, thị trường xuất nhập khẩu, sức mua ở thị trường các nước do dịch Covid-19 gây ra và việc EVFTA sắp có hiệu lực, hai điều này có mối liên quan/ ý nghĩa gì không về mặt cơ hội cho hàng hóa/dịch vụ Việt Nam “xuất bù phần bị hụt so với trước” và lấp những lỗ hổng/khoảng trống mới phát sinh?

Bà Phạm Chi Lan: Hôm qua có một phóng viên gọi điện thoại phỏng vấn tôi rằng Việt Nam sắp thông qua những hiệp định mới EVFTA, EVIPA thì liệu dịch Covid-19 có làm giảm lợi ích hay không? Tôi cho rằng nó sẽ thúc đẩy việc gia tăng lợi ích. Do tác động của Covid-19, các nền kinh tế đang phải tái cấu trúc lại để tăng lợi ích của mình, xu hướng dịch chuyển đầu tư sang Việt Nam để phát triển những ngành tạo ra giá trị gia tăng ở Việt Nam đang tăng lên. Đó là cơ hội cho Việt Nam phát triển.

Trước mắt, xuất khẩu từ Việt Nam sang liên minh châu Âu (EU) có thể bị sụt giảm, không đạt được như kỳ vọng được đặt ra (trước khi có dịch bệnh) mà ta trông chờ vào EVFTA, EVIPA. Thế nhưng, sự sụt giảm này chỉ trong ngắn hạn, về lâu dài sẽ tăng. Lâu nay, xuất khẩu nhiều nhưng 70% là đến từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Theo bà, lĩnh vực nào sẽ đón đầu cơ hội nói trên?

Bà Phạm Chi Lan: Đã có ý kiến nêu ra là Việt Nam tiếp tục phát triển lĩnh vực như sản phẩm bảo hộ y tế (khẩu trang, đồ bảo hộ y tế, găng tay...), dược phẩm cho cả trong nước và xuất khẩu. Nhiều nước vẫn đang lo lắng giai đoạn 2 của dịch bệnh và có thể kéo dài đến mùa hè sang năm. Nỗi lo lắng về dịch bệnh chỉ có thể chấm dứt khi có vaccine, và vaccine hoàn tất khâu thử nghiệm và tổ chức sản xuất đồng loạt cho người dân. Do đó, cần 1-2 năm nữa mới hình thành được.

Trong khoảng thời gian này, Việt Nam cũng có thể tìm tòi về sản phẩm y tế từ bản sắc riêng của Việt Nam, ví dụ từ những bài thuốc nam truyền thống, nhiều khi rất hiệu quả. Doanh nghiệp cũng nên quan tâm đến hoạt động xuất khẩu lao động làm việc trong mảng chăm sóc người bệnh, người già cho các thị trường Nhật Bản, Đức... Đây là những sản phẩm, dịch vụ cần tiếp tục quan tâm cho xuất khẩu, song song đó vừa phát triển dịch vụ trong nước. Ngày hôm qua, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nói, dịch bệnh vẫn phức tạp do đó, vẫn cần tăng cường năng lực y tế.

Tiếp đến là lĩnh vực lương thực thực phẩm, khi Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) vẫn lo ngại nạn đói có thể xảy ra vì dịch cúm và tình trạng biến đổi khí hậu.

Tôi kỳ vọng vào việc nâng cao chuỗi giá trị ở trung hạn vì có thời gian phát triển để phát triển nội lực. Tôi mừng rằng mục tiêu phát triển nội lực đã được các vị lãnh đạo cấp cao nói nhiều và được luật hóa trong các nghị quyết và văn bản pháp luật trong thời gian vừa qua.

Nếu thu hút đầu tư FDI mà nhà đầu tư phải mang hết các thứ vào Việt Nam từ Trung Quốc thì Việt Nam cũng chưa được xem là điểm đến đầu tư hấp dẫn. Do đó, hy vọng chỉ 2-3 năm nữa là mình có thể làm được điều này.

Ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch Đầu tư.

 

Những tổn thương về mặt kinh tế của các nước lớn do dịch Covi-19, dẫn đến những thay đổi chiến lược như tái cơ cấu chuỗi cung ứng, tinh thần tự chủ quốc gia, dân tộc trỗi dậy (so với toàn cầu hóa)…, liệu những điều này có ảnh hưởng đến “tiềm năng” của các FTA?

Ông Phan Hữu Thắng: Chúng ta có lợi thế với nhiều hiệp định thương mại. Cơ hội thì có, nhưng phụ thuộc vào việc chúng ta có tận dụng được cơ hội đó không? Nhen nhúm một chút cơ hội thôi nhưng chúng có biết cách tận dụng và tổ chức để sử dụng cơ hội đó không? Thực ra không có cơ hội vàng nhưng là các điểm vàng là là thành công trong phòng chống đại dịch, tái khởi động nền kinh tế. Chúng ta còn nhiều khó khăn trong thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới vì nhiều đối tác lớn như Mỹ, Singapore, Trung Quốc đều bị tổn thương vì Covid-19, họ phải tạm đình chỉ các hoạt động đầu tư, xúc tiến, và ký kết.

Chúng ta xác định đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm nay giảm 20%, nhưng là điều kiện chấp nhận được trong bối cảnh hiện tại, và chúng ta đã có thể tóm được một số cơ hội để ngăn chặn giảm thiểu suy giảm lớn của đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong năn 2020. Từ tín hiệu tốt sẽ trở thành cơ hội vàng.

 

11:15

Những khó khăn thực tế của DN Việt Nam trong thời gian qua khi xâm nhập thị trường nước ngoài à gì? Cụ thể về thách thức “nguồn gốc, xuất xứ” của nguyên phụ liệu hay hàng hóa/dịch vụ trong các FTA, theo bà Trang những bước đi chiến lược quốc gia nên như thế nào? (thay vì để DN tự bơi, và bao gồm cả việc ngăn chặn tình trạng đội lốt nguồn gốc Việt)

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Giới quan sát cho rằng 2 năm nữa kinh tế thế giới sẽ phục hồi, nhưng sẽ phục hồi theo cách khác, mà phục hồi đi kèm sự thay đổi, phục hồi theo trạng thái mới. Nhu cầu về sản phẩm CNTT sẽ tăng lên để đáp ứng cho cách thức làm việc mới. Cầu về sản phẩm xanh sẽ được thúc đẩy mạnh hơn. Nhu cầu về những sản phẩm và dịch vụ mà trước đây chưa có giờ có nhu cầu, đã xuất hiện sau khoảng thời gian thực hiện giãn cách xã hội. Khoàng thời gian thực hiện giản cách xã hội cũng giúp người dân nhìn nhận đâu là sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống. Đây là sự thay đổi về xu hướng tiêu dùng hàng hóa.

Có những hàng hóa nhỏ nhưng cũng làm cho chúng ta suy nghĩ về sự thay đổi. Ví dụ, tại Nhật Bản, nhu cầu tiêu thụ mỹ phẩm giảm đi. Về quy mô thế giới, sự cạnh tranh đã thay đổi, cách thức làm việc thay đổi. Trước dịch người ta nói nhiều chuyện căng thẳng thương mại Mỹ - Trung... giờ cả cung và cầu đều đang thay đổi. Nếu muốn nắm bắt cơ hội chúng ta cũng sẽ phải thay đổi theo.

Nói tiếp ý về cơ hội, Việt Nam nhìn thấy cơ hội vàng, nhưng có vàng không còn tùy thuộc vào người có biết đãi vàng không. Chúng ta cần biết sốt ruột để tận dụng cơ hội. Cơ hội luôn đi kèm thách thức. Cơ hội thu hút dóng vốn đầu tư đi kèm với thách thức là những ngành sản xuất quan trọng bị thâu tóm, chất lượng đầu tư kém.

Sự chuyển dịch sản xuất cần đi kèm với quyết tâm thoát khỏi hình ảnh nước gia công đơn thuần... Cần lưu ý rằng việc tăng thu hút đầu tư nước ngoài thì áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp nội địa tăng lên... đó là những điều mà Việt Nam phải tính đến.

Cơ hội là có, Việt Nam đang có uy tín sau giai đoạn phòng chống dịch bệnh nhưng để thu hút đầu tư theo tôi Nghị quyết 50 là chưa đủ; cần có chiến lược bài bản để thu hút dòng vốn đầu tư. Ví dụ, Ấn Độ dành đất đai, chuẩn bị cơ sở hạ tầng để thu hút, nhận diện nhà đầu tư để tiếp cận, công bố kế hoạch giảm thuế, điều chỉnh môi trường lao động... Nếu đã có nghị quyết mà vẫn từ từ, hành động thủng thẳng thì Việt Nam sẽ bỏ qua cơ hội hàng trăm năm (các nhà đầu tư sôi sục dịch chuyển sản xuất khi có đại dịch). Có nhiều vấn đề phải làm để nắm bắt thời cơ.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

 

11:20

Mọi người bàn nhiều đến chất lượng nguồn vốn FDI, theo ông, chất lượng nguồn vốn đã cải thiện trong mấy năm qua chưa? Nhà đầu tư nước ngoài họ mong đợi gì về chính sách để họ yên tâm đầu tư vào Việt Nam giai đoạn này?

Ông Phan Hữu Thắng: Chính sách của Việt Nam đã tương đối đầy đủ, nhưng giữa chính sách và thực hiện còn cách nhau quá lớn. Nghị quyết có xây dựng chiến lược, nhưng tổ chức như thế nào, bộ ngành và trung ương làm gì, có phân công cụ thể như thế nào là vấn đề lớn. Theo tôi phương thức sản xuất đã thay đổi theo nhu cầu mới của đời sống, kinh doanh, và thu hút đầu tư nước ngoài như vậy cũng phải thay đổi, nếu theo truyền thống thì dễ thất bại. Xu hướng về sản xuất công nghiệp là theo công nghệ cao, nhưng làm thế nào để thu hút công nghệ cao thì phải bằng cách tạo dựng cơ sở hạ tầng đầy đủ phù hợp với phương thức hoạt động trong giai đoạn mới.

Chúng ta phải có kế hoạch cụ thể: đối với đầu tư nước ngoài để thu hút công nghệ cao thì là những dự án nào, lĩnh vực nào cu phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế từng ngành nghề. Từ đó, xây dựng quy hoạch thu hut đầu tư công nghệ cao, tạo điều kiện từ mặt bằng, đến phần mềm, lao động chất lượng cao, tìm đúng đối tác mình cần, có chương trình xúc tiến đầu tư bài bản, có hệ thộng luật pháp chính sách tạo điều kiện cho các dự án thành công.

Cơ hội luôn đi cùng thách thức, một mặt thu hút thật nhiều vốn đầu tư, nhưng phải có sự chọn lọc.

 

11:26

Có một điều đáng lo ngại là 2-3 năm qua số lượt nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào Việt Nam qua hình thức góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp trong nước ((M&A) tăng mạnh và cao hơn số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đáng chú ý, dịch Covid-19 khiến nhiều doanh nghiệp trong nước với tài chính và quản lý yếu kém sẽ khó trụ được lâu thì việc thâu tóm doanh nghiệp Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài sẽ tăng cao? Không ít ý kiến còn lo ngại thời điểm này nhà đầu tư nước ngoài sẽ thâu tóm doanh nghiệp Việt Nam với giá rẻ,... Ông nghĩ sao về điều này? Liệu Việt Nam cần có chính sách cho ngưng thực hiện giao dịch M&A lúc này?

Ông Phan Hữu Thắng: Tôi đã nghiên cứu sâu về vấn đề này. Đúng là có hiện tượng thâu tóm doanh nghiệp trong nước thông qua các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A) trong 2-3 năm gần đây, năm 2019 cao hơn hẳn năm 2018. Tuy nhiên, đó có phải xu hướng mạnh và lấn át dòng vốn FDI chưa thì chưa phải.

Xu thế này, tôi cho rằng chưa phải ở mức quá đáng lo ngại. Lo ngại là phải nhận biết xu hướng và quản lý chặt chẽ, phải có định hướng rất rõ với các lĩnh vực ngành nghề gì thì thực hiện qua M&A.

Tuy nhiên, chúng ta không cấm được doanh nghiệp, bởi họ được làm cái gì mà pháp luật không cấm, đặc biệt trong bối cảnh khó khăn do Covid-19 và doanh nghiệp thiếu nguồn vốn làm ăn. Đối với lĩnh vực ngành nghề pháp luật không cấm thì các doanh nghiệp được thực hiện.

Bên cạnh việc chọn lựa theo lĩnh vực mà chúng ta cần, chúng ta cũng phải lựa chọn theo đối tác đầu tư, không thể để Trung Quốc đầu tư núp bóng, lấy người Việt để mua đất, mua dự án. Chúng ta biết nhưng giải pháp phòng chống, xử lý còn yếu. Vấn đề là chính phủ cần quan sát và sớm nhìn ra cái gì có thể gây tác hại trong ngắn hạn và dài hạn.

 

11:30

Câu hỏi khán giả dành cho bà Phạm Chi Lan: Theo bà, các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp cần tập trung vào việc gì, nhất là đối với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay thì các chính sách của Việt Nam đã đầy đủ hay chưa?

Bà Phạm Chi Lan: Nhìn lại cuộc khủng hoảng 2008 thì hiện tại, việc Chính phủ đưa ra các gói giải pháp ứng phó khủng hoảng đã tốt hơn so với giai đoạn trước đây. Trong cuộc khủng hoảng 2008, Chính phủ đưa ra các gói kích cầu lớn nhưng định hướng không rõ ràng nên dòng tiền thay vì đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì lại đầu tư vào bất động sản, làm đẩy lãi suất ngân hàng lên cao, bất động sản xảy ra bong bóng... giá đất đắt lên và hệ quả của chính sách đó vẫn chưa khắc phục một cách triệt để đến tận thời điểm này. Lần này Chính phủ làm tốt, gói kích cầu có định hướng, mục tiêu và quy định cụ thể rõ ràng, ví dụ có gói kích cầu nhắm vào  những người bị mất việc làm do Covid-19. Có những đối tượng được hỗ trợ đúng mục tiêu, ví dụ hỗ trợ cho doanh nghiệp về thuế, tín dụng... Những gói hỗ trợ tốt và đúng đắn nhưng việc triển khai còn chậm, thủ tục còn nhì nhằng... Ví dụ, hiện có doanh nghiệp chưa có nhu cầu vay vốn thì được xét đến còn doanh nghiệp có nhu cầu nhưng thủ tục vay vốn còn khó khăn.

Ai cũng thấy ngân sách sụt giảm và bị thu hẹp; nhà nước không cần đưa ra nền kinh tế nhiều tiền nhưng đã đưa ra thì phải kịp thời. Cứu người phải đúng lúc, họ đang ngắc ngoải cần kịp thời, chứ chờ lúc họ chết rồi thì không còn ý nghĩa nữa.

Cơ chế chính sách cần phải phục vụ mục tiêu phát triển nội lực, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Tăng trưởng phát triển thời gian qua của Việt Nam nhờ vào sự phát triển của doanh nghiệp, người dân chứ không chỉ nhờ đầu tư công. Nếu kỳ vọng vào đầu tư công nhiều quá không hẳn là điều tốt. Nhà nước cần có cơ chế đầu tư công do doanh nghiệp trong nước thực hiện.

Vào năm 2013, Việt Nam đưa ra chiến dịch tái cơ cấu đầu tư công và làm tốt. Nhưng tôi đang e ngại sẽ quay trở lại cách làm cũ đầu tư công gây thất thoát lãng phí, rơi vào tay doanh nghiệp nước ngoài, mà trong khi một số doanh nghiệp với điều kiện của họ không đáng được hưởng tại Việt Nam.

Ngay như trong hoạt động mua bán và sáp nhập, vấn đề không phải bán được hay không mà phải là bán cho ai, có lợi hay không... Nhà nước có quyền đưa ra những bộ lọc, trước đây như thế này giờ đây không như thế nữa... những dự án năng lượng tái tạo không nên để rơi hết vào tay nhà đầu tư nước ngoài.

 

11.40

Ông Thắng cho ý kiến thêm về việc có nên có những gói kích cầu, mời gọi đầu tư nước ngoài như các nước đang thực hiện hay không? Nếu có, cách làm nào cho hiệu quả?

Ông Phan Hữu Thắng: Bên cạnh đầu tư công, xúc tiến đầu tư tại chỗ cũng quan trọng. Vốn đăng ký đầu tư chưa giải ngân là 363 tỉ đô la Mỹ, nhưng thực hiện được có 209 tỉ đô la còn 154 tỉ đo la đã dăng ký rồi nhưng chưa giải ngân được. Trong khi chúng ta xúc tiến đầu tư đang gặp khó khăn thì chính những nhà đầu tư đang làm dở dang, đã được cấp giấy phép rồi thì chúng ta nên tạo điều kiện cho họ tiếp tục hoạt động, gỡ vướng về mặt bằng, hay chính sách… để họ bỏ vốn ra làm tiếp. Năm ngoái, tổng vốn đầu tư nước ngoài giải ngân chiếm 24,3%, năm nay chỉ cần thêm 1-2%, giải ngân khoảng vài tỉ đô la sẽ giúp tăng trưởng của Việt Nam tăng thêm 1%.

Chúng ta phải xúc tiến đầu tư tại chỗ. Tổ chức khảo sát tình hình các nhà đầu tư đã được cấp giấy phép hiện tại ra sao, vướng gì và chưa giải ngân được.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Tôi muốn bổ sung thêm ý kiến: không chỉ đẩy mạnh xúc tiến đầu tư nước ngoài tại chỗ mà cần thu hút cả nhà đầu tư trong nước. Tôi từng nghe thấy chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài nhưng chưa nghe thấy các ưu đãi thu hút đầu tư trong nước.

Tại sao lấy lý do chưa có quy định để làm, chúng ta làm ra quy định mà. Rất nhiều nước không có quy định sẵn, Anh, Mỹ, EU đều không có quy định. Họ đều đưa ra các quy định mới trước đây lĩnh vực này được đầu tư thì giờ đây phải có sự chấp thuận của chính quyền.

Đúng là tài sản của tư nhân, là quyền kinh doanh của họ, nhưng tài sản tư nhân và quyền tự do kinh doanh đứng sau lợi ích quốc gia. Các nước đang có công cụ mới, ứng phó với môi trường kinh doanh mới. Theo tôi, doanh nghiệp họ cần sự hỗ trợ về cơ chế nhiều hơn, hỗ trợ từ cơ chế tốt hơn nhiều so với hỗ trợ bằng tiền.

 

11:45

Câu hỏi của khán giả: Việt Nam cần làm gì khi nhiều doanh nghiệp Mỹ chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất, điều này ảnh hưởng tích cực thế nào? Thực tế không phải đến lúc này các chuỗi cung ứng toàn cầu mới chọn Việt Nam mà họ đã từng đặt ra vấn đề này nhiều lần nhưng Việt Nam chưa tận dụng cơ hội để từng bước nâng cấp mình lên, vì sao? Liệu lần này có khác hơn hay không?
Bà Lan trả lời

Bà Phạm Chi Lan: Cụm từ được đề cập nhiều gần đây là "cơ hội vàng", nhưng theo tôi cơ hội vàng đến từ tùy nơi, tùy lĩnh vực... nếu không ẩn thận vàng sẽ có lẫn đất sét. Cơ hội không dành riêng cho Việt Nam, mà còn cả cho Ấn Độ, Indonesia... Các nước dành ưu tiên và mục tiêu rõ ràng, còn Việt Nam vẫn đang đi theo chiến lược có nhiều mũi nhọn,đây cũng là nguyên nhân Việt Nam bỏ lỡ nhiều cơ hội. Nhìn lại vì sao ta bỏ lỡ cơ hội, tôi cho rằng một phần là do vẫn còn tình trạng hô khẩu hiệu mà không chịu đánh giá thực lực và có sự nghiên cứu, phân tích xem cần phải làm gì để thay đổi tình trạng và nắm bắt cơ hội. Trước ta coi mình là cô gái đẹp, giờ cô gái đã già rồi...

Chúng ta háo hức nói về công nghệ 4.0. Nhưng thực tế ta làm rất ít để tận dụng cơ hội từ cuộc cách mạng 4.0. Khát vọng và mong đợi của người thiết kế cơ chế nó không giống với khát vọng cơ chế của doanh nghiệp. Đưa ra chính sách hay nhưng hành động thực thi chính sách kém thì không hiệu quả. Cần có chế tài, kỷ cương áp vào cả người dân, doanh nghiệp và nhà nước. Phải có chế tài nghiêm thì doanh nghiệp mới làm được. Chính sách không nên cố kiểm soát doanh nghiệp hơn là tạo thuận lợi. Trong khi thế giới đã khác, rất phát triển nhưng Việt Nam vẫn đang loay hoay tháo gỡ rào cản, khó khăn...

Mừng là dịch Covid-19 vừa qua với những gì xảy ra tại Việt Nam cho thấy bài học tốt. Khi chúng ta chọn một mục tiêu và ưu tiên cao nhất để tập trung làm sẽ làm được. Một bộ máy điều hành cương quyết, các bộ ngành phối hợp tốt, người đứng đầu hiểu việc và áp dụng những cái tiến bộ vào xử lý tình thế khó khăn đã cho kết quả tích cực. Nhưng làm sao nuôi dưỡng được tinh thần đó trong thời gian tới là điều đáng quan tâm.

Chính sách thời gian qua rõ ràng, Chính phủ cần minh bạch, cập nhật thông tin thường xuyên, thông suốt. Nếu làm được theo cách ta đã làm trong phòng chống dịch thì sẽ phát triển tốt.

 

11:50

Covid -19 tác động thế nào đến dệt may và chuỗi cung ứng?

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Dệt may là ngành mũi nhọn với thị trường xuất khẩu là Mỹ, châu Âu... Covid-19 làm cho dệt may bị ảnh hưởng lớn. Lúc đầu dịch bệnh bùng phát tại Trung Quốc đã gây ảnh hưởng đến đầu vào, nguyên liệu cho ngành này. Sau đó Mỹ, châu Âu bùng phát dịch bệnh thì ngành dệt may bị ảnh hưởng về cầu. Thời gian sắp tới cầu vẫn tiếp tục bị ảnh hưởng. Sau dịch bệnh, người tiêu dùng giảm nhu cầu sử dụng đồ may mặc mới, cắt giảm những sản phẩm không thân thiện với môi trường... nên ngành may mặc sẽ còn khó khăn.

Xuất khẩu dệt may của Việt Nam đứng thứ 2-3 của thế giới nhưng cách hạng 1 là Trung Quốc rất xa. Thời gian tới chắc chắn thị trường sẽ khó khăn, nhưng cũng có cơ hội để tận dụng ưu đãi thuế quan trong các hiệp định.

Khó khăn cần phải khắc phục đó là vấn đề cốt lõi của cầu, cần tận dụng ưu đãi thuế quan để cạnh tranh về giá. Tuy nhiên, nhu cầu của thế giới đã thay đổi. Họ có nhu cầu những mặt hàng may mặc chất lượng tốt và không gây hại cho môi trường. Do đó, nhà sản xuất cần gia tăng giá trị thực cho sản phẩm.

Kim ngạch xuất khẩu sẽ không được như cũ. Mặc dù khó khăn nhưng vẫn có đường ra, nếu doanh nghiệp quyết liệt làm, có giải pháp vẫn phát triển dược. Doanh nghiệp dệt may lớn đã bắt đầu làm từ khâu thiết kế, phát triển những nguyên liệu vải có tại Việt Nam... Trước ta làm mỗi được may, giờ ta làm được cả sợi và xuất khẩu. Còn khâu dệt nhuộm ta không làm được. Nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư vào mảng dệt nhuộm nhưng nhiều địa phương không muốn nhận vì sợ ô nhiễm trong khi ngành này hiện gần đây công nghệ đã hiện đại hơn... Ngân hàng cũng e ngại cho ngành này vay vốn. Việc tiếp cận vốn, đầu tư cho ngành dệt nhuộm khó... cần chính sách tổng thể từ nhà nước, thuế, đất đai, môi trường, vốn... để phát triển ngành này.

 

11:55

Những lời khuyên của các chuyên gia đối với doanh nghiệp Việt trong việc chuẩn bị hành trang để phát triển trong trạng thái “bình thường mới”?

Bà Nguyễn Thị Thu Trang: Bên cạnh việc lựa chọn mục tiêu rõ ràng, minh bạch, cách thức rõ ràng, thì tôi muốn nói cơ hội không tự nhiên đến, và Việt Nam phải có kế hoạch rõ ràng để thu hút đầu tư nước ngoài và đầu tư công. Đó là đầu tư cho những cái nhà đầu tư nước ngoài quan tâm như cơ sở hạ tầng, ví dụ như đường vào cảng phải đồng bộ hay đầu tư cho nhân lực, đào tạo chuyên môn. Muốn thu hút phải có giải pháp đầu tư cho các dự án thu hút đầu tư, có chính sách giảm thuế, đó là khoản đầu tư của nhà nước, để các khoản đầu tư có chất lượng, tương xứng với khoản  đầu tư bỏ ra ban đầu.

Trong lúc chờ chính sách thay đổi thì doanh nghiệp phải làm gì?

Bà Phạm Chi Lan: Theo quan sát tôi thấy, ở phía Nam các doanh nghiệp đã chuẩn bị cho đường đua mới, họ thấy rằng nếu phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường đầu vào/đầu ra sẽ thành vấn nạn cho mình, nên họ tìm mọi cách để chuyển động. Các doanh nghiệp cần phải tăng nội lực.

Chỉ mình doanh nghiệp không thôi rất khó để làm, nhưng hiệp hội thì có thể. Các hiệp hội nên cùng nhau bỏ ra một khoản đầu tư cho hoạt động nghiên cứu tương lai sẽ như thế nào, thói quen của người tiêu dùng sẽ thay đổi rất nhiều, nên xem lại nghiên cứu để xem nên đi về đâu và cái gì sẽ là xu hướng trong tương lai? thị trường lớn, thị trường ngách, cách thức kinh doanh như thế nào? Cần nghiên cứu định hình lại trong tương lai như thế nào.

Cần nhớ rằng thị trường rất khó để hồi phục như cũ, và sẽ là hồi phục trong giai đoạn bình thường mới. Bình thường mới cũng có những bất thuường mới. Do đó, cần nghiên cứu lo cho việc đó.

Các doanh nghiệp cần ngồi lại với nhau, bàn lại trong phạm vi hiệp hội để xem chúng ta có thể cùng nhau làm gì, đừng trông chờ vào nhà nước. Trên cơ sở yêu cầu của mình, cần đề xuất chính sách cần thiết, cần xem mình làm gì, làm cái gì cần thiết trong tương lai. Cần lo cho dài hạn, đầu tư dài hạn chứ không ngắn hạn.

Với đối tác nước ngoài thì nên xem xét đầu tư với ai, chọn ai trong khi bao nhiêu cửa đang mở ra cho mình như các hiệp định thương mại. Với Mỹ thì chí ít hai bên đã cùng nhau đàm phán TPP, làm cơ sở cho hợp tác trong tương lai

Tôi chờ đợi sự chủ động của doanh nghiệp, đừng chờ nhà nước đi chào mời vốn đầu tư, bản thân doanh nghiệp nên chủ động chào mời, thuyết phục nhà đầu tư vào để làm cùng với họ. Tôi tin ngôn ngữ chung của doanh nghiệp khi đối thoại cùng nhau sẽ dễ dàng hơn so với khi đối thoại với nhà nước. Tôi mong doanh nghiệp nên theo tinh thần như vậy không chỉ cứu mình, nâng mình lên, tạo bước ngoặt cho nền kinh tế.

 

12:00

Kết thúc

In bài
Gửi bài cho bạn bè
PHẢN CHIẾU
Doanh nghiệp quay trở lại đường đua hậu Covid-19
(TBKTSG Online) - Các chuyên gia kinh tế hàng đầu Việt Nam nói gì về câu chuyện doanh nghiệp tận dụng các hiệp định thương mại, cách thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài hiệu quả trong xu hướng các nước lớn đang định vị lại chuỗi cung ứng toàn cầu, những vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý khi Việt Nam bước sang trạng thái “bình thường mới” hậu Covid-19.
Top
 
Giấy phép Báo điện tử số: 2302/GP-BTTTT, cấp ngày 29/11/2012
Tổng biên tập: Trần Minh Hùng.
Phó tổng biên tập phụ trách online: Phan Chiến Thắng.
Phó thư ký tòa soạn: Yến Dung, Minh Châu.
Tòa soạn: 35 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, TP.HCM. ĐT:(8428)3829 5936; Fax:(8428)3829 4294; Email: online@kinhtesaigon.vn
Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền nội dung của trang web thesaigontimes.vn. Không sử dụng lại nội dung trên trang này dưới mọi hình thức, trừ khi được Thời báo Kinh tế Sài Gòn đồng ý bằng văn bản.
Trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online không chịu trách nhiệm nội dung trang ngoài.
Bản quyền thuộc về SaigonTimesGroup.